PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC KHUYẾN MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHAN THỊ LIÊN

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC
KHUYẾN MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHAN THỊ LIÊN

PHÁP LUẬT VỀ CÁC HÌNH THỨC
KHUYẾN MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH QUẢNG BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Phan Thị Liên


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ
từ Giáo viên hướng dẫn là TS. Nguyễn Thị Yến. Các nội dung nghiên cứu và
kết quả trong đề tài này là trung thực. Những số liệu phục vụ cho việc phân
tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau
có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số
nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và
cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo. Nếu phát hiện có bất cứ sự gian
lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả
luận văn của mình.
Quảng Bình, ngày 10 tháng 7 năm 2016
Tác giả

Phan Thị Liên


MỤC LỤC


6

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Với kết quả từ Đại hội Đảng lần thứ VI, nền kinh tế nước ta đã có những
bước chuyển mình mạnh mẽ. Từ nền kinh tế theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang cơ chế thị trường, quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp

phục những mặt trái của hoạt động khuyến mại mà thực tế các thương nhân
đang tiến hành.
Hiện nay, hoạt động khuyến mại đã và đang tiếp cận được với rất nhiều
người tiêu dùng với những sản phẩm hàng hóa, dịch vụ vô cùng đa dạng, tiện
ích và thiết thực trên phạm vi cả nước.Với vị trí là một tỉnh thuộc khu vực
Bắc Trung Bộ có những đặc điểm kinh tế rất đặc trưng, các hoạt động thương
mại nói chung đang ngày càng phát triển, bắt kịp yêu cầu phát triển kinh tế
của vùng và của cả nước. Bên cạnh những mặt tích cực từ hoạt động khuyến
mại mang lại thì vẫn còn tồn tại rất nhiều bất cập, hạn chế thậm chí có những
hành vi khuyến mại vượt ra ngoài khuôn khổ pháp luật và sự quản lý của Nhà
nước. Sinh ra trên mảnh đất anh dũng Quảng Bình, nhìn vào bức tranh kinh tế
quê hương đang ngày càng chuyển mình phát triển mạnh mẽ và đứng trước
bài toán hội nhập kinh tế quốc tế, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Pháp
luật về các hình thức khuyến mại và thực tiễn thi hành tại tỉnh Quảng
Bình” làm luận văn thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Khuyến mại là một trong những đề tài nghiên cứu được nhiều nhà khoa
học pháp lý, luật gia, học giả và sinh viên quan tâm. Thời gian qua đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu dưới các hình thức tạp chí, luận văn, khóa luận
tốt nghiệp, bài viết nghiên cứu pháp lý như: ThS. Nguyễn Thị Dung“Kinh
nghiệm quốc tế về điều chỉnh pháp luật đối vớihoạt động xúc tiến thương mại
và một số yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam” Tạpchí Luật học số 9/2006; TS.


8

Nguyễn Thị Dung “Pháp luật về xúc tiến thương mại ở Việt Nam, những
vấnđề lý luận và thực tiễn”, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007; TS.
Nguyễn Dũng Hải “Mấy ý kiến về hoạt động khuyến mại và vai trò của
phápluật ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số

5. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu đề tài được tác giả định hình rõ ràng cả về mặt nghiên
cứu và mặt thực tiễn. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn và đi sâu vào tình
hình áp dụng và thực hiện pháp luật các hình thức khuyến mại trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện và xem xét một cách
đồng bộ, toàn diện và có xét đến các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến đối
tượng nghiên cứu. Phạm vi nghiên cứu là một trong những điểm tạo nên tính
sáng tạo của đề tài nói riêng, công trình nói chung.
6. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, hệ thống các quan điểm của
chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc tìm hiểu các vấn
đề về mặt pháp lý; các chính sách về xúc tiến thương mại nói chung, khuyến
mại nói riêng được thể hiện trong các chính sách pháp luật, văn kiện của
Đảng, các chính sách kinh tế của tỉnh Quảng Bình.
Triển khai và hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu tác giả sử dụng các
phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, bình luận, thống kê, quy nạp, diễn
dịch, logic, liệt kê…Các phương pháp này đều nhằm làm rõ nội dung cơ bản
của đề tài nghiên cứu, mang một cái nhìn vừa tổng thể vừa chi tiết về đối
tượng nghiên cứu.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
7.1. Về mặt khoa học pháp lý
Về mặt khoa học pháp lý, tác giả tiếp cận và làm rõ các vấn đề pháp lý
cơ bản về hoạt động khuyến mại theo quy định của pháp luật Việt Nam. Từ
việc nghiên cứu các vấn đề này, tác giả chỉ ra các bất cập pháp lý cần hoàn
thiện trong thời gian tới để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách trong hiện tại và
tương lai.


