Pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn áp dụng tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội - Pdf 28


Đại học quốc gia hà nội
khoa luật

Lê Thị Yến Pháp luật về bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn áp dụng
tại địa bàn quận tây hồ, thành phố hà nội Luận văn thạc sĩ luật học
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Hữu Nghị

Hà nội - 2010
MỤC LỤC
Trang

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các chữ viết tắt Danh mục các hình

16
1.2.3.
Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
20
1.3.
Quan niệm về hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
21
1.3.1.
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
21
1.3.2.
Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
22
1.3.2.
Phân biệt giữa hỗ trợ, tái định cư với bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất
23
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TẠI ĐỊA BÀN QUẬN TÂY HỒ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
26
2.1.
Cơ sở pháp lý thực hiện việc bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội
từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay
26
2.1.1.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG
KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỰC TIỄN
87
3.1.
Giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất
87
3.1.1.
Thiết lập khung pháp lý về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất trên cơ sở đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ và tính ổn
định tương đối cao
87 3.1.2.
Thực hiện các biện pháp đẩy nhanh việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác
gắn liền với đất
88
3.1.3.
Hoàn thiện các quy định về giá đất
91
3.1.4.
Hoàn thiện các quy định về đơn giá tính bồi thường, hỗ trợ
về tài sản (nhà, công trình, cây trồng, hoa màu…)
93
3.1.5.
Hoàn thiện các chính sách hỗ trợ
95
3.1.6.

tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất
109
3.2.6.
Xác lập cơ chế giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất
111

KẾT LUẬN
113

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
117
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BQL
: Ban Quản lý
BT, HT
: Bồi thường, hỗ trợ
GCN
: Giấy chứng nhận
GPMB
: Giải phóng mặt bằng
HĐND
: Hội đồng nhân dân
HGĐ
: Hộ gia đình
HTKT
Danh mục các hình

Số hiệu
hình
Tên hình
Trang
1.1
Giải quyết hài hòa về lợi ích giữa ba bên khi NNTHĐ
14

1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Theo quy luật chung của sự phát triển kinh tế từ nông nghiệp lạc hậu
lên công nghiệp tiên tiến và hiện đại, Việt Nam đang tiến hành quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa các ngành kinh tế và đô thị hóa một bộ phận nông
thôn. Muốn vậy, phải có sự chuyển dịch mạnh về cơ cấu sử dụng các loại đất,
nhằm tạo điều kiện cho việc cơ cấu lại nền kinh tế đất nước theo hướng tăng
mạnh tỷ trọng ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng cơ bản và
ngành thương mại - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp - thủy sản. Từ
đó đời sống vật chất, tinh thần của người dân nói chung được nâng cao, an
ninh chính trị, trật tự an toàn được ổn định và giữ vững.
Quá trình phân phối lại đất đai nêu trên của Nhà nước, mà cụ thể là
thông qua việc Nhà nước thu hồi đất (NNTHĐ), nhất là đối với đất nông

