BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MAI NGUYỄN PHƢƠNG DUNG
VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
MAI NGUYỄN PHƢƠNG DUNG
VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 6038107
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ
NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG
VIỆC BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM .............................................................................................................. 6
1.1. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và vai trò các
thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .......................... 6
1.1.1. Khái quát pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .................. 6
1.1.2. Vai trò của các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp
luật Việt Nam............................................................................................... 12
1.2. Hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ở Việt Nam ............................................................................................. 24
1.2.1. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở
trung ương ................................................................................................... 24
1.2.2. Cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở địa
phương......................................................................................................... 27
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
TẠI TỈNH SƠN LA .............................................................................................. 32
2.1. Giới thiệu những đặc thù trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở
tỉnh Sơn La ...................................................................................................... 32
2.2. Cơ sở pháp lý và trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước
về bảo vệ người tiêu dùng tại Sơn La ............................................................. 34
2.2.1. Trách nhiệm, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân các cấp ................... 34
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 68
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang trong quá hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và mở cửa
thị trường, vì vậy người tiêu dùng ngày càng có thêm nhiều cơ hội lựa chọn
hàng hóa và dịch vụ nhưng đồng thời cũng đối mặt với nhiều rủi ro từ nguy
cơ sử dụng hàng hóa, dịch vụ thiếu an toàn, không đạt tiêu chuẩn, đặc biệt là
thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm. Ngày càng có thêm nhiều vụ việc vi phạm
quyền lợi người tiêu dùng bị phát hiện. Tính riêng trên địa bàn tỉnh Sơn La,
trong năm 2015 lực lượng quản lý thị trường đã tiến hành xử phạt vi phạm
1.053 vụ liên quan đến các lĩnh vực hàng không rõ nguồn gốc, hàng giả, hàng
kém chất lượng và gian lận thương mại với tổng giá trị thu phạt là trên 5,4 tỷ
đồng1. Hiện trạng đó cho thấy, quyền lợi của người tiêu dùng Việt Nam nói
chung và người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng đang bị xâm
phạm nghiêm trọng. Tuy vậy, nhiều người tiêu dùng hiện nay chưa biết đến
các quyền và nghĩa vụ của mình nên khi quyền lợi bị xâm phạm họ không biết
cách để tự bảo vệ mình. Đối với các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa
dịch vụ, trong nhiều trường hợp đã vì mục tiêu lợi nhuận mà bỏ qua nghĩa vụ
tuân thủ pháp luật và trách nhiệm xã hội của mình.
Trong bối cảnh đó, sự hiện diện của chính sách pháp luật về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng nói chung và hệ thống các quy định của pháp luật
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói riêng, với ý nghĩa là rào chắn an toàn
cho những thỏa thuận không công bằng hoặc sự áp đảo của một bên là vô
cùng quan trọng và cần thiết. Về lâu dài, việc thực thi những quy định pháp
luật nói trên không chỉ mang lại lợi ích cho cộng đồng người tiêu dùng, tức là
thi hành mới ra đời và có hiệu lực trong một thời gian ngắn, vì vậy việc
nghiên cứu vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng tại Việt Nam nói chung và Sơn La nói riêng chưa được quan tâm
một cách thỏa đáng. Quá trình tìm hiểu tình hình nghiên cứu của đề tài“Vai
trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và
thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La”, em nhận thấy hiện đã có một số công
trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nêu trên, đó là:
- Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng ở Việt Nam, đề tài khoa học cấp bộ của Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp do PGS.TS Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm đề tài năm 2014.
- Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, đề tài khoa học cấp bộ/ Bộ Tư pháp, Viện
Khoa học pháp lý do Đinh Thị Mai Phương làm chủ nhiệm đề tài năm 2008.
3
- Thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của hệ thống các
cơ quan nhà nước tại Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học của học viên
Nguyễn Hoàng Mỹ Linh, do TS. Phan Chí Hiếu hướng dẫn năm 2014;
- Trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng,
bài viết trên Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội, số 12/2008 của
tác giả Nguyễn Đức Minh.