10

1.1.1. Khái niệm khuyến mại
Khuyến mại trong tiếng Anh là Sales Promotion hoặc đôi khi cũng được
gọi là Promotion, có nghĩa là bán hàng giảm giá nhằm kích thích sự mua sắm
của khách hàng. Ở góc độ ngôn ngữ, “mãi” là mua, “mại” là bán1. Tương tự,
theo nghĩa Hán Việt: mại là bán, mãi là mua2. Khuyến mại hay khuyến mãi
được hiểu là hành vi khuyến khích việc bán hàng, khuyến khích việc mua
hàng. Do việc mua bán được tiến hành đồng thời nên cả hai thuật ngữ này đều
sử dụng được. Tuy nhiên dưới góc độ pháp lý, các nhà làm luật không gọi là
“khuyến mãi” mà gọi là “khuyến mại”.
Theo khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa: “Khuyến
mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những
lợi ích nhất định”. So sánh với Luật Thương mại năm 1997, Luật Thương mại
hiện hành khi định nghĩa về khuyến mại có bổ sung hai điểm về mục đích của
khuyến mại và cách thức khuyến mại thông qua quan hệ thương mại dịch vụ.
Cụ thể là, mục đích khuyến mại không chỉ nhằm xúc tiến việc bán hàng mà
còn nhằm xúc tiến việc mua hàng. Đây là hai khía cạnh khác nhau của mục
đích kích thích kinh doanh và tìm kiếm lợi nhuận. Thường chúng ta tiếp cận
hoạt động xúc tiến thương mại dưới tư duy khuyến mại để bán hàng là hoạt
động phổ biến của thương nhân, do thương nhân tiến hành như một nhu cầu
1 Minh Tân - Thanh Nghị - Xuân Lãm: Từ điển Tiếng Việt, Ngôn ngữ học Việt Nam, 1999
2 Trong tiếng Việt, từ lâu đã có sự nhầm lẫn giữa mại và mãi trong cách dùng. Tương tự như trường hợp này,
một thời gian dài cuối thế kỷ 20, mại dâm vẫn được gọi là mãi dâm.


12

tất yếu để cạnh tranh mở rộng thị phần. Nhưng đối với các doanh nghiệp
thương mại, việc khuyến mại để mua hàng, gom hàng cũng có thể trở thành
nhu cầu cần thiết để hoàn thành kế hoạch kinh doanh. Cách thức thực hiện

thực hiện quyền khuyến mại. Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại
thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác trên cơ sở
hợp đồng dịch vụ khuyến mại bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị
pháp lý tương đương. Trong trường hợp này thương nhân phải có đăng ký
kinh doanh dịch vụ khuyến mại.
Khoản 1 Điều 6 Luật Thương mại 2005 quy định: “Thương nhân bao
gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại
một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.”. Như vậy chủ thể
được phép tiến hàng hoạt động khuyến mại chỉ có thể là những thương nhân
có đăng ký kinh doanh. Trong khi đó, xúc tiến thương mại bằng hình thức
khuyến mại là nhu cầu của bất kỳ chủ thể kinh doanh nào (dù có tư cách
thương nhân hay không có tư cách thương nhân) và cần được pháp luật ghi
nhận bảo hộ. Và khoản 3, Điều 2 Nghị định của Chính phủ số 37/2006/ NĐCP ngày 4/4/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động xúc tiến
thương mại (gọi tắt là Nghị định số 37/2006/NĐ-CP) đã đưa trường hợp này
vào trong đối tượng áp dụng của mình: “Cá nhân hoạt động thương mại độc
lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh quy định tại khoản 3 Điều
2 của Luật Thương mại được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại
quy định tại Nghị định này như thương nhân, trừ các hoạt động được quy
định tại Điều 11, Điều 12, Điều 13, Điều 34 và Điều 36 Nghị định này.”. Theo
đó, cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên không phải đăng ký
kinh doanh được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại nói chung, hoạt
động khuyến mại nói riêng như thương nhân trừ một số hình thức sau: bán
hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách hàng để chọn
người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố; Bán hàng, cung ứng
dịch vụ kèm theo việc tham dự chương trình khuyến mại mang tính may rủi;
Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên.


