PHÁP LUẬT về bảo vệ QUYỀN lợi NGƢỜI TIÊU DÙNG và THỰC TIỄN THI HÀNH tại TỈNH LẠNG sơn - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN BẢO NGỌC

ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN BẢO NGỌC

ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI
NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH LẠNG SƠN


: Ủy ban nhân dân

VSATTP

: Vệ sinh an toàn thực phẩm


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG ............................................................. 6
1.1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng................................. 6
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng ............................................................ 6
1.1.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và sự cần thiết phải bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng ................................................................................ 8
1.2. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ............... 9
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ........................................................................................................... 9
1.2.2. Vai trò của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ............ 11
1.2.3. Nguồn của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ............ 13
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 20
Chƣơng 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI
TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH LẠNG SƠN ..... 22
2.1. Thực trạng pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ................ 22
2.1.1. Các nguyên tắc trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .............. 23
2.1.2. Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng .................................... 23
2.1.3. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh ......................... 25
2.1.4. Trách nhiệm của các tổ chức xã hội ........................................... 28
2.1.5. Trách nhiệm của Nhà nước......................................................... 29
2.1.6. Các hành vi bị cấm trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo vệ quyền con người trong đó có quyền của người tiêu dùng là mục
tiêu của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,
do dân, vì dân ở nước ta. Tuy nhiên, hiện nay khi nền kinh tế thị trường càng
phát triển thì càng làm nảy sinh nhiều vấn đề liên quan đến người tiêu dùng.
Với chính sách hội nhập kinh tế quốc tế và xu thế toàn cầu hóa thế giới, bên
cạnh việc tạo nhiều cơ hội trong tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ có
chất lượng và giá cả thích hợp, cũng đặt người tiêu dùng Việt Nam trước
nguy cơ mới. Thị trường ngày càng xuất hiện nhiều hành vi gây ảnh hưởng
đến quyền lợi của người tiêu dùng như buôn bán hàng giả, hàng nhái, hàng
kém chất lượng, sản xuất và kinh doanh thực phẩm không đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm. Hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng ngày càng
tinh vi và phức tạp, với phạm vi rộng không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu
dùng, mà còn tác động tiêu cực đối với sự phát triển ổn định, bền vững của
nền kinh tế - xã hội. Chính vì vậy, hiện nay bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
là vấn đề mang tính thời sự, nhận được nhiều sự quan tâm của xã hội.
Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới phía Bắc Việt Nam, có đường
biên giới tiếp giáp với Trung Quốc trên 231 km, có 02 cửa khẩu quốc tế, 01 cửa
khẩu chính, 08 cửa khẩu phụ, 01 điểm thông quan hàng hóa và rất nhiều đường
mòn, lối mở qua lại dọc theo biên giới của cư dân các địa phương hai nước. Cơ
sở vật chất kỹ thuật nghèo nàn lạc hậu, trình độ sản xuất của Lạng Sơn so với
các tỉnh thành trong cả nước còn thấp kém nhiều mặt. Với xu thế hoà nhập
vào nền kinh tế khu vực và thế giới, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
chống buôn lậu và gian lận thương mại qua biên giới,... có ý nghĩa to lớn

trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này. Tại Việt Nam, trong những năm gần
đây, vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được quan tâm rộng rãi nên đã
có những công trình khoa học, đề tài các cấp, luận án, luận văn, các bài viết
tạp chí có nội dung liên quan đến nội dung này, như: “Pháp luật bảo vệ người
tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học của Bùi Thị Long,
năm 2007; “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở việt
nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ luật học của Nguyễn Thị Thư, Học viện Khoa
học xã hội năm 2013; “Trách nhiệm của thương nhân trong việc bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ luật học
của Nguyễn Thị Thu Hiền, năm 2014; “Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng của hệ thống các cơ quan nhà nước tại Việt Nam”, Luận văn


3

Thạc sĩ luật học của Nguyễn Hoàng Mỹ Linh, năm 2014; "Nhận diện thiết chế
thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và vai trò của những thiết
chế này trong việc bảo vệ người tiêu dùng" của tác giả Nguyễn Văn Cương,
Chuyên đề Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Hà Nội, 2014; “Luật Bảo
vệ người tiêu dùng trong hệ thống pháp luật ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn
Như Phát, Kỷ yếu Hội thảo Pháp ngữ khu vực: "Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng: Từ hai góc nhìn Á - Âu", Hà Nội, 2010, tr. 10-18; “Trách nhiệm sản
phẩm và việc bảo vệ người tiêu dùng trong pháp luật Việt Nam” của tác giả
Lê Hồng Hạnh; Kỷ yếu Hội thảo Pháp ngữ khu vực “Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng: Từ hai góc nhìn Á - Âu”, Hà Nội, 2010, tr. 72-92; Ngô Vĩnh Bạch
Dương, “Các tiêu chí xác định năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của
các thiết chế đó”, Chuyên đề Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư
pháp, năm 2014… Ngoài ra, còn có các bài viết như: “Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng trong pháp luật cạnh tranh” của ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương, Tạp

