BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
Mã số : 60380107
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN, KIỂM TRA,
GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT KHẨU,
NHẬP KHẨU THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA
HỌC VIÊN: NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐOÀN TRUNG KIÊN
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ nội
dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, nếu có gì sai sót tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.
Sơn La, ngày 05 tháng 10 năm 2016
HỌC VIÊN
NGUYỄN TRƯỜNG GIANG
LỜI CẢM ƠN
Năm nay, 2016, tôi công tác hải quan được 20 năm, Cơ quan của tôi ở cửa
: Bộ luật tố tụng dân sự
CQHQ
: Cơ quan hải quan
HĐXNK
: Hợp đồng xuất, nhập khẩu
HĐND
: Hội đồng nhân dân
XNK
: Xuất, nhập khẩu
XNC
: Xuất nhập cảnh
LHQ
: Luật Hải quan
HĐXK
: Hợp đồng xuất khẩu
TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN VÀ PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC HẢI QUAN,
KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT, NHẬP
KHẨU THƯƠNG MẠI ......................................................................................... 6
1.1 Khái quát thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất,
nhập khẩu thương mại ............................................................................................. 6
1.1.1 Khái niệm thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất,
nhập khẩu thương mại ............................................................................................. 6
1.1.2. Mối quan hệ giữa thủ tục hải quan và kiểm tra, giám sát hải quan ................ 11
1.1.3 Quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan ................. 13
1.1.4 Vai trò của thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa
xuất, nhập khẩu thương mại................................................................................... 15
1.2. Pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa
xuất, nhập khẩu thương mại................................................................................... 18
1.2.1. Khái niệm pháp luật thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với hàng
hóa xuất, nhập khẩu thương mại ............................................................................ 18
1.2.2. Nguồn luật điều chỉnh thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với
xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại.................................................................... 20
1.2.3. Những nội dung cơ bản của pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát
hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại .......................................... 24
Chương 2. THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC HẢI
QUAN, KIỂM TRA, GIÁM SÁT HẢI QUAN ĐỐI VỚI HÀNG HÓA XUẤT,
NHẬP KHẨU THƯƠNG MẠI TẠI TỈNH SƠN LA ......................................... 28
2.1 Tổng quan các điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh Sơn La có ảnh hưởng đến hoạt
động của thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập
khẩu thương mại .................................................................................................... 28
2.1.1 Điều kiện kinh tế........................................................................................... 28
2.1.2 Điều kiện xã hội............................................................................................ 31
2.2 Tình hình hoạt động về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Việt Nam gia nhập WTO chính thức vào năm 20071, có thể nói đây là một
bước ngoặt lớn, một cơ hội lớn đồng thời cũng là một thách thức lớn đối với Việt
Nam - một quốc gia mà xuất phát điểm là một nước nông nghiệp. Việt Nam đang
phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Qua ba mươi năm đổi mới và phát triển
kinh tế, Việt Nam đã khẳng định đường lối phát triển đất nước là đúng đắn khi đưa
Việt Nam từ một nước với nền nông nghiệp lạc hậu đang ngày càng trở thành một
quốc gia có nền kinh tế phát triển, đa dạng, phong phú, kết hợp được sức mạnh bên
trong và tận dụng được sự hỗ trợ bên ngoài từ lĩnh vực thu hút đầu tư nước ngoài.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sự giao thương hàng hóa giữa các quốc gia trong
khu vực và trên thế giới ngày càng được mở rộng về phạm vi và mức độ thì những
thiết chế pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa
xuất khẩu, nhập khẩu thương mại càng có vai trò đặc biệt quan trọng đảm bảo sự
thông suốt hàng hóa giữa các quốc gia trong khu vực và quốc tế. Điều đó đòi hỏi
việc xây dựng các thiết chế pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hàng
hóa là một vấn đề hết sức cần thiết và quan trọng.
Để đáp ứng đòi hỏi khách quan của nền kinh tế hội nhập cần một hệ thống
pháp luật thống nhất, đồng bộ điều chỉnh hoạt động thủ tục hải quan, kiểm tra, giám
sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại, Việt Nam đã ban
hành nhiều văn bản pháp luật như Bộ luật Dân sự (2005/2015), Luật Hải quan
(2005/2014) cùng nhiều văn bản pháp luật liên quan như Luật Thương mại (2005),
Luật Đầu tư (2005/2015),…Bên cạnh đó, nhiều văn bản hướng dẫn thi hành được
ban hành như Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 Quy định chi tiết và
biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát
hải quan, Thông tư số 22/2014/TT-BTC về thủ tục hải quan điện tử, Thông tư số
1
tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
thương mại và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La” làm đề tài luận văn thạc sĩ
luật học.