14



sản phẩm đã có trên thị trường, làm cho khách hàng đến các cửa hàng bán lẻ
nhiều hơn nhằm tăng thị phần của thương nhân trên thị trường. Khuyến mại
cho các trung tâm phân phối nhằm kích thích sự chú ý của trung gian phân
phối đối với hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình để đặt hàng và tích cực
chào hàng cho mình và cũng để tăng cường quan hệ đối tác với trung gian
phân phối4.
1.1.3. Vai trò của khuyến mại
Nền kinh tế Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ từ khi chuyển dịch từ
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết
của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết quả của sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế được thể hiện rõ trên mọi phương diện trong đời sống xã hội.
Chủ trương đổi mới kinh tế đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã làm biến đổi
sâu sắc diện mạo kinh tế Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho các thương
nhân được tự do kinh doanh, từ đó tạo ra nhiều mặt hàng, chủng loại giúp
người tiêu dùng có nhiều sự lựa chọn.
Với sự đa dạng, phong phú của hàng hóa và dịch vụ, khách hàng có rất
nhiều cơ hội lựa chọn, điều này thực sự là thách thức lớn đối với thương nhân.
Với ý nghĩa thông tin, xúc tiến thương mại là công cụ hữu hiệu để thương
nhân chiếm lĩnh thị trường, nâng cao tính cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ
trên thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác thông qua sự hiểu biết lẫn nhau. Xúc
tiến thương mại là cầu nối giữa khách hàng và thương nhân, giúp thương nhân
có những đánh giá nhìn nhận về ưu điểm và nhược điểm của hàng hóa, dịch
vụ mà mình kinh doanh, qua đó có những cải tiến và định hướng mới cho sản
phẩm của mình. Là một công cụ xúc tiến thương mại vô cùng hiệu quả,
khuyến mại ngày càng có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
4Giáo trình Luật thương mại tập II, Đại học Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, 2006, tr 143



được ưu tiên hàng đầu của các thương nhân.


17

1.1.4. Nguyên tắc khi thực hiện khuyến mại
Dưới góc độ của lý thuyết cạnh tranh, khuyến mại là một trong những
cách thức thu hút, tranh giành và tạo thói quen tiêu dùng cho khách hàng,
bằng những chiến dịch khuyến mại có thể làm xuất hiện nhiều khả năng tiêu
thụ các sản phẩm hoặc dịch vụ một cách không lành mạnh. Việc xây dựng bộ
nguyên tắc chung về nguyên tắc trong hoạt động khuyến mại có vai trò quan
trọng. Là công cụ pháp lý mang tính định hướng để tạo hành lang pháp lý rõ
ràng trong việc vận dụng các quy định của pháp luật đối với hoạt động
khuyến mại.Thực trạng hiện nay cho thấy, có rất nhiều chương trình khuyến
mại được tổ chức với hình thức phong phú, hấp dẫn và quy mô khác nhau
trong phạm vi cả nước như: Các chương trình ưu đãi quà tặng, giảm giá hàng
hóa, bốc thăm trúng thưởng. Những chương trình khuyến mại diễn ra hợp
pháp sẽ kết hợp lợi ích của doanh nghiệp với người tiêu dùng, quảng bá
thương hiệu của doanh nghiệp và kích cầu tiêu dùng xã hội, cũng như kích
thích cạnh tranh trong thị trường. Tuy nhiên, vì mục tiêu doanh thu và lợi
nhuận, không ít doanh nghiệp đã bằng nhiều chiêu thức như không chấp hành
các quy định của pháp luật về khuyến mại, cạnh tranh thị phần, lôi kéo khách
hàng bằng các hành vi không lành mạnh, gây ảnh hưởng tới thị trường kinh
doanh và lợi ích người tiêu dùng.
Theo Nghị định 37/2006/NĐ-CP và Nghị định 68/2009/NĐ-CP quy định
về những nguyên tắc khuyến mại, nhìn chung những nguyên tắc này đều xoay
quanh ý thức và hệ tư tưởng pháp luật của thương nhân tiến hành hoạt động
khuyến mại để đảm bảo hoạt động khuyến mại lành mạnh, bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của người tiêu dùng, của xã hội. Có thể khái lược về các nguyên
tắc cơ bản trong hoạt động khuyến mại như sau:

tắc mang tính chỉ đạo đối với việc thực hiện và áp dụng các hoạt động khuyến
mãi của thương nhân. Đi đôi với lợi nhuận là trách nhiệm đảm bảo lợi ích
chung của doanh nghiệp khác, của người tiêu dùng, lợi ích phát triển bền
vững của cộng đồng và của xã hội. Chính vì vậy, việc đảm bảo tuân thủ và tôn


19

trọng các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động khuyến mãi là một vấn đề pháp
lý có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn đối với xúc tiến
thương mại nói chung, khuyến mại nói riêng.
1.2. Khái quát về các hình thức khuyến mại
1.2.1. Khái niệm các hình thức khuyến mại
Theo các tài liệu được nghiên cứu và xem xét từ quá trình dự thảo, thông
qua Luật Thương mại 2005, về cơ bản, nội dung quản lý các hoạt động
khuyến mại của pháp luật Việt Nam được tham khảo từ các quy định trong
các luật và bộ luật của Liên minh Châu Âu EU5.
Khoản 1 Điều 88 Luật Thương mại 2005 quy định: “Khuyến mại là hoạt
động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng
hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất
định.” Như vậy, khuyến mại có thể được biểu hiện là “cách thức, biện pháp
thu hút khách hàng thông qua việc dành lợi ích cho khách hàng, bao gồm lợi
ích vật chất như tiền, hàng hóa hay lợi ích phi vật chất (được cung ứng dịch
vụ miễn phí)” nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
Theo điều 92 Luật Thương mại 2005, thương nhân có thể thực hiện
khuyến mại theo một trong số các hình thức sau:
Một là, hàng mẫu hay đưa hàng hóa mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để
khách hàng dùng thử không phải trả tiền. Thông thường, hàng mẫu được sử
dụng khi thương nhân cần giới thiệu một sản phẩm mới hoặc sản phẩm đã cải
tiến, do vậy, hàng mẫu đưa cho khách hàng dùng thử là hàng đang bán hoặc

hàng thường có ý nghĩa giảm giá hoặc mệnh giá nhất định để thanh toán cho
những lần mua sau trong hệ thống bán hàng của thương nhân. Phiếu sử dụng
dịch vụ có thể cho phép sử dụng dịch vụ miễn phí, theo điều kiện do nhà cung
ứng dịch vụ đưa ra. Khác với điều này, phiếu dự thi có thể mang lại giải
thưởng hoặc không mang lại lợi ích gì cho khách hàng, phụ thuộc vào kết quả
dự thi của họ.


21

Năm là, tổ chức các sự kiện. Sự kiện này được tổ chức gắn liền hoặc
tách rời với việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của khách hàng. Tổ chức cho
khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí… có thể là
lợi ích phi vật chất mà thương nhân dành khuyến mại cho khách hàng, cũng
có thể nhằm hướng tới khách hàng mục tiêu của thương nhân. Ngoài các sự
kiện trên đây, thương nhân có thể tổ chức chương trình khách hàng thường
xuyên, các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.
Trong thực tế, các hình thức này được các doanh nghiệp áp dụng khá
linh hoạt và có sự kết hợp giữa nhiều hình thức một lúc, như vừa giảm giá vừa
tặng quà, vừa giảm giá vừa bốc thăm trúng thưởng, giảm giá hoặc tặng quà
trong những "giờ vàng mua sắm" nhất định trong ngày (thường là giờ thấp
điểm để kích thích tiêu dùng)... Giảm giá thường là hình thức được các doanh
nghiệp áp dụng nhiều nhất.
Nói tóm lại, các hình thức khuyến mại được hiểu là tổng thể các cách
thức, phương thức tiến hành hoạt động khuyến mại, bao gồm một nhóm các
hành vi có tính chất đặc trưng tạo nên một hình thức khuyến mại nhất định,
được pháp luật ghi nhận trong một văn bản pháp quy có hiệu lực.
1.2.2. Yêu cầu đối với các hình thức khuyến mại
Để đảm bảo tính hợp pháp của các hoạt động khuyến mại, thương nhân
trong quá trình thực hiện hoạt động khuyến mại cần tuân thủ một số yêu cầu về