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn đặt ra là trên cơ sở những vấn đề lý
luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam, đánh giá thực
tiễn thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại tỉnh Lạng Sơn, từ
đó, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong giai đoạn hiện
nay.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn đặt ra các nhiệm
vụ nghiên cứu cụ thể như sau:
Thứ nhất, làm sáng tỏ vấn đề lý luận về người tiêu dùng, sự cần thiết
phải bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và tổng quan về pháp luật bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng (bao gồm khái niệm, đặc điểm, nội dung pháp luật).
Thứ hai, trên cơ sở những vấn đề lý luận chung, luận văn tập trung
phân tích, đánh giá, nhận xét về thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng tại tỉnh Lạng Sơn, nêu rõ những thành tựu, những hạn chế,
bất cập và nguyên nhân của những bất cập đó dựa trên tình hình thực tế của
địa phương.
Thứ ba, đề xuất được các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật,
nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ thực
tiễn tỉnh Lạng Sơn.


5

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm,
chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về phát triển nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về thực hiện quyền con người nói chung
và quyền của NTD nói riêng.
Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu cụ thể, luận văn có sử dụng một số

QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
1.1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Người tiêu dùng (consumer) là khái niệm rộng được hiểu dưới nhiều
góc độ khác nhau. Dưới góc độ kinh tế, NTD là phạm trù chỉ những chủ thể
tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế. NTD là người mua nhưng khác
với mua nguyên liệu (materials) hoặc mua hàng để bán lại, họ là những người
sử dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng (consumer goods/services hoặc final
goods/services) và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất qua việc sử dụng đó1.
Có thể nói, trong mọi nền sản xuất của tất cả các quốc gia, NTD là đối tượng
được hướng tới của mọi doanh nghiệp. NTD quyết định nhóm ngành, hàng
được sản xuất, định hướng đầu tư và phát triển cho các doanh nghiệp trong thị
trường. Dưới góc độ pháp lý, NTD là đối tượng được bảo vệ theo pháp luật về
BVQLNTD.
NTD là khái niệm cơ bản và rất quan trọng, là chủ thể của quan hệ
pháp luật BVQLNTD, là đối tượng trọng tâm được bảo vệ của pháp luật
BVQLNTD, vì vậy, nội hàm của khái niệm này cần được xác định một cách
rõ ràng, chính xác làm cơ sở cho việc quy định các nội dung liên quan khác
trong pháp luật BVQLNTD. Đặc biệt, xuất phát từ đặc điểm của pháp luật
BVQLNTD là thiết lập các ngoại lệ so với những nguyên tắc dân luật truyền
thống nhằm khắc phục những bất lợi của NTD trong quan hệ với nhà cung
cấp hàng hóa, dịch vụ, tạo sự công bằng và bảo vệ kẻ yếu. Chính vì vậy, NTD
là kẻ yếu, cần được pháp luật bảo vệ.
Xuất phát từ yêu cầu nói trên, việc xác định các đối tượng nào được gọi
là NTD là một vấn đề hết sức quan trọng, tránh sự lạm dụng của những kẻ
“không yếu” giành lợi thế bất chính với bên kia dưới danh nghĩa NTD. Hơn
1

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.7.

định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức”3. Tuy vậy, định nghĩa
về NTD quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
2

Trường Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dung, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr.14
3
Khoản 1, Điều 3 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010


8

năm 2010 lại đưa thêm “mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của.... tổ chức” là chưa
được rõ ràng. Bởi lẽ, hoạt động tiêu dùng, sinh hoạt của tổ chức không thể xác
định được.
1.1.2. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và sự cần thiết phải bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng
NTD là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế, là động lực thúc đẩy
việc sản xuất và tiêu thụ hàng hóa. Tiêu dùng là một khâu của quá trình tái
sản xuất, có tiêu dùng mới có sản xuất, hoạt động tiêu dùng của NTD là mục
đích cuối cùng của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Chính vì vậy, quyết định tiêu dùng của NTD ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động
sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ được cung ứng trên thị trường.
Trong nền kinh tế thị trường, NTD quyết định hàng hóa, dịch vụ mà tổ
chức, cá nhân sẽ sản xuất, kinh doanh vì NTD góp phần quyết định giá cả, số
lượng, chất lượng hàng hoá. Có thể nói, NTD có ảnh hưởng lớn đến những
quyết sách về kinh tế, dù là của khu vực nhà nước hay của khu vực tư nhân,
NTD tạo ra nền kinh tế thị trường và quyết định sự phát triển của nó. Tuy
nhiên, đây là mối quan hệ hai mặt của một vấn đề, nên NTD cũng bị ảnh