Có thể thấy, các bài viết nêu trên đã nghiên cứu một số khía cạnh liên
quan về vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng tại Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu cụ thể về vai trò của thiết chế này
trong thực tiễn thi hành pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại tỉnh
Sơn La thì đến thời điểm hiện tại chưa có công trình nào đề cập tới. Vì vậy,
có thể khẳng định, đề tài “Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La” là một đề tài
có tính mới, mang tính ứng dụng.
nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Sơn La trong việc bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng.
+ Đề ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế trong hoạt động
của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Sơn La,
qua đó nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước về
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Sơn La.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn cần nghiên cứu và trả lời các câu hỏi:
- Vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi được ghi
nhận trong pháp luật Việt Nam như thế nào?
- Theo pháp luật hiện hành, cơ quan nào giữ vai trò là cơ quan quản lý
nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại tỉnh Sơn La?
- Thực tiễn việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
theo quy định của pháp luật Việt Nam của cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Sơn
La như thế nào? Cơ quan này đã thực hiện được vai trò của mình trong công tác
bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Sơn La chưa?
- Có những giải pháp nào nhằm nâng cao hơn nữa vai trò của cơ quan
quản lý nhà nước về bảo vệ người tiêu dùng tại tỉnh Sơn La?
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu,
trong khi thực hiện đề tài, em đã sử dụng một số các phương pháp nghiên cứu
khoa học sau đây:
5
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương
pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
- Phương pháp tổng hợp: Phương pháp này chủ yếu được sử dụng để
khái quát các quy định của pháp luật về vai trò của cơ quan quản lý nhà nước
6
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ VAI TRÒ CỦA CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC
VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG VIỆC
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1. Khái quát về pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng và vai
trò các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng
1.1.1. Khái quát pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là một bộ phận cấu thành của chính sách
bảo vệ quyền lợi NTD, được kết hợp đồng thời với các biện pháp tổ chức như
tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao hiểu biết và khả năng tự bảo vệ của NTD
cũng như nâng cao trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp. Tuy vậy, pháp luật
bảo vệ quyền lợi NTD với nội dung là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ
giữa NTD và các thương nhân khi NTD mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm
mục đích tiêu dùng. So với các công cụ khác trong chính sách bảo vệ quyền lợi
NTD thì pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD luôn đóng vai trò chủ đạo trong chính
sách bảo vệ NTD, bởi chỉ có pháp luật mới là chỗ dựa vững chắc và ổn định cho
đối tượng được bảo vệ. Các biện pháp không mang tính pháp lý như giáo dục, tư
vấn hay khuyến khích thường bị chi phối bởi địa vị xã hội và điều kiện kinh tế
của các nhóm lợi ích khác nhau mà trong trường hợp này là NTD và các doanh
nghiệp, sự hợp tác và cạnh tranh giữa họ sẽ thường xuyên bất bình đẳng. Khi đó,
pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD là rào chắn an toàn cho những thỏa thuận không
công bằng hoặc sự áp đảo của một bên.
Ở Việt Nam giai đoạn trước năm 1986, hầu như không có văn bản pháp
lý nào liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD. Bởi lẽ, hoàn cảnh đất nước vừa
trải qua những cuộc chiến tranh khốc liệt và một thời kì phục hồi sau chiến
tranh, trong bối cảnh đó mọi nguồn lực đều tập trung cho sự nghiệp giành độc
lập, bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước nên nhu cầu tiêu dùng của người
bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam như: định nghĩa NTD, quyền và trách
nhiệm của NTD; Hệ thống các nghĩa vụ của nhà sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ; Trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD; Cơ
chế khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm khi NTD bị xâm phạm quyền, lợi ích
hợp pháp. Có thể nói, sự ra đời của P háp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD có ý
nghĩa rất quan trọng vì đây là văn bản quy phạm pháp luật mang tính tổng
hợp đầu tiên và trực tiếp bảo vệ quyền lợi NTD. Pháp lệnh đã cụ thể hóa 8
8
quyền của NTD được Quốc tế NTD (CI) và Liên hợp Quốc công bố gồm:
quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, quyền được an toàn, quyền được
thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được khiếu nại
và bồi thường, quyền được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng, quyền được có
môi trường sống lành mạnh và bền vững.