trình khuyến mại bằng giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ
không được vượt quá 90 ngày trong 1 năm; một chương trình khuyến mại
không được vượt quá 45 ngày. Không được giảm giá bán hàng hoá, giá cung
ứng dịch vụ trong trường hợp giá bán hàng hoá, dịch vụ thuộc diện Nhà nước
quy định giá cụ thể. Không được giảm giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ
xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp giá bán hàng hoá, giá cung
ứng dịch vụ thuộc diện Nhà nước quy định khung giá hoặc quy định giá tối
thiểu. (Điều 6 và Điều 9 Nghị định 37/2006/NĐ-CP).



Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử
dụng dịch vụ.
Đối với hình thức này thì phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ kèm
theo hàng hóa được bán, dịch vụ được cung ứng là phiếu để mua hàng hóa,
nhận cung ứng dịch vụ của chính thương nhân đó hoặc để mua hàng hóa,
nhận cung ứng dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác. Giá trị tối đa của phiếu
mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ được tặng kèm theo một đơn vị hàng hóa


23

được bán, dịch vụ được cung ứng trong thời gian khuyến mại phải tuân thủ
quy định hạn mức tối đa về giá trị vật chất dùng để khuyến mại: không được
vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại đó trước
thời gian khuyến mại (Điều 10 Nghị định số 37/2006/NĐ-CP).


Hình thức bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu dự thi cho khách
hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

sách nhà nước (Khoản 4, Điều 96 Luật thương mại năm 2005).
Chương trình khuyến mại mang tính may rủi có phát hành vé số dự
thưởng phải tuân thủ các quy định sau: vé số dự thưởng phải có hình thức
khác với xổ số do Nhà nước độc quyền phát hành và không được sử dụng kết
quả xổ số của Nhà nước để làm kết quả xác định trúng thưởng; vé số dự
thưởng phải in đủ các nội dung về số lượng vé số phát hành, số lượng giải
thưởng, giá trị từng loại giải thưởng, địa điểm phát thưởng, thời gian, địa
điểm mở thưởng và các nội dung liên quan; việc mở thưởng chỉ áp dụng cho
các vé số đã được phát hành.
Và yêu cầu chung đối với các hình thức khuyến mại: Thương nhân khi
thực hiện các hình thức khuyến mại phải thông báo bằng văn bản về chương
trình khuyến mại đến Sở Công Thương nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 07
ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại trừ hình thức bán hàng, cung
ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự chương trình khuyến mại mang tính may
rủi, thương nhân tiến hành cần thực hiện thủ tục đăng ký thực hiện chương
trình khuyến mại theo quy định của pháp luật.
1.3. Khái quát pháp luật về các hình thức khuyến mại
1.3.1. Khái niệm pháp luật về các hình thức khuyến mại
Như chúng ta đã biết, Nhà nước quản lý xã hội có thể sử dụng nhiều
công cụ, biện pháp khác nhau; nhưng công cụ có hiệu lực và đặc trưng nhất
của Nhà nước vẫn là pháp luật. Ngày nay, pháp luật của Nhà nước không chỉ
bó hẹp ở chức năng cưỡng chế, trừng trị mà điều quan trọng nó còn là công cụ
hướng dẫn, khuyến khích, thúc đẩy, điều chỉnh sự phát triển của xã hội, đặc


25

biệt là sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Nói cách khác, pháp luật còn tạo
môi trường cho các quan hệ kinh tế mới phát triển.
Với ý nghĩa đó, pháp luật của Nhà nước ta hiện nay có vai trò vô cùng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status