Pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất và thực tiễn thi hành tại tỉnh hòa bình - Pdf 53

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

LÊ MINH LÝ

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
------------------

LÊ MINH LÝ

PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung

Hà Nội, ngày tháng

năm 2017

Tác giả Luận văn


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu

STT

Giải thích

1

GCNQSDĐ

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

2

GPMB

Giải phóng mặt bằng

3

NSDĐ



Phụ lục II

đường QL6 vào dự án sân Gold, kết hợp phục vụ dân sinh tại xóm Miếu,
xã Trung Minh, Tp Hòa Bình
Bảng 2.2: Bảng tổng hợp hỗ trợ khác dự án đường QL6 vào dự án sân

Phụ lục II

Gold, kết hợp phục vụ dân sinh tại xóm Miếu, xã Trung Minh, Tp Hòa
Bình

Phụ lục II

Phụ lục III

Phụ lục III

Phụ lục IV

Bảng 2.3: Bảng chi tiết phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước THĐ của hộ gia đình bà Nguyễn Thị An
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp phương án bồi thường, hỗ trợ dự án đầu tư
đường Hòa Lạc – Hòa Bình
Bảng 3.2: Bảng tổng hợp các nhân khẩu được bồi thường, hỗ trợ công
trình đầu tư đường Hòa Lạc – Hòa Bình
Bảng 4.1: Bảng số liệu công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa
bàn tỉnh Hòa Bình từ năm 2007 – 2016



THU HỒI ĐẤT QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH HÒA BÌNH........19
2.1.
Nội dung pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất .............................. 19
2.1.1. Các nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ......................................... 19
2.1.2. Phạm vi và đối tượng hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ............................... 20
2.1.3. Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất................................................. 22
2.2.
Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ........................................................................................ 36
2.2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hòa Bình tác động
đến việc thực hiện pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất ............................. 36
2.2.2. Đánh giá những kết quả đạt được trong quá trình thực hiện pháp luật về hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hòa Bình.......................................... 40
2.2.3. Những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện pháp luật
về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ................................. 52
2.2.4. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong quá trình thực
hiện pháp luật về hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Hòa Bình ......... 55
CHƢƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ HỖ TRỢ KHI NHÀ NƢỚC THU
HỒI ĐẤT TẠI TỈNH HÒA BÌNH ......................................................................... 58


3.1.

Định hướng hoàn thiện pháp luật khi Nhà nước . ....................................... 58

3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất phải dựa trên quan
điểm, đường lối của Đảng và tiếp tục đổi mới chính sách , pháp luật đất đai trong
thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới. ....................................................... 58
3.1.2. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hoàn thiện

KẾT LUẬN .............................................................................................................. 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 1
PHỤ LỤC ................................................................................................................... 5


1

MỞ ĐẦU
1.
Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất
không gì có thể thay thế được, là nền tảng để xây dựng cơ sở sản xuất, cơ sở kinh tế,
khu dân cư, công trình văn hóa – xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia.
Hiện nay Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa , hiện đại hóa đất nước,
phấn đấu năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo
hướng hiện đại, chính vì vậy hàng vạn ha đất đã được Nhà nước thu hồi đề xây dựng
các khu đô thi, khu công nghiệp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho quốc phòng an ninh. Việc
THĐ đã mang lại kết quả tích cực trong yêu cầu phát triển cơ sở hạ tầng, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông, lâm nghiệp sang
công nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu dân
số từ nông thôn ra thành thị và các khu công nghiệp, các dự án THĐ xây dựng các
công trình an sinh xã hội góp phần ổn định đời sống của người dân. Tuy nhiên, vấn đề
THĐ và những chính sách hỗ trợ sau khi THĐ là vấn đề rất nhạy cảm hiện nay, tồn tại
rất nhiều bất cập, vướng mắc, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của người dân. Chính
vì vậy, vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước THĐ hiện nay là một trong những vấn đề “ nóng “
mà xã hội rất quan tâm.
Hiện nay công tác thực hiện chính sách hỗ trợ sau khi Nhà nước THĐ còn gặp
rất nhiều khó khăn, vướng mắc, hiệu quả thấp. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực
trạng này, trong đó nguyên nhân sâu xa xuất phát từ các quy định của pháp luật về hỗ
trợ khi Nhà nước THĐ chưa được hoàn thiện và cơ chế thực hiện chưa phù hợp. Nhận