- Nghị định 55/2008/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 24/4/2008 quy định
chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi NTD . Để hướng dẫn thi hành
Pháp lệnh bảo vệ NTD, Chính Phủ đã ban hành Nghị định số 69/2001/NĐCP của Chính Phủ ngày 02/10/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo
vệ quyền lợi NTD và sau đó Nghị định này được thay thế bởi Nghị định số
55/2008/NĐ-CP ngày 24/4/2008. Nghị định có thêm chương quy định về tổ
chức bảo vệ quyền lợi NTD. Ngoài ra nội dung các chương khác tương tự như
nội dung trong Pháp lệnh nhưng được quy định chi tiết hơn.
Sau hơn 10 năm thi hành, Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD và các văn
bản hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này đã cơ bản đi vào cuộc sống, tạo lập
hành lang pháp lý để NTD tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình,
nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và
tạo cơ sở pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng bảo vệ quyền
lợi của NTD. Tuy nhiên trong quá trình thi hành, các văn bản pháp luật này
cũng bộc lộ nhiều hạn chế như: các quy định về bảo vệ quyền lợi NTD mới
- Quyết định số 02/2012/QĐ- TTg ngày 13.01.2012 về việc ban hành
Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng kí hợp đồng theo mẫu, điều
kiện giao dịch chung.
- Quyết định số 35/2015/QĐ- TTG ngày 20.08.2015 của Thủ tướng
Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung quyết định số 02/2012/QĐ- TTg ngày
13.01.2012 về việc ban hành Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng
kí hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.
- Quyết định số 1035/QĐ- TTg ngày 10.7.2015 của Thủ tướng chính
phủ về Ngày Quyền của NTD Việt Nam.
Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành
Luật đã quy định những vấn đề chủ yếu sau:
+ Quy định về quyền và nghĩa vụ của NTD. Luật bảo vệ quyền lợi
NTD 2010 của Việt Nam đã nêu đầy đủ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
NTD mà Quốc tế người tiêu dùng (CI) đã tuyên bố và Nghị quyết của Đại hội
đồng Liên hợp quốc số A/ RES/39/248 đã hướng dẫn.
+ Quy định về trách nhiệm của người cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho
NTD, gồm: trách nhiệm cung cấp thông tin; Trách nhiệm đối với hợp đồng
10
theo mẫu và điều kiện giao dịch chung; Trách nhiệm cung cấp bằng chứng
giao dịch; Trách nhiệm bán hàng hóa, linh kiện, phụ kiện; Trách nhiệm thu
hồi hàng hóa có khuyết tật; Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có
khuyết tật gây ra.
+ Quy định cơ chế giải quyết tranh chấp với NTD và tổ chức, cá nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ khi NTD bị xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp.
Theo đó, phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh giữa NTD và tổ chức cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài,
Tòa án. So với các văn bản pháp luật trước đây về bảo vệ quyền lợi NTD,
quyền lợi NTD thì tùy tính chất và mức độ vi phạm mà bị xử lý kỉ luật hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại
theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, nhóm các văn bản pháp luật điều chỉnh gián tiếp vấn đề bảo vệ
quyền lợi NTD.