trong quá trình thực hiện việc bồi thường khi NNTHĐ đã lợi dụng các “khe
hở” của pháp luật đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ
nói riêng để trục lợi, thậm chí có những vi phạm pháp luật nghiêm trọng và
gây thiệt hại rất lớn cho Nhà nước, cho người sử dụng đất (SDĐ) và cho xã hội.
Đồng thời, sự tin tưởng của người dân vào chính sách, pháp luật đất đai nói chung
và pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ ở một số địa phương chưa cao, tính tự
giác của người SDĐ trong việc chấp hành quyết định THĐ của Nhà nước còn yếu
kém; do đó tại một số dự án cụ thể, giữa Nhà nước - người SDĐ - NĐT chưa tìm
được tiếng nói chung trong quá trình thực hiện việc bồi thường khi NNTHĐ.
Có vị trí địa lý quan trọng, là trung tâm dịch vụ - du lịch - văn hóa, là
vùng bảo vệ cảnh quan thiên nhiên của Thủ đô Hà Nội [49], quận Tây Hồ
phải chủ động được quỹ đất khá lớn để đáp ứng tốt nhu cầu SDĐ của các dự
án phát triển hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, hạ tầng kỹ thuật và các dự án
phát triển, hiện đại nền quốc phòng và an ninh nhân dân. Để đạt được mục
tiêu này, quận Tây Hồ phải tiến hành THĐ, đồng thời cần thực hiện tốt việc
bồi thường khi NNTHĐ. Song thời gian vừa qua, cũng như các địa phương
3
khác trong phạm vi toàn quốc, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội cũng đã và
đang phải đối mặt với nhiều thách thức kể trên trong quá trình thực hiện việc
bồi thường khi NNTHĐ. Vì lẽ đó, một số dự án đầu tư đã không triển khai
được theo tiến độ dự kiến, không hoàn thành việc BT, HT và TĐC theo đúng
kế hoạch đặt ra. Mặt khác, cuộc sống và sản xuất của người dân bị THĐ, đặc
biệt là đối với những người dân phải di chuyển chỗ ở, đang có những xáo trộn
mà các quy định của pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ hiện hành cũng
như thực tiễn áp dụng chưa giải quyết được.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các quy định pháp luật về bồi
thường khi NNTHĐ qua thực tiễn của một địa phương là cần thiết, nhằm góp

thường khi NNTHĐ ở mức độ và phạm vi khác nhau. Có công trình, bài báo
nghiên cứu đi sâu phân tích, bình luận một số khía cạnh pháp lý về bồi thường
khi NNTHĐ; có công trình, bài báo nghiên cứu vấn đề này ở phạm vi rộng
nhằm đánh giá khái quát pháp luật và thực trạng pháp luật về bồi thường khi
NNTHĐ. Bên cạnh đó, lại có công trình nghiên cứu vấn đề này thông qua
việc đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật tại địa bàn cụ thể của một tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương… Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên
cứu vấn đề này nhìn từ góc độ thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi
NNTHĐ trên phạm vi địa bàn cấp huyện. Với mong muốn được tiếp cận vấn
đề từ góc độ thực tiễn một cách chi tiết, đồng thời bằng việc tham chiếu giữa
các quy định của pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ với thực tiễn áp dụng
qua các vụ việc, tình huống cụ thể, một mặt học viên chỉ ra được những quy
định phù hợp, không phù hợp của pháp luật với thực tiễn cuộc sống, mặt khác
cũng đưa ra những nhận xét, đánh giá việc thực thi pháp luật về bồi thường
khi NNTHĐ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở một địa bàn
cụ thể. Trên cơ sở đó, tôi đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ cho
phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn hiện nay và trong tương lai.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về bồi thường khi NNTHĐ và thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường
5
khi NNTHĐ qua các vụ việc, tình huống cụ thể tại địa bàn quận Tây Hồ - một
đơn vị điển hình có tốc độ đô thị hóa nhanh và mạnh của thành phố Hà Nội.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết các
vấn đề chủ yếu sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về bồi thường khi NNTHĐ;