dự thảo Luật đất đai sửa đổi” PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến tổ chức tại Đại học Luật
Hà Nội; đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (2013) “Pháp Luật về bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất – thực trạng và hướng hoàn thiện”, PGS.TS
Nguyễn Thị Nga, Đại học Luật Hà Nội. Ngoài ra còn có một số bài viết tiêu biểu như:
“Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất” của TS.Trần Quang Huy, Tạp chí Luật
học, số 10/2010; “Vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước THĐ trong Luật đất đai 2013”, Phạm
Văn Võ (2015), Tạp chí Luật học, số 1/2015. Một số Luận án, Luận văn nghiên cứu
xoay quanh vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước THĐ gần đây như: Luận văn “Pháp luật về hỗ
trợ khi Nhà nước THĐ nông nghiệp qua thực tiễn thi hành tại thành phố Phủ Lý – tỉnh
Hà Nam”, Trần Thị Ngà (2014), Luận văn Thạc sỹ Luật học, Đại học Luật Hà Nội.
Các nghiên cứu này đã phân tích, làm rõ cơ sở lý luận của việc hỗ trợ khi Nhà
nước THĐ, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước THĐ tại một
số địa phương và trên cả nước. Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nào chuyên sâu về
lĩnh vực hỗ trợ khi Nhà nước THĐ, đặc biệt là tập trung nghiên cứu thực trạng áp dụng
và thực thi pháp luật tại tỉnh miền núi Hòa Bình. Luận văn nghiên cứu và kế thừa các
thành tựu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu trước nhưng có sự tập chung về hỗ trợ
khi Nhà nước THĐ một cách chuyên sâu hơn qua thực tiễn thi hành tại tỉnh Hòa Bình.
3.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
i) Mục đích nghiên cứu


3

Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được những mục đích cơ bản sau:
- Tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về hỗ trợ khi Nhà nước
THĐ.
- Tìm hiểu những đặc điểm và nội dung cơ bản của pháp luật quy định về hỗ trợ
khi Nhà nước THĐ.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước

4

-

Nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước THĐ qua

thực tiễn thi hành tại tỉnh Hòa Bình.
ii) Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ giới hạn của một bản luận văn thạc sỹ Luật chuyên ngành
Luật kinh tế, đề tài tập chung nghiên cứu các quy định của pháp luật về các chính sách
hỗ trợ khi Nhà nước THĐ. Những nội dung khác của pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước
THĐ tác giả hi vọng sẽ được đi sâu và nghiên cứu tại các công trình tiếp theo.
Luận văn đã tiếp cận và phân tích các quy định hiện hành của Luật đất đai từ
năm 1987 đến nay và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bên cạnh đó, Luận văn cũng
tìm hiểu các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi
Nhà nước THĐ trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Qua việc nghiên cứu những quy định của
pháp luật, học viên mong muốn làm rõ, cụ thể hóa những vấn đề liên quan đến hỗ trợ
khi Nhà nước THĐ để rút ra những kết quả đạt được trong công tác thực thi pháp luật
về mảng đề tài này. Đồng thời học viên cũng đưa ra những đánh giá, nêu ra những khó
khăn, nguyên nhân và đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả hơn nữa trong công tác hỗ trợ khi Nhà nước THĐ.
5.
Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, trong quá trình thực hiện Luận văn sẽ sử
dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây: phương pháp luận nghiên cứu Khoa học
của Chủ nghĩa Mác – Lênin, phương pháp duy vật biện chứng lịch sử. Bên cạnh đó,
với mục tiêu tìm hiểu các quy định của pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước THĐ và đánh
giá thực tiễn thi hành hỗ trợ khi Nhà nước THĐ, luận văn còn sử dụng các phương
pháp sau:
- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, đánh giá: Phân tích, tổng hợp số

Thứ ba, đề xuất những định hướng và các giải pháp cụ thể góp phần tiếp tục
hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ nói chung và
trên địa bàn tỉnh Hòa bình nói riêng.
7.
Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
Luận văn được bố cục gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất qua thực
tiễn thi hành tại tỉnh Hòa Bình.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất tại tỉnh Hòa Bình.