2
3
Trong đó, lưu ý là 2 hiệp định: Hiệp định Việt Nam – EU (EVFTA) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)
Ngày 24/11/2015 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2588/QĐ-TTG quyết định VIệt Nam tham gia Công ước Viên 1980.
2
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu những vấn đề pháp lý về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát
hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại và pháp luật về hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được nhiều nhà khoa học quan tâm, nghiên cứu
dưới các góc độ khác nhau, ở những phương diện khác nhau.
2.1 Sách, tạp chí
Có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề liên quan đến hoạt động xuất,
nhập khẩu như: Nguyễn Hồng Bắc & Nguyễn Bá Bình: “Thủ tục hải quan xuất,
nhập khẩu”, NXB Tư Pháp, Hà Nội, 2010; Nguyễn Thị Dung (chủ biên): “Pháp luật
về hợp đồng trong thương mại và đầu tư - Những vấn đề pháp lí cơ bản”, Nxb.
CTQG, Hà Nội, 2008; Nguyễn Như Phát (đồng tác giả): “Luật kinh tế Việt Nam,
Nxb. CTQG, Hà Nội, 2002”; Nguyễn Thị Khế (chủ biên): “Luật thương mại và giải
quyết tranh chấp thương mại”, Nxb. Tài chính, Hà Nội, 2007; Trường Đại học Luật
Hà Nội: “Giáo trình luật dân sự Việt Nam”, tập 1 (tr. 137 - 297), tập 2 (tr. 5 - 235),
Nxb. CAND, Hà Nội, 2005; Trường Đại học Luật Hà Nội: “Từ điển giải thích thuật
ngữ luật học” (thuật ngữ luật kinh tế), Nxb. CAND, Hà Nội, 2000; Trung tâm
thương mại quốc tế và Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam: “Trọng tài và các
giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định của pháp
luật Việt Nam. Luận văn tiếp cận thực tiễn áp dụng pháp luật về thủ tục hải quan,
kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại tỉnh Sơn La,
qua đó xác định những điểm còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn
chế, bất cập. Trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục
hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại
Việt Nam.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về thủ tục hải quan,
kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại theo
quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Sơn La.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn được xác định trên những khía cạnh sau:
- Nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám
sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.
4
- Phân tích khái quát về sự hình thành, phát triển và nội dung cơ bản của
pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu.
- Xác định những hạn chế, bất cập của các quy định về thủ tục hải quan,
kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu theo quy định
của pháp luật hiện hành từ thực tiễn áp dụng pháp luật tại tỉnh Sơn La.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn dựa trên nền tảng lý luận là các nguyên tắc và phương pháp luận
của chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng
và nhà nước ta hiện nay. Ngoài ra tác giả còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu
xuất, nhập khẩu thương mại
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và quy trình thủ tục hải quan
Theo Công ước quốc tế Kyoto về đơn giản hóa và kết hợp hài hòa hóa các
thủ tục hải quan của Tổ chức Hải quan thế giới WCO): “Thủ tục hải quan là tất cả
các hoạt động tác nghiệp mà bên hữu quan và 4qr hải quan phải thực hiện nhằm
đảm bảo tuân thủ Luật Hải quan”.
Theo quy định tại Điều 4, LHQ (2014): “Thủ tục hải quan là các công việc
mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo quy định của
Luật này đối với hàng hóa, phương tiện vận tải”. Theo quy định này, có thể được
hiểu phương tiện vận tải có thể là hàng hóa xuất, nhập khẩu khi chủ hàng xuất, nhập
khẩu dưới dạng hàng hóa, ví dụ như nhập khẩu ô tô, máy bay,.. Vì vậy, khi nghiên
cứu về thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập cảnh thì khái niệm hàng hóa
được hiểu trong phạm vi rộng hơn, không chỉ bao gồm hàng hóa xuất, nhập khẩu
đơn thuần mà còn bao gồm cả phương tiện vận tải, xuất, nhập khẩu4.
Tại Điều 4, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/1/2015 của Chính phủ
quy định: Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành là
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải kiểm tra về chất lượng, y tế, văn hóa, kiểm dịch
động vật, kiểm dịch thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của pháp luật5. Hàng
hóa bao gồm động sản có tên gọi và mã số theo Danh mục hàng hóa xuất khẩu,
4
TS Nguyễn Hồng Bắc & Ths Nguyễn Bá Bình::Thủ tục hải quan xuất, nhập khẩu”, NXB Tư Pháp, năm 2010, tr11.