Bên cạnh những văn bản pháp luật quy định trực tiếp việc bảo vệ quyền
lợi NTD như nêu trên, hệ thống pháp luật Việt Nam cũng đã có nhiều văn bản
pháp luật chứa đựng các quy phạm gián tiếp liên quan đến hoạt động bảo vệ
quyền lợi NTD. Các văn bản pháp luật trong nhóm này quy định những vấn
đề chủ yếu sau: (i) Ghi nhận các nguyên tắc chung về bảo vệ quyền lợi NTD
được thể hiện trong Hiến pháp 1992 (nay được thay thế bằng Hiến pháp
2013), Bộ luật Dân sự 2005 (sẽ được thay thế bằng Bộ luật Dân sự 2015, có
hiệu lực từ ngày 01.07.2017) ; (ii) Quy định chung về kiểm soát sự gia nhập
thị trường và điều tiết hoạt động trên thị trường của các thương nhân trong
Luật Doanh nghiệp 2005 (đã được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp 2014);
Luật đầu tư 2005 (hiện đã được thay thế bằng Luật đầu tư 2014) ; Luật
Thương mại 2005; Luật cạnh tranh 2004 (hiện nay là Luật Cạnh tranh 2014);
Luật tiêu chuẩn, quy chuẩn kĩ thuật 2006; Luật chất lượng sản phẩm, hàng
hóa 2007...(iii) Các quy định điều tiết ngành, kiểm soát sự gia nhập thị trường
và hoạt động trên thị trường của thương nhân trong từng chuyên ngành như y
tế, thực phẩm, giao thông, xây dựng, du lịch, ngân hàng, chứng khoán...được
quy định trong các văn bản pháp luật như: Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân
1989; Luật dược 2005; Luật kinh doanh bảo hiểm 2000 (hiện nay được thay
thế bằng Luật Kinh doanh bảo hiểm 2010 (sửa đổi bổ sung); Luật du lịch
2005; Luật chứng khoán 2006 (nay được thay thế bằng Luật Chứng khoán
2010), Luật An toàn thực phẩm 2010...
12
Điều 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 Bộ luật Dân sự 2005.
3
Bộ Tư pháp (2008) Báo cáo phúc trình đề tài khoa học cấp Bộ“Cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi NTD.”.
13
gọi những tổ chức này” thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ người tiêu dùng”4
hay “ thiết chế bảo vệ người tiêu dùng”5. Tuy nhiên, dù có sử dụng thuật ngữ
nào thì vẫn không thể phủ nhận rằng, Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 và các
văn bản hướng dẫn thi hành luật này đã ghi nhận sự hiện diện của các cơ
quan, tổ chức đảm nhiệm vai trò bảo vệ quyền lợi NTD, bao gồm 3 nhóm cơ
quan là: các cơ quan quản lý nhà nước (như Bộ Công thương; các Bộ, cơ quan
ngang Bộ; Uỷ ban nhân dân các cấp); các cơ quan tài phán giải quyết tranh
chấp giữa NTD với tổ chức, cá nhân kinh doanh; và tổ chức xã hội tham gia
bảo vệ quyền lợi NTD.
Như vậy, từ thực tiễn pháp luật hiện hành ở Việt Nam, có thể đưa ra
khái niệm thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD như sau: “Thiết chế bảo vệ quyền
lợi NTD là các cơ quan, tổ chức có chức năng giải quyết hoặc trực tiếp hỗ trợ
giải quyết các yêu cầu bảo vệ quyền lợi của NTD”6.
* Vai trò của thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Theo Từ điển Tiếng Việt, vai trò được hiểu là tác dụng, chức năng của
sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh hoặc mối quan hệ
nào đó. Điều đó có nghĩa là, khi bàn về vai trò của các thiết chế bảo vệ quyền
lợi NTD, cần nghiên cứu về chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế này theo
quy định của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD.
Pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD của nhiều quốc gia trên thế giới có nền
tới việc bảo vệ NTD.
- Các cơ quan tài phán về bảo vệ NTD.
- Các tổ chức xã hội do NTD thành lập với chức năng bảo vệ quyền
lợi NTD.