đại trong việc bảo vệ và phát triển các giá trị nhân quyền, nhân văn.
Để phát triển kinh tế bền vững, bất kì Nhà nước nào cũng đều phải
quan tâm bảo vệ các thành tố thị trường và NTD là nhân vật trung tâm. Bên
cạnh những hỗ trợ mang tính kĩ thuật như hướng dẫn, đào tạo, tuyên truyền,
cần thiết có một công cụ mạnh hơn đó là chính sách bảo vệ NTD để bảo đảm
cho NTD có thể dựa vào đó để tự mình bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ
trước những vi phạm, lạm dụng của các doanh nghiệp
1.2. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng
1.2.1.1. Khái niệm
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành (hoặc
thừa nhận) và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã
hội, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và ổn định
trong xã hội. Vì vậy, pháp luật BVQLNTD là tổng hợp các biện pháp được
Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện để bảo đảm quyền lợi của NTD khi
5

John F. Kenedy (2005) "Special message to the Congress on Protection Consumer Interest", in trong tuyển
tập "Public Papers of the Presidents of the United States" Office of the Federal Register, National Archives
and Records Administration, USA 2005, trích trong tài liệu: “Nguyễn Thị Thư (2013), Hoàn thiện pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dung ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Khoa học xã hội,
Hà Nội, tr. 38.


10

sử dụng dịch vụ hàng hoá; ngăn chặn những nhà sản xuất có hành vi gian lận,
lừa dối để thu lợi bất chính. Nói cách khác, bảo vệ NTD là ghi nhận và làm
cho các lợi ích chính đáng của NTD được thực hiện trên thực tế. Tuy nhiên


Thứ hai, xác định trách nhiệm sản phẩm một cách nghiêm khắc và mở
rộng về chủ thể chịu trách nhiệm. Theo đó những người chịu trách nhiệm đối
vối khuyết tật của sản phẩm tiêu dùng có thể không phải là người gây ra
khuyết tật đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay
NTD. Hầu hết các nước trên thế giới đều có luật trách nhiệm sản phẩm nằm
trong hoặc độc lập với luật bảo vệ người tiêu dùng. Chẳng hạn ở Thái Lan,
Luật trách nhiệm sản phẩm được ban hành 2008 trong khi Luật bảo vệ người
tiêu dùng của họ có từ năm 1979. Ở Anh, luật trách nhiệm sản phẩm được biết
đến sớm hơn luật bảo vệ người tiêu dùng. Án lệ Donoghue kiện Stevennson
năm 1932 được coi là mốc quan trọng của quy định về trách nhiệm sản phẩm
thì tới tận những năm 1970, họ mới có các quy định riêng về bảo vệ người
tiêu dùng như Sale of Goods Act 1979 (luật bán hàng), Unfair Contract Terms
Act 1977 (Luật về các điều khoản không công bằng) và đến Consumer
Protection Act 1987 (Luật bảo vệ người tiêu dùng) thì trách nhiệm sản phẩm
được quy định chung với luật bảo vệ người tiêu dùng theo hướng dẫn của chỉ
thị 85/374/EEC năm 1985 của Hội đồng Châu Âu về trách nhiệm sản phẩm.
Ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được quy định trong Luật
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
Thứ ba, thiết lập những ngoại lệ so với những nguyên tắc tố tụng dân
sự truyền thống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho NTD tham gia giải quyết
tranh chấp liên quan đến việc quyền lợi của mình bị vi phạm. Đây là những
ngoại lệ về điều kiện hình thức khi khởi kiện hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ chứng
minh. Chẳng hạn như khởi kiện tập thể (class action ở Hoa Kỳ, Sammelklage
ở Đức) hoặc đảo nghĩa vụ chứng minh (Beweislastumkehr – Đức). Theo Luật
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam, NTD cũng được
giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh, họ chỉ phải chứng minh sự thiệt hại còn nhà
cung cấp hàng hóa, dịch vụ sẽ phải chứng minh về việc không tồn tại mối
quan hệ nhân quả giữa hành vi sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ với
những thiệt hại của NTD hay chứng minh mình không có lỗi.