Điều 4, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP ngày 21/01/2015 Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm
tra, giám sát, kiểm soát hải quan
5
6
nhập khẩu Việt Nam được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc được lưu giữ trong
Khoản 1, Điều 26 Luật Hải quan (2014)
Điều 28 Luật Hải quan (2014)
7
Thứ nhất: Chủ thể tham gia thủ tục hải quan bao gồm những chủ thể cơ bản
sau: Người khai hải quan và công chức hải quan
Về người khai quan: Theo quy định tại Khoản 7, Điều 4 Luật Hải quan
(2001, SĐ,BS năm 2005), Nghị định 154/2005/NĐ - CP thì người khai hải quan bao
gồm: Chủ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu; Tổ chức được chủ hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu uỷ thác; Người được uỷ quyền hợp pháp (áp dụng trong trường hợp hàng
hoá, vật phẩm xuất khẩu, nhập khẩu không nhằm mục đích thương mại); Người
điều khiển phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh; Đại lý làm thủ tục hải quan;
Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế. Tuy
nhiên, Luật Hải quan (2014)
quy định: Người khai hải quan bao gồm:
chủ hàng hóa; chủ phương tiện vận tải; người điều khiển phương tiện vận tải; đại lý
làm thủ tục hải quan, người khác được chủ hàng hóa, chủ phương tiện vận tải ủy
quyền thực hiện thủ tục hải quan
Về công chức hải quan: Công chức hải quan là người được tuyển dụng, đào
tạo và sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức (khoản 1 Điều
14 Luật Hải quan 2001) và Công chức hải quan là người có đủ điều kiện được tuyển
dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan hải quan; được đào
tạo, bồi dưỡng và quản lý, sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công
chức (khoản 1 Điều 15 Luật Hải quan 2014)Ngoài ra, còn có những chủ thể khác
như: Giám định viên,... tham gia vào thủ tục hải quan
Thứ hai: Đối tượng cần khai báo hải quan. Đối tượng cần khai báo hải quan
sơ hải quan; Hoàn thành việc kiểm tra thực tế hàng hóa chậm nhất là 08 giờ làm
việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hóa cho cơ quan hải
quan. Trường hợp hàng hóa thuộc đối tượng kiểm tra chuyên ngành về chất lượng,
y tế, văn hóa, kiểm dịch động vật, thực vật, an toàn thực phẩm theo quy định của
pháp luật có liên quan thì thời hạn hoàn thành kiểm tra thực tế hàng hóa được tính
từ thời điểm nhận được kết quả kiểm tra chuyên ngành theo quy định. Trường hợp
lô hàng có số lượng lớn, nhiều chủng loại hoặc việc kiểm tra phức tạp thì Thủ
trưởng cơ quan hải quan nơi làm thủ tục hải quan quyết định việc gia hạn thời gian
kiểm tra thực tế hàng hóa, nhưng thời gian gia hạn tối đa không quá 02 ngày; Cơ
quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và
ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu,
9
việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề
nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt
động hải quan.
Thời hạn nộp hồ sơ hải quan. Thời hạn nộp tờ khai hải quan được quy định
như sau: Đối với hàng hóa xuất khẩu, nộp sau khi đã tập kết hàng hóa tại địa điểm
người khai hải quan thông báo và chậm nhất là 04 giờ trước khi phương tiện vận tải
xuất cảnh; đối với hàng hóa xuất khẩu gửi bằng dịch vụ chuyển phát nhanh thì chậm
nhất là 02 giờ trước khi phương tiện vận tải xuất cảnh; Đối với hàng hóa nhập khẩu,
nộp trước ngày hàng hóa đến cửa khẩu hoặc trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hàng
hóa đến cửa khẩu. Tờ khai hải quan có giá trị làm thủ tục hải quan trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày đăng ký.
1.1.1.2 Khái niệm kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu
Kiểm tra hải quan
Theo định nghĩa tại Chương II Công ước Kyoto thì Kiểm tra hải quan là các
biện pháp do hải quan áp dụng nhằm đảm bảo sự tuân thủ Luật Hải quan.
vận chuyển, lưu giữ đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
- Đặc điểm, tính chất, xuất xứ, tần suất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng
hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
- Các quy định khác liên quan đến quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập
khẩu, quá cảnh.