6

CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT HỖ
TRỢ KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. Khái niệm và mục đích, ý nghĩa của hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
Trong đời sống cộng đồng, hỗ trợ được hiểu là sự “ tương thân, tương ái “
thông qua những hành động hỗ trợ về vật chất và tinh thần để giúp một thành viên
hoặc một nhóm người trong xã hội vượt qua được khó khăn hay những rủi ro mà họ
gặp phải trong cuộc sống để sớm ổn định đời sống. Theo từ điển tiếng Việt thông
dụng, “ Hỗ trợ: Giúp thêm, góp thêm vào “ (86, tr.332). Như vậy, dưới góc độ ngôn
ngữ, hỗ trợ là sự giúp đỡ giữa con người với con người nhằm san sẻ những khó khăn,
rủi ro trong cuộc sống.
Thuật ngữ hỗ trợ không chỉ sử dụng trong đời sống hằng ngày mà còn được sử
dụng trong các lĩnh vực pháp luật nói chung và Luật đất đai nói riêng. Hỗ trợ khi Nhà

được tính bồi thường tương đương với giá thị trường để đảm bảo quyền lợi cho họ,
chính sách hỗ trợ khi Nhà nước THĐ hiện nay không thực sự hiệu quả và giúp họ
trang trải, ổn định cuộc sống. Vì vậy, đa số người dân mong muốn hướng tới việc Nhà
nước phải thay đổi mức bồi thường hơn là chính sách hỗ trợ.
Xét ở phạm vi tổng thể, trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay, với vai trò Nhà
nước là đại diện chủ sở hữu đất đai và đặc biệt trong bối cảnh thị trường bất động sản
có nhiều biến động thì việc Nhà nước duy trì khung giá đất của mình trên cơ sở có sự
điều tiết cần thiết và sử dụng công cụ hỗ trợ đối với người có đất bị thu hồi vẫn là vấn
đề cần thiết và khách quan. Đặc biệt, chính sách hỗ trợ là chủ trương phù hợp với bản
chất Nhà nước của dân, do dân, vì dân đồng thời đây là chính sách giúp cho việc thực
thi bồi thường khi Nhà nước THĐ hoàn chỉnh và thực thi có hiệu quả hơn.
1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của việc hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
THĐ không chỉ làm chấm dứt quyền chiếm hữu và quyền sử dụng đất mà còn
ảnh hưởng rất nhiều đến lợi ích của người bị THĐ, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của xã
hội, lợi ích của đối tượng được hưởng lợi từ việc THĐ ( chủ đầu tư, doanh nghiệp, cơ
quan, tổ chức,…) Do vậy, trên thực tế giải quyết hậu quả của việc THĐ gặp rất nhiều
khó khăn, vướng mắc. Việc giải quyết tốt vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước THĐ sẽ mang
lại ý nghĩa to lớn trên nhiều phương diện:

Về phương diện chính trị
Là một nước nông nghiệp với khoảng 70% dân số là nông dân, vấn đề đất đai ở
Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và nhạy cảm. Các chính sách pháp luật về
đất đai có sự ảnh hưởng rất lớn về mặt chính trị. Các chủ chương, chính sách của Đảng
và Nhà nước đúng đắn, phù hợp với thực tiễn và được thực thi nghiêm túc sẽ tạo sự ổn
định trong đời sống của người dân và củng cố sự ổn định chính trị. Ngược lại, nếu chủ
chương, chính sách và các quy định của pháp luật không phù hợp sẽ tạo ra sự mất ổn


8


Cơ sở của việc xây dựng pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
Các quy định về hỗ trợ khi Nhà nước THĐ được xây dựng dựa trên cơ sở lý
luận và thực tiễn sau đây:
1.2.