hành vi vi phạm, phòng ngừa thiệt hại, giảm thiểu vi phạm; (iii) Xây dựng
một hệ thống pháp lý bao gồm các quy phạm pháp luật mang tính tiêu chuẩn
nhằm ngăn chặn, phòng ngừa và cả các quy phạm quy định trách nhiệm pháp
lý đối với thiệt hại sau khi xảy ra hành vi vi phạm.
Nhìn chung, mô hình (i) và (ii) đều có những nhược điểm nhất định.
Với mô hình (i) khả năng phòng ngừa các hành vi vi phạm không cao, hậu
quả của hành vi vi phạm rất lớn, gây tốn kém và thiệt hại nặng nề cho xã hội.


13

Đặc biệt là các bên liên quan có thể không đủ khả năng bồi thường thiệt hại,
hoặc cơ quan phân xử không thể buộc tội họ do bằng chứng không thuyết
phục hoặc các thủ tục pháp lý phức tạp. Trái lại, với mô hình (ii) cần phải quy
định hệ thống tiêu chuẩn và đảm bảo thực thi. Nhưng khó có thể làm được
điều này, do các cơ quan chức năng không có đủ thông tin về các hành vi vi
phạm quy định của các doanh nghiệp, cũng như chi phí thực thi cao, v.v.. Tuy
nhiên, nếu sử dụng mô hình (iii) có thể kết hợp được ưu điểm và khắc phục
nhược điểm của mô hình (i) và (ii), hệ thống pháp lý này bảo vệ NTD tối ưu
hơn, có tính chất phòng ngừa các hành vi vi phạm và giảm thiểu tối đa nguy
cơ thiệt hại cho NTD, đồng thời bù đắp được lợi ích đã mất của NTD.
1.2.3. Nguồn của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật về BVQLNTD xuất hiện khá muộn ở Việt Nam do chúng ta
triển khai xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần tương đối muộn.
Từ năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, xóa bỏ bao
cấp và từng bước chuyển dịch sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự thay
đổi này đã khuyến khích các thành phần kinh tế tự chủ trong sản xuất, kinh
doanh được mở rộng và đa dạng hóa các loại hàng hóa, dịch vụ, hội nhập kinh
tế thế giới… đã tạo cho người mua có điều kiện tốt hơn trong việc lựa chọn,

Pháp lệnh BVQLNTD. Theo quy định của Nghị định này các tổ chức, cá nhân
sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm (Điều 4): Bảo đảm
cung cấp hàng hóa, dịch vụ để NTD tự do lựa chọn; tạo điều kiện để NTD
thực hiện việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ với chất lượng đảm bảo, giá cả
phù hợp và có các biện pháp bảo hành, sửa chữa theo quy định; công bố tiêu
chuẩn chất lượng và bảo đảm đúng tiêu chuẩn, chất lượng đã công bố đối với
hàng hóa thuộc danh mục phải công bố phù hợp tiêu chuẩn (thực hiện quy
định về ghi nhãn hàng hóa, kiểm tra vệ sinh an toàn, chất lượng; cân đong, đo
đếm chính xác); cung cấp các thông tin chính xác, trung thực về xuất xứ, nhãn
hiệu hàng hóa, nơi sản xuất, công dụng, đặc tính, tiêu chuẩn, cấp hàng, các
thành phần chính, ngày sản xuất, chứng chỉ đã được kiểm tra, kiểm soát về
chất lượng; hướng dẫn sử dụng, bảo quản hàng hóa; niêm yết giá...; cung cấp
hàng hóa, dịch vụ đảm bảo an toàn, không gây ảnh hướng xấu đến môi
trường, sức khỏe của NTD (đối với hàng hóa, dịch vụ khi sử dụng có thể gây
tác hại về sức khỏe, ảnh hưởng xấu đến môi trường thì tổ chức, cá nhân sản
xuất phải cảnh báo trước cho NTD và các biện pháp phòng tránh tác hại có
thể xảy ra).