Việc lựa chọn đối tượng trọng điểm giám sát hải quan được dựa trên các tiêu
chí tại khoản 1 Điều 12 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 và mức độ
tuân thủ của chủ hàng, người vận chuyển và các đối tượng khác có liên quan
1.1.2. Mối quan hệ giữa thủ tục hải quan và kiểm tra, giám sát hải quan
Khi làm thủ tục hải quan, người khai hải quan có trách nhiệm: a) Khai và
nộp tờ khai hải quan; nộp hoặc xuất trình chứng từ thuộc HSHQ theo quy định tại
Điều 24 của Luật Hải quan; b) Đưa hàng hóa, phương tiện vận tải đến địa điểm
được quy định để kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải; c) Nộp thuế và
thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật về thuế, phí, lệ
phí và quy định khác của pháp luật có liên quan. Đồng thời, khi làm thủ tục hải
quan, CQHQ, công chức hải quan có trách nhiệm: a) Tiếp nhận và đăng ký hồ sơ
8
9
Khoản 5, Điều 4 Luật Hải quan (2014).
Điều 12 Thông tư số 38/2015/TT-BTC
11
hải quan; b) Kiểm tra hồ sơ hải quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận
tải; c) Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật về thuế,
phí, lệ phí và quy định khác của pháp luật có liên quan; d) Quyết định việc thông
quan hàng hóa, giải phóng hàng hóa, xác nhận phương tiện vận tải đã hoàn thành
thủ tục hải quan10.
hành đúng thủ tục hải quan và chế độ KT,GS hải quan nhưng trách nhiệm thi hành
đúng hoàn toàn thuộc về cơ quan hải quan. Bên cạnh đó, trong quá trình thi hành
thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan, nếu người khai hải quan có hành vi vi
phạm pháp luật dù cố ý hay vô ý mà hải quan không phát hiện, xử lý đúng pháp luật
thì khi đó người vi vi phạm pháp luật không chỉ riêng người khai hải quan mà còn
là những đơn vị, cá nhân công chức hải quan làm nhiệm vụ thi hành thủ tục hải
quan, kiểm tra, giám sát hải quan. Do đó, khi áp dụng pháp luật đối với tổ chức, cá
nhân liên quan đến thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sat hải quan cần được xem xét,
đánh giá trên nhiều góc độ theo quy định của pháp luật.
1.1.3 Quản lý rủi ro trong thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
Quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập
khẩu thương mại là việc áp dụng một cách có hệ thống các quy trình thủ tục để xác
định, phân tích, đánh giá và tiến hành các biện pháp nhằm kiểm soát khả năng và
mức độ vi phạm pháp luật hải quan có thể xảy ra trong hoạt động xuất, nhập khẩu
hàng hóa.
Quản lý rủi ro trong quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất, nhập
khẩu thương mại chia thành các tiêu chí: tiêu chí rủi ro động, tiêu chí rủi ro tĩnh,
tiêu chí lựa chọn kiểm tra xác suất.
- Tiêu chí rủi ro động: là tiêu chí có tính chất biến động theo thời gian và
được áp dụng ngay từ thời điểm phát hiện có dấu hiệu vi phạm pháp luật hải quan.
Các tiêu chí này dựa trên các thông tin trinh sát, thông tin về doanh nghiệp, hàng
hóa có khả năng và mức độ rủi ro cao và phải kiểm tra hải quan.
- Tiêu chí rủi ro tĩnh: Là các tiêu chí có tính chất ổn định trong khoảng thời
gian nhất định. Tiêu chí này xác định khả năng và mức độ rủi ro bằng cách áp dụng
các phương pháp tính toán dựa trên cơ sở thông tin do cơ quan hải quan thu thập,
phân tích. Các tiêu chí được sắp xếp thành các nhóm theo khả năng và mức độ rủi
ro khác nhau trong hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại. Có thể chia bộ
tiêu chí quản lý rủi ro thành các nhóm sau:
+ Nhóm tiêu chí ưu tiên;
khẩu, quá cảnh, phương tiện xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh, hành lý của hành
khách xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh; tính chất, đặc điểm của hàng hóa, hành lý,
14
phương tiện vận tải; tần suất, tính chất, mức độ vi phạm liên quan đến hàng hóa,
hành lý, phương tiện vận tải; xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh;
tuyến đường, phương thức vận chuyển hàng hóa, hành lý; các yếu tố khác liên quan
đến quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh11.
Việc quản lý rủi ro được thực hiện theo quy trình gồm nhiều bước khác nhau,
gồm: Xác định mức độ rủi ro theo tiêu chí động; Xác định mức độ rủi ro theo tiêu
chí tĩnh; Những lô hàng không phải kiểm tra thực tế được xác định tại bước 2. Kết
quả bước này nhằm lựa chọn lô hàng để kiểm tra xác suất theo tỷ lệ không quá 5%
tổng số tờ khai hải quan,
Luồng xanh: Miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, Luồng đỏ:
Kiểm tra thực tế hàng hóa và Chuyển sang khâu kiểm tra sau thông quan.