Để hoàn thành luận văn, tôi đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu
chủ yếu sau:
- Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử của
chủ nghĩa Mác - Lênin nhằm nghiên cứu vấn đề trong trạng thái vận động
biến đổi không ngừng và trong mối quan hệ tổng thể tác động qua lại giữa
hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng khác, đồng thời các hiện tượng
nghiên cứu luôn được xem xét trong quá trình từ hình thành đến phát triển
qua các giai đoạn lịch sử khác nhau. Bên cạnh đó, tôi cũng dựa trên tư tưởng
Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của
Nhà nước trong điều kiện xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa (XHCN) để làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận văn.
Cùng với những phương pháp trên, tôi đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp được thu
thập chủ yếu là các quy định của cơ quan nhà nước ở Trung ương, của UBND
thành phố Hà Nội, UBND quận Tây Hồ và các cơ quan liên ngành về BT, HT
và TĐC khi NNTHĐ. Nguồn thông tin này được thu thập chủ yếu qua Công
báo, các trang web của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đồng thời, tôi
cũng thông qua các quyết định, báo cáo, ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố
Hà Nội, các cơ quan liên ngành, Ban chỉ đạo giải phóng mặt bằng (GPMB)
thành phố, UBND quận Tây Hồ và thông qua các công trình, bài viết, tạp chí,
internet…để lấy thông tin, số liệu liên quan đến pháp luật và thực trạng áp
7
dụng pháp luật về bồi thường khi NNTHĐ tại địa bàn quận Tây Hồ, thành
phố Hà Nội từ khi Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực đến nay.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: Phương pháp này được được sử
dụng để tổng hợp và phân tích các quy định của pháp luật về bồi thường khi

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhìn từ góc độ thực tiễn.
9
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG
KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT

1.1. CÁC VẤN ĐỀ CẦN XÁC ĐỊNH, GIẢI QUYẾT TRONG VIỆC XÂY
DỰNG CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC THU
HỒI ĐẤT
1.1.1. Các thiệt hại cần xem xét, xác định khi Nhà nƣớc thu hồi
đất để bồi thƣờng, hỗ trợ
Trên phương diện lý luận, thiệt hại về vật chất và tinh thần của người
bị THĐ là hậu quả phát sinh trực tiếp từ việc THĐ của Nhà nước. Trong khi
đó, quyền SDĐ và quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân
đã được Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam
ghi nhận và bảo vệ. Do vậy, chúng ta phải xác định đúng, đầy đủ và khách
quan những thiệt hại xảy ra khi Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế.
Từ đó, các phương án bồi thường “thỏa đáng” được thiết lập trên cơ sở phải
đảm bảo quyền lợi Nhà nước, đảm bảo quyền lợi của NĐT, nhất là đảm bảo
các quyền và lợi ích hợp pháp của người bị THĐ. Với cách tiếp cận nêu trên,

này, từ trước đến nay chưa được xem xét và định giá để làm căn cứ bồi
thường. Tuy nhiên, Nhà nước cũng chỉ nên đặt ra các tiêu chí và phương pháp
để xác định giá trị của các thiệt hại vô hình, chứ không nên đưa ra một con số
cụ thể. Chính người bị THĐ sẽ là người trực tiếp tính toán những thiệt hại vô
hình của họ, sau đó những giá trị vô hình mà người bị THĐ đã tính toán cần
được thẩm định lại một cách khách quan, toàn diện bởi một cơ quan thẩm
định độc lập.
Lý do Nhà nước phải bồi thường cho người bị THĐ là dựa trên căn cứ
đất đai là “tài sản” đặc biệt mang tính tự nhiên, do tự nhiên tạo ra, tồn tại
trước khi loài người xuất hiện trên trái đất. Hơn nữa, trong quá trình sử dụng,
sự tác động của con người đối với đất đai có thể làm tăng giá trị của đất. Giá
11
trị của đất đai tăng lên có thể gồm rất nhiều nguyên nhân khác nhau, ví như:
do Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội; do công
tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; do chính bản thân người SDĐ đầu tư
về: khoa học kỹ thuật, tiền vốn, lao động, vật tư nhằm cải tạo, bồi bổ và làm
tăng độ màu mỡ của đất trong quá trình sử dụng… Như vậy, phần giá trị tăng
thêm do chính người SDĐ đầu tư mang lại khi NNTHĐ mà gây ra thiệt hại thì
Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy rằng: đất đai là tài nguyên có hạn của
quốc gia, nó đóng một vai trò vô cùng quan trọng, vì đất đai không chỉ liên
quan trực tiếp đến lợi ích của người SDĐ, của cộng đồng xã hội mà còn ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích của Nhà nước. Bởi vậy, khi NNTHĐ, tùy từng
trường hợp cụ thể mà người bị thu hồi sẽ được bồi thường về đất, về tài sản
gắn liền với đất, bồi thường các chi phí vào đất còn lại, bồi thường thiệt hại
do ngừng việc, ngừng sản xuất, bồi thường các thiệt hại vô hình, được hưởng
các chính sách hỗ trợ (hỗ trợ di chuyển, đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp…)