Trong nhóm các cơ quan hành chính trực tiếp bảo vệ NTD hoặc có liên
quan trực tiếp tới việc bảo vệ NTD, hầu hết các nước phát triển đều thiết lập
cơ quan chuyên trách bảo vệ NTD. Đây là cơ quan có vai trò trung tâm trong
việc thực thi pháp luật bảo vệ NTD. Ví dụ như ở Hoa Kì là Ủy ban thương
mại Liên bang, ở Anh là Văn phòng thương mại công bằng, ở Nhật Bản là Ủy
ban người tiêu dùng Nhật Bản. Ngoài ra chức năng bảo vệ NTD còn được
chia sẻ bởi các cơ quan điều tiết ngành (nhất là cơ quan quản lý về lĩnh vực an
toàn và chất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý về lĩnh vực thực phẩm, dược
phẩm, cơ quan quản lí dịch vụ tài chính, ngân hàng, cơ quan giám sát quảng
cáo, thông tin cho tiêu dùng...).
Bộ phận thứ hai là nhóm các cơ quan tài phán về bảo vệ NTD, chủ yếu
do thiết chế Tòa án thực hiện, có chức năng giải quyết các tranh chấp giữa
NTD và các tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Hiện nay, một số
quốc gia trên thế giới như Malaysia, Ấn Độ đã xây dựng được Hệ thống Tòa
án chuyên trách bảo vệ NTD, tách biệt khỏi hẳn hệ thống Tòa án thông
thường, vốn đã có quá nhiều công việc và thiếu chuyên môn. Các thủ tục giải
quyết tranh chấp tại đây cũng được đơn giản hóa, đẩy nhanh và giảm chi phí
hết mức có thể, để NTD có thể sử dụng được thường xuyên và hiệu quả hơn.
Ngoài ra, nhằm loại bỏ bớt gánh nặng của Tòa án trong việc giải quyết các
tranh chấp với NTD, các nước phát triển hiện cũng rất chú trọng xây dựng cơ
chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án như Nhật Bản ( có Ủy ban giải quyết
tranh chấp do Trung tâm bảo vệ NTD Nhật Bản thành lập ra vào năm 2009) .
Bộ phận thứ ba là các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ NTD. Các tổ chức
xã hội tham gia bảo vệ NTD được thành lập theo mô hình phi chính phủ, hoạt
động vì lợi ích cộng đồng với chức năng hàng đầu là cung cấp thông tin trung
thực, khách quan cho NTD về hàng hóa, dịch vụ đồng thời tiến hành các hoạt
nào cũng đúng, mặc dù những chủ thể này có thể biết hoặc không biết. Vì
vậy, sự hiện diện của các thiết chế bảo vệ NTD sẽ đóng vai trò thực thi những
quy định, quy tắc ấy.
Thứ hai, là địa chỉ mà khi NTD cảm thấy quyền lợi của mình bị xâm hại có
thể đến để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ và tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi của mình.
16
Vụ việc con ruồi trong chai nước ngọt của công ty Tân Hiệp Phát thời
gian quan là minh chứng rõ nhất cho vai trò của thiết chế thực bảo vệ quyền
lợi NTD8. Nếu NTD trong trường hợp này có được sự tư vấn, hỗ trợ giải
quyết yêu cầu bảo vệ quyền lợi hợp pháp từ các tổ chức xã hội tham gia bảo
vệ NTD thì có lẽ không phải chịu mức án 7 năm tù giam vì hành vi “Cưỡng
đoạt tài sản”. Cụ thể, khi quyền và lợi ích của NTD bị nhà sản xuất, kinh
doanh xâm hại một cách trái pháp luật, NTD có thể tiếp cận với Tòa án (khởi
kiện trước Tòa án) hoặc tiếp cận với các hội bảo vệ NTD, với Cục quản lý
cạnh tranh và các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền khác để được tư
vấn, hỗ trợ và tìm kiếm sự bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.
Thứ ba, là thiết chế giám sát sự vận hành của thị trường, giám sát cách
ứng xử của các nhà sản xuất, kinh doanh.