1.1.4 Vai trò của thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa
xuất, nhập khẩu thương mại
Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan là một phần không thể thiếu và
vô cùng quan trọng đối với hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa.Vai trò của thủ tục
hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu hàng hóa thể hiện trên
những phương diện chủ yếu sau:
Một là, thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu
hàng hóa trong sự phát triển ổn định và bền vững đối với nền kinh tế quốc dân. Mọi
quốc gia đều ý thức được tầm quan trọng và giá trị to lớn của việc hội nhập kinh tế
toàn cầu, đặc biệt là quan hệ hàng hóa quốc tế ngày càng được phát triển sâu rộng.
Do đặc điểm về điều kiện tự nhiên, các quốc gia đều phát huy lợi thế so sánh trong
không đăng ký. Số doanh nghiệp trước tạm ngừng kinh doanh hoặc tạm ngừng hoạt
động không đăng ký nay quay trở lại hoạt động trong tháng 12 trên cả nước là 2.860
doanh nghiệp, tăng 16,8% so với tháng 11 năm 201512. Thành công của doanh
nghiệp không thể không nhắc tới vai trò vô cùng quan trọng của thủ tục hải quan,
kiểm tra, giám sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu hàng hóa đối với các giao dịch
thương mại trong và ngoài nước giữa doanh nghiệp của các quốc gia với nhau. Nó
giống như một sự đảm bảo sự ổn định, vị thế và tái đầu tư cho sự phát triển của
doanh nghiệp ở tầm quốc tế. Điều đó cho thấy: một trong những hoạt động thể hiện
sự thành công, uy tín hay thương hiệu của một doanh nghiệp đó chính là việc “mở
rộng: sân chơi giao thương ra khu vực và quốc tế. Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám
sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu hàng hóa chính là một công cụ pháp lý quan
trọng để bảo đảm sự thành công trên trường quốc tế của doanh nghiệp.
12
Nguồn: Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
16
Ba là, thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu
hàng hóa là một hoạt động góp phần trong phân phối và lưu thông hàng hoá của một
quá trình tái sản xuất mở rộng nhằm mục đích liên kết sản xuất với tiêu dùng của
nước này với nước khác. Hoạt động đó không chỉ diễn ra giữa các cá thể riêng biệt
mà là có sự tham gia của toàn bộ hệ thống kinh tế với sự điều hành của Nhà nước,
thông qua hệ thống các cơ quan có thẩm quyền. Chính vì vậy, thủ tục hải quan,
kiểm tra, giám sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu hàng hóa có vai trò quan trọng
làm tăng ngoại tệ thu được, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu cho ngân sách nhà
nước, kích thích đổi mới công nghệ, tiếp cận được phương thức quản lý và kinh
doanh mới, cải biến cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, tạo sự cạnh tranh của
hàng hoá nội và ngoại, nâng cao mức sống của người dân.
1.2. Pháp luật về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng
hóa xuất, nhập khẩu thương mại
1.2.1. Khái niệm pháp luật thủ tục hải quan, kiểm tra giám sát hải quan đối với
hàng hóa xuất, nhập khẩu thương mại
Pháp luật là hệ thống những qui tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà
nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp
thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội pháp triển phù hợp với lợi ích
của giai cấp mình. Pháp luật hải quan nói chung và pháp luật về thủ tục hải quan,
kiểm tra, giám sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu hàng hóa thương mại nói riêng
là một bộ phận không tách rời trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Trong đó, pháp
luật về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với xuất, nhập khẩu hàng
hóa thương mại được xây dựng, ban hành và áp dụng qua các thời kỳ kinh tế khác
nhau. Năm 1954, ngay sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, Chính phủ
Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành Điều lệ hải quan bằng Nghị định số 03/CP
ngày 27/2/1960. Nghị định số 03/CP chủ yếu quy định chức năng, nhiệm vụ của hải
quan và tập trung quy định về thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan
đối với hàng hóa XNK, phương tiện vận tải XNK.
Ngày 20/2/1990 Hội đồng Nhà nước ban hành Pháp lệnh Hải quan thay thế
cho Nghị định số 03/CP. Pháp lệnh Hải quan đã thể chế hóa đường lối đổi mới về
kinh tế của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực hải quan. Pháp lệnh hải quan xác định
rõ chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy hải quan và tập trung vào quy định về thủ
18