điều tiết các lợi ích kinh tế của các chủ thể liên quan đến việc THĐ chủ yếu
thông qua các chính sách tài chính về đất đai nhằm đem lại nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước.
Về phía người được hưởng lợi từ việc THĐ (NĐT, các tổ chức, cá nhân
khác…): có thể nói những chủ thể này ít nhiều đều được hưởng những lợi ích
nhất định từ hoạt động THĐ của Nhà nước. Trong trường hợp là NĐT, lợi ích
của họ liên quan đến chi phí lập dự án đầu tư, chi phí liên quan đến BT, HT và
TĐC cho người bị THĐ, các khoản đóng góp của họ cho Nhà nước và xã hội.
Do đó, các khoản chi phí này cũng cần phải tính toán và giải quyết một cách
hài hòa, để đảm bảo lợi ích cho NĐT. Mặt khác, Nhà nước phải xác lập được
cơ chế và có các chế tài ràng buộc trách nhiệm của NĐT để tránh hiện tượng vì
lợi ích của chính mình, NĐT sẵn sàng làm phương hại đến lợi ích hợp pháp của
người bị THĐ, ví như: bồi thường không đúng với diện tích đất thực tế bị thu
hồi, giá đất bồi thường quá thấp so với giá thị trường trong điều kiện chuyển
nhượng bình thường, đặc biệt đối với đất nông nghiệp (ví dụ khi THĐ nông
13
nghiệp để đầu tư khu đô thị, trung tâm thương mại, người bị THĐ được bồi
thường - kể cả hỗ trợ - cao nhất cũng chỉ vài triệu đồng/m
2
; thế nhưng khi đã
xây dựng hạ tầng kỹ thuật xong NĐT có thể chuyển nhượng đất nền với giá từ
30-50 triệu đồng/m
2
), cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội tại các khu TĐC
chưa đáp ứng đủ các điều kiện cho người bị THĐ có được chỗ ở bằng hoặc tốt
hơn nơi ở cũ, vấn đề đào tạo và giải quyết việc làm sau khi bồi thường, GPMB
chưa được quan tâm đúng mức. Không chỉ vậy, Nhà nước cũng cần phải xem