1

Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2017 của Tổng cục thống kê


9

Thứ nhất, vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước THĐ được đặt ra trên cơ sở quyền sở hữu
tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.
Theo quy định tại Điều 12 Hiến pháp năm 1946 về bảo hộ quyền sở hữu tư
nhân về tài sản “Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm“,
quyền này được tiếp tục khẳng định trong Hiến pháp năm 1992: “Công dân có quyền
sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản
xuất, vốn và tài sản khác trong doanh nghiệp…Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu hợp
pháp và quyền thừa kế của công dân” (Điều 58) và Hiến pháp năm 2013: “Mọi người
có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư
liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác.
Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ” ( Điều 32 ). Như vậy,
quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi cá nhân và tổ chức đã được ghi nhận trong
Hiến pháp khi Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng thì đối với người bị THĐ phải được hỗ trợ di chuyển chỗ
ở, ổn định đời sống.
Thứ hai, Hiến pháp năm 1980 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, tất cả quyền lực thuộc về nhân dân…” ( Điều 6 ), Hiến pháp năm 1992 quy
định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do

trợ khi Nhà nước THĐ.
Thứ năm, vấn đề hỗ trợ khi Nhà nước THĐ được xây dựng dựa trên chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng
ổn đinh, lâu dài.
Nhìn lại thành tựu hơn 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước có thể
nhận thấy rằng những thành tựu này là kết quả của sự đổi mới tư duy mà yếu tố cơ bản
là đổi mới tư duy về sở hữu tài sản. Để giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao
động, tạo ra một động lực mới cho sản xuất nông nghiệp, Đảng ta đã sáng suốt khi lựa
chọn và thực hiện việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp làm khâu đột phá
toàn bộ quá trình cải cách kinh tế với việc từng bước xác lập địa vị làm chủ của hộ gia
đình, lâu dài và mở rộng các quyền năng cho NSDĐ. Như vậy, kể từ đây quyền sử
dụng đất được tách khỏi quyền sở hữu đất đai được chủ sở hữu đất đai chuyển giao
cho NSDĐ thực hiện và trở thành một loại quyền về tài sản thuộc sở hữu của NSDĐ ,
hay nói cách khác “Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện, còn
quyền sử dụng đất thuộc quyền sở hữu của NSDĐ”.
Như vậy, bằng việc pháp luật ghi nhận và bảo hộ quyền của NSDĐ thì dường
như NSDĐ ở nước ta là người “sở hữu” một loại quyền về tài sản đó là “quyền sử
dụng đất”. Bởi lẽ, NSDĐ được pháp luật trao cho các quyền năng liên quan đến quyền
sử dụng đất như: quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, tặng
cho, thừa kế quyền sử dụng đất; quyền thế chấp, bảo lãnh,…. Một khi pháp luật đã
thừa nhận quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản của NSDĐ thì khi Nhà nước
THĐ Nhà nước phải bồi thường, hỗ trợ cho NSDĐ.


11

1.3.

Các yếu tố tác động đến pháp luật về hỗ trợ khi Nhà nƣớc thu hồi đất
- Pháp luật về hỗ trợ chịu sự tác động của đường lối, chính sách của Đảng và

nước THĐ của cá nhân, hộ gia đình sẽ thay đổi cho phù hợp.