Các thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD tại Việt Nam thường xuyên tiến
hành các hoạt động mang tính chất giám sát hành vi của thương nhân khi
cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho NTD, kiểm tra, kiểm soát, đấu tranh chống
các hành vi vi phạm pháp luật trên thị trường nội địa (như sản xuất hàng giả,
hàng nhái, hàng kém chất lượng, hàng hóa không có nguồn gốc xuất xứ rõ
ràng...), thông qua đó nhằm theo dõi việc thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD, phát hiện những hành vi vi phạm, những bất cập trong hệ thống chính
sách và pháp luật để có các biện pháp ngăn chặn, giải quyết, kiến nghị sửa
đổi và bổ sung, đáp ứng kịp thời những yêu cầu, đòi hỏi của đời sống tiêu
- Bộ Công thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý
nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD.
- Bộ, cơ quan ngang Bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương về bảo vệ quyền lợi NTD.
- UBND các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực
hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD tại địa phương.
Như vậy, theo quy định nói trên, hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về
bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện được phân cấp thành hai bộ phận, đó là
cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở Trung ương là Bộ Công
thương và cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD ở địa phương là
UBND các cấp. Ngoài ra, Luật bảo vệ quyền lợi NTD 2010 cũng quy định trách
nhiệm của các Bộ, cơ quan ngang Bộ ( Bộ Khoa học và công nghệ; Bộ Y tế; Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...) trong việc phối hợp với Bộ Công thương
thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD.
* Bộ Công Thương
Bộ Công thương được xác định là cơ quan quản lý nhà nước về bảo
vệ quyền lợi NTD ở Trung ương, vì vậy cơ quan này đóng vai trò hết sức
quan trọng trong hệ thống thiết chế bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam.
Cụ thể như sau:
18
- Thứ nhất, Bộ Công thương là cơ quan thực hiện chức năng quản lý
nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Ngoài ra, Bộ Công thương còn
được giao nhiệm vụ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh
vực như: điện; dầu khí; công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, công
nghiệp chế biến; xuất nhập khẩu; thương mại biên giới, thương mại điện tử,
dịch vụ thương mại...9 Có thể thấy, các lĩnh vực quản lý nhà nước nêu trên có
liên quan mật thiết đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đến quyền và lợi
quy phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; có trách nhiệm giải
quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý các vi phạm pháp luật về chất lượng sản phẩm,
hàng hóa trong lĩnh vực được phân công.
Giúp việc cho Bộ Khoa học và Công nghệ trong công tác bảo vệ quyền
lợi NTD là Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng10. Cơ quan này trực
thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng
Bộ Khoa học và Công nghệ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường, chất
lượng; tổ chức thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường,
chất lượng theo quy định của pháp luật.
Ở các địa phương, chức năng quản lý nhà nước về tiêu chuẩn, đo lường
và chất lượng sản phẩm, hàng hóa được giao cho các Chi cục Tiêu chuẩn - Đo
lường - Chất lượng. Các chi cục này chịu sự chỉ đạo và quản lý mọi mặt của
Sở Khoa học và Công nghệ, đồng thời chịu sự chỉ đạo và hướng dẫn chuyên
môn nghiệp vụ của Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng.
* Bộ Y tế
Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà
nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: khám bệnh; chữa bệnh; y dược cổ truyền;
trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm...11. Đây là nhiệm vụ
rất quan trọng liên quan trực tiếp tới việc bảo vệ các quyền lợi thiết thân của
NTD, vì vậy mặc dù Luật bảo vệ quyền lợi NTD không có quy định cụ thể
nhưng Bộ Y tế vẫn là cơ quan có trách nhiệm phối hợp với Bộ Công thương
thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi NTD.
Vai trò của Bộ y tế trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD được thể
hiện ở các nội dung sau:
Thứ nhất, Bộ Y tế là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản
lý chất lượng hàng hóa, dịch vụ y tế. Các hàng hóa, dịch vụ y tế là đối tượng
quản lý nhà nước của Bộ Y tế rất đa dạng, phong phú như: thuốc; vắc xin; mỹ
10
Quyết định số 104/2009/QĐ- TTg ngày 12/08/2009 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