hiện tốt nguyên tắc công bằng và công khai trong việc SDĐ. Bên cạnh đó, tài
nguyên đất đai của quốc gia cũng được đảm bảo khai thác và sử dụng đúng
mục đích, đạt hiệu quả kinh tế cao, giúp cho mục tiêu phát triển thật sự bền
vững mà không để lại hậu quả xấu cho xã hội trong tương lai. Để dễ hình
dung, tôi xin đưa ra hình vẽ 1.1 dưới đây:
Hình 1.1: Giải quyết hài hòa về lợi ích giữa ba bên khi NNTHĐ
1.2. KHÁI NIỆM BỒI THƢỜNG KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.2.1. Về cách hiểu thuật ngữ “bồi thƣờng”, cụm từ “bồi thƣờng
khi Nhà nƣớc thu hồi đất”
Để có cách hiểu toàn diện và sâu sắc thuật ngữ “bồi thường”, cụm từ
“bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất” ta cần phải xem xét, nghiên cứu trên
nhiều phương diện khác nhau.
Trong đời sống thực tiễn, “bồi thường” được sử dụng trong trường
hợp một người nào đó có hành vi gây thiệt hại cho một người khác phải có
trách nhiệm bồi thường những thiệt hại do hành vi của mình gây ra. Hình thức
Nhà nước
Người được
hưởng lợi từ việc
THĐ Người bị THĐ
năm 2001, tại Điều 1, Khoản 9 (sửa đổi, bổ sung Điều 27, LĐĐ năm 1993,
thuật ngữ “bồi thường” được sử dụng trở lại và thay thế thuật ngữ “đền bù”.
Thuật ngữ “bồi thường” tiếp tục được sử dụng tại LĐĐ năm 2003 và các văn
bản hướng dẫn thi hành mà tiêu biểu là Nghị định (NĐ) số 197/2004/NĐ-CP
ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về BT, HT và tài định cư khi
16
NNTHĐ (sau đây gọi tắt là NĐ số 197/2004/NĐ-CP); NĐ số 84/2007/NĐ-CP
ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, THĐ, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục
BT, HT, TĐC khi NNTHĐ và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây gọi tắt
là NĐ số 84/2007/NĐ-CP); NĐ số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/08/2009 của
Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, THĐ, BT, HT
và TĐC (sau đây gọi tắt là NĐ số 69/2009/NĐ-CP). Có thể thấy rằng: việc sử
dụng thuật ngữ “bồi thường” từ khi có LĐĐ năm 2003 đến nay, đã thể hiện
hàm ý đây là quan hệ bồi thường ngang giá và sòng phẳng.
Đề cập khái niệm này Khoản 6, Điều 4, LĐĐ năm 2003 đưa ra cách giải
thích như sau: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá
trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”.
Tóm lại, bồi thường khi NNTHĐ chỉ diễn ra khi Nhà nước thu hồi một
diện tích đất nào đó để chuyển sang một mục đích sử dụng khác vì lợi ích quốc
phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế. Thực
chất, đây chính là việc giải quyết mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với người
bị THĐ và NĐT. Do đó, việc bồi thường khi NNTHĐ phải thực hiện theo quy
định của Nhà nước về giá đất; về điều kiện được BT, HT và TĐC; về trình tự,
thủ tục BT, HT và TĐC; về nguyên tắc thực hiện BT, HT và TĐC Cũng cần
phải nhấn mạnh rằng, việc bồi thường khi NNTHĐ không giống với việc bồi
thường thiệt hại trong lĩnh vực pháp luật dân sự, hình sự, lao động. Bởi lẽ, nó

nước luôn là người chủ động trong việc xác định giá đất bồi thường dựa trên các
căn cứ khoa học và tôn trọng giá đất hình thành trên thị trường trong điều kiện
bình thường của thửa đất. Việc quy định như vậy là vì đất đai thuộc sở hữu toàn
dân mà Nhà nước là đại diện chủ sở hữu, bản thân người SDĐ không phải là chủ
sở hữu đối với từng diện tích đất riêng lẻ mà họ đang sử dụng, trong tình huống
này, họ chỉ là chủ sử dụng được Nhà nước trao quyền thông qua giao, cho thuê,
công nhận quyền SDĐ hoặc cho phép nhận chuyển quyền.
Các phương pháp tiến hành, trong điều kiện kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN, việc bồi thường khi NNTHĐ cần phải sử dụng kết hợp
18
phương pháp hành chính và phương pháp thỏa thuận nhằm tạo ra sự mềm
dẻo, linh hoạt, tránh sự cứng nhắc, máy móc. Hơn thế, việc bồi thường khi
NNTHĐ là một trong những vấn đề nhạy cảm và có ý nghĩa quan trọng về
chính trị, lịch sử, kinh tế và xã hội. Cho nên, cần phải giải quyết hài hòa mối
quan hệ lợi ích giữa ba bên Nhà nước - người bị THĐ và người nhận lại
quyền SDĐ đã thu hồi thông qua việc sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp
như: phương pháp tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục; phương pháp kinh tế;
phương pháp cưỡng chế.
1