12

- Pháp luật về hỗ trợ chịu sự tác động của yếu tố con người:
Thứ nhất, đối với NSDĐ có đất bị nhà nước thu hồi: Khi thực hiện chính sách
hỗ trợ nhằm thực hiện các công trình, dự án như: Mở rộng đường giao thông thuộc khu
dân cư, xây dựng nhà ở để kinh doanh, làm khu công nghiệp cho doanh nghiệp hoặc
trung tâm thương mại,…thì thường xuyên xảy ra trường hợp có người đang sử dụng
đất ở vị trí thuận lợi (giáp mặt đường) nay bị thu hồi toàn bộ phải tái định cư nơi khác,
thì cũng khó có thể mua được một mảnh dất như cũ để định cư. Hoặc ngược lại, có
người đang sử dụng đất ở vị trí không thuận lợi nhưng khi có dự án đi qua ngẫu nhiên
họ lại được ở vị trí thuận lợi và từ đó gây ra tâm lý nhiều người bị THĐ không muốn
di chuyển hoặc nếu đồng ý chuyển họ đòi giá bồi thường và các chính sách hỗ trợ
thường rất cao trong khi giá của Nhà nước thấp hơn nhiều so với thị trường, nên
thường là các dự án chậm được triển khai do quá trình thỏa thuận về giá bồi thường,
hỗ trợ của các bên. Điều này đã làm nảy sinh sự so sánh giữa những NSDĐ có đất bị
thu hồi và gây ra tình trạng khiếu kiện, tranh cấp kéo dài làm cho việc thu hồi, giải
phóng mặt bằng, bồi thường triển khai chậm.
Thứ hai, đối với nhà đầu tư: Trong quá trình thực hiện hỗ trợ khi Nhà nước
THĐ, nhà đầu tư thường phải làm việc với nhiều đối tác để thực hiện việc hỗ trợ nên
không ít trường hợp phải chi phí thêm cho địa phương, chi thêm ngoài phương án cho
người bị thu hồi. Bên cạnh đó, việc THĐ để thực hiện những dự án như xây dựng nhà
sinh thái, nhiều địa phương cũng không ưu tiên trả bằng đất mà trả bằng tiền làm cho
người dân mất thêm thời gian đi tìm mua đất để định cư nên cũng gặp nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó theo cơ chế thu hồi dân sự có rất nhiều trường hợp Doanh nghiệp, nhà
đầu tư không tự thỏa thuận được với NSDĐ về các chính sách hỗ trợ cho người dân
khiến cho dự án không thể triển khai hoặc doanh nghiệp phải nhờ đến cơ quan công
quyền để THĐ. Điều này đã góp phần làm tăng tình trạng lạm quyền, tham nhũng,

muốn chuyển đi nơi khác. Một vấn đề khác nữa là nước ta là nước đang phát triển vì
thế vấn đề tài chính là một trong những vấn đề nan giải khi nhắc đến hỗ trợ. Chính vì
ngân sách còn hạn hẹp nên việc hỗ trợ cho NSDĐ còn chưa hợp lý và chưa đủ để
người dân có thể trang trải cuộc sống của mình sau khi bị mất đất.
- Pháp luật về hỗ trợ chịu sự tác động của yếu tố hội nhập quốc tế: Hiện
nay, với thị trường đầu tư mở cửa, quan hệ kinh tế quốc tế mở rộng, cho các cá nhân tổ
chức nước ngoài đầu tư kinh doanh thì một trong những yếu tố thu hút đầu tư nước
ngoài chính là pháp luật. Pháp luật về hỗ trợ chính là một công cụ đắc lực phục vụ cho
công tác giải phóng mặt bằng. Khi Việt Nam hội nhập càng sâu, rộng bao nhiêu thì
chính sách hỗ trợ càng cần được thay đổi cho phù hợp đảm bảo đẩy nhanh tiến độ
THĐ, giải phóng mặt bằng, rút ngắn thời gian thực hiện dự án. Đây là yêu cầu xuất
phát từ thực tế và sự so sánh giữa các nước trong khu vực và trên thế giới.


14

1.4.

Pháp luật về hỗ trợ khi nhà nƣớc thu hồi đất của một số nƣớc trên thế giới
và những gợi mở cho Việt Nam.

1.4.1. Kinh nghiệm của một số nƣớc trên thế giới.
1.4.1.1. Trung Quốc
Trung Quốc là nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng về chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội với nước ta. Hiện nay, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu vượt
bậc trong phát triển kinh tế và tiến tới xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, kinh nghiệm phát triển
kinh tế của Trung Quốc nói chung và kinh nghiệm lập pháp nói riêng trong đó có chế
định về hỗ trợ khi Nhà nước THĐ là kinh nghiệm bổ ích cho Việt Nam tham khảo và
học tập.
Về thẩm quyền THĐ: Theo pháp luật đất đai Trung Quốc, chỉ có Quốc vụ viện