15

Sau 7 năm thực hiện Nghị định số 69/2001/NĐ-CP, tình hình kinh tế,
xã hội đã có nhiều thay đổi, đặc biệt Việt Nam đã trở thành thành viên chính
thức thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) từ ngày 11/01/2007,
NTD có cơ hội được sử dụng nhiều hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từ nước
ngoài vào, có quyền được tự do lựa chọn hàng hóa, lựa chọn dịch vụ phù hợp
với nhu cầu chất lượng và đáp ứng điều kiện kinh tế của mình. Tuy nhiên,
NTD cũng phải đối mặt với hiện tượng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất
lượng, nhiễu loạn thông tin, tăng giá bất hợp lý... diễn ra rất nhanh và ngày
càng phổ biến trên thị trường. Do vậy, ngày 24/4/2008, Chính phủ đã ban

nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một
cách thiện chí, trung thực. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ
dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng,
quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 3). Trong quan hệ giữa nhà
sản xuất, cung cấp dịch vụ với người mua phải thực hiện nghĩa vụ của mình
dựa trên những nguyên tắc trên. Người bán phải nói rõ cho người mua biết về
đặc tính, công dụng của sản phẩm, dịch vụ; không được che dấu khuyết điểm
của hàng hóa, tác dụng phụ xảy ra khi sử dụng sản phẩm, dịch vụ; nếu người
bán che giấu khuyết tật của hàng hóa, cung cấp sản phẩm không đảm bảo chất
lượng, gian dối trong cân, đong, đo, đếm... nhằm mục đích tư lợi mà gây thiệt
hại cho người mua thì phải bồi thường. Đặc biệt là các quy định về hợp đồng
mua bán tài sản, bên bán phải chịu trách nhiệm giao sản phẩm đúng đối
tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại. Ngoài ra, bên bán còn phải thực hiện
các nghĩa vụ như: Cung cấp thông tin và hướng dẫn cách sử dụng; đảm bảo
quyền sở hữu của bên mua đối với tài sản mua; bảo hành đối với tài sản đã
bán trong một thời gian nhất định… Cá nhân, pháp nhân, chủ thể sản xuất,
kinh doanh không bảo đảm chất lượng hàng hoá mà gây thiệt hại cho người
mua thì phải bồi thường theo quy định của Bộ luật Dân sự về bồi thường thiệt
hại do vi phạm quyền lợi của người mua. Bộ luật Dân sự cũng có những quy
định về hợp đồng theo mẫu, theo đó quy định việc giải thích hợp đồng theo
hướng bất lợi cho bên được soạn thảo hợp đồng đối với những điều khoản
không rõ ràng và không công nhận các điều khoản hợp đồng loại trừ trách
nhiệm của bên soạn thảo.
- Luật Cạnh tranh: Luật Cạnh tranh cũng là một công cụ pháp lý quan
trọng để bảo vệ NTD. Một trong những mục tiêu quan trọng của Luật Cạnh
tranh là chống lại các tác động tiêu cực của các hành vi hạn chế cạnh tranh và


17


thuật quy định đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và quy


18

chuẩn kỹ thuật là sản phẩm, hàng hóa; dịch vụ, quá trình; môi trường và đối
tượng khác. Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phải đáp ứng yêu cầu về an
toàn, an ninh quốc gia, vệ sinh, sức khỏe con người, quyền và lợi ích hợp
pháp của các bên có liên quan, bảo vệ động thực vật, môi trường và sử dụng
hợp lý tài nguyên thiên nhiên.
- Luật Đo lường: Luật Đo lường được ban hành nhằm đảm bảo việc
đo lường được thống nhất, chính xác; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
NTD. Luật quy định cụ thể về hệ thống chuẩn đo lường quốc gia, chuẩn đo
lường chính, chuẩn đo lường công tác và yêu cầu cơ bản đối với từng chuẩn
đo lường đó. Tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh phương tiện đo, chuẩn đo
lường sẽ lựa chọn tổ chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo,
chuẩn đo lường phù hợp để thực hiện biện pháp kiểm soát về đo lường đối với
phương tiện đo, yêu cầu về đo lường đối với chuẩn đo lường theo quy định;
đồng thời, khiếu nại kết quả kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện
đo, chuẩn đo lường; khởi kiện hành vi vi phạm hợp đồng đã giao kết với tổ
chức kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm phương tiện đo, chuẩn đo lường;
khiếu nại, khởi kiện hành vi hành chính của cá nhân, cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
- Luật An toàn thực phẩm: Luật An toàn thực phẩm quy định về quyền
và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện
bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập
khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm
thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn
chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm… Tổ chức, cá nhân sản xuất,
kinh doanh thực phẩm vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm thì tùy theo

hoạt động thương mại, theo đó, các thương nhân khi tiến hành các hoạt động
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương mại... phải tuân thủ một
trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại, đó là “nguyên tắc
bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng”. Theo quy định này, thương
nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực
cho NTD về hàng hóa và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách
nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó; thương nhân thực hiện hoạt
động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng
hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh.
- Bộ luật Hình sự: Bộ luật Hình sự cũng có những quy định quan trọng
trong việc trừng trị các hành vi xâm phạm quyền lợi NTD ở mức độ gây nguy



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status