sản xuất cho những người tái định cư; (ii) Năng lực thể chế của các chính quyền địa
phương khá mạnh, chính quyền cấp tỉnh chịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc thực
hiện chương trình bồi thường hỗ trợ tái định cư; (iii) Quyền sở hữu đất tập thể làm cho
việc thực hiện bồi thường hỗ trợ tái định cư có nhiều thuận lợi, đặc biệt là ở nông thôn,
tiền đền bù cho đất đai bị mất không trả cho từng hộ gia đình mà được cộng đồng sử
dụng để tìm kiếm, phát triển đất mới hoặc mua của các cộng đồng sở tại hay dùng để
phát triển kết cấu hạ tầng, chính quyền thôn, xã chịu trách nhiệm phân chia cho các hộ
bị ảnh hưởng.
1.4.1.2. Singapore
Chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ ở Singapore quy định trước
khi tiến hành THĐ phải báo trước cho người dân bị ảnh hưởng từ 2-3 năm để đảm bảo
tính công khai minh bạch. Singapore quy hoạch không theo địa giới hành chính mà
theo phân khu chức năng khiến cho việc quy hoạch và triển khai thực hiện được thống
nhất. Các chính sách bồi thường, hỗ trợ được tiến hành một cách thận trọng dựa trên
nguyên tắc công khai, minh bạch trong quá trình thực thi.
Mức bồi thường thiệt hại khi THĐ được xác định căn cứ vào giá trị thực tế của
bất động sản của chủ sở hữu; các chi phí tháo dỡ, di chuyển chỗ ở hợp lý; chi phí mua
nguyên vật liệu xây dựng nhà ở mới…. Trường hợp người bị THĐ không tán thành
với phương án bồi thường thiệt hại do Nhà nước xác định, họ có quyền thuê một tổ
chức định giá tư nhân để tiến hành định giá lại các chi phí thiệt hại. Nhà nước trả tiền
cho công tác định lại giá này.
Việc xác định giá bồi thường được Singapore thực hiện căn cứ vào giá trị bất
động sản do người bị THĐ đầu tư chứ không căn cứ vào giá trị thực tế của bất động
sản. Phần giá trị tăng thêm do sự đầu tư cơ sở hạ tầng của Nhà nước được bóc tách
2

Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Minh Ngọc (2010), pháp luật về bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất ở Singapore và Trung Quốc – Những gợi mở cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về bồi thường, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp chí luật học, số 10/2010.


căn cứ xác định mức lương trung bình của người lao động theo Luật tiêu chuẩn lao
động 3.

3

Nguyễn Quang Tuyến, “ Kinh nghiệm một số nước về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”, Cổng thông tin
điện tử Viện nghiên cứu lập pháp, tại địa chỉ:
http://vnclp.gov.vn/ct/cms/tintuc/Lists/kinhnghiemqt/View_Detail.aspx?ItemID=115 , ngày truy cập 20/05/2017.


17

1.4.1.4. Ấn Độ
Điều 4 phần II Đạo luật THĐ của Ấn Độ có quy định về vấn đề tham vấn người
dân trong cơ chế THĐ ở tại Ấn Độ. Theo đó, cơ quan phụ trách về bồi thường, hỗ trợ
phải tổ chức tham vấn người dân bị ảnh hưởng trong khi xây dựng kế hoạch. Bên cạnh
đó, việc xây dựng ngân sách bao gồm dự toán có liên quan cũng phải tham vấn với đại
diện của các hộ gia đình.
Đạo luật THĐ của Ấn Độ quy định sau khi dự án THĐ được thông báo trên địa
phương và công khai ở những địa điểm thích hợp, chủ sở hữu không được bán tài sản,
sửa chữa, cải tạo. Những phần cải tạo, sửa chữa sẽ không được bồi thường nếu như
không được sự cho phép trước.
Về các biện pháp hỗ trợ, pháp luật Ấn Độ quy định chính sách tạo công ăn việc
làm cho các hộ bị ảnh hưởng, ít nhất mỗi hộ một người, tùy thuộc vào mức độ phù hợp
của từng cá nhân. Bên cạnh đó là các biện pháp phục hồi thu nhập khác như đào tạo
cho các cá nhân để có thể đáp ứng được yêu cầu công việc; ưu tiên cho những lao
động bị mất việc làm và người thất nghiệp bằng cách tạo công ăn việc làm trong dự án;
các trang thiết bị đào tạo để xây dựng kỹ năng, chuyên môn để tự kinh doanh; cấp học
bổng và tạo các cơ hội để phát triển nghề nghiệp...
1.4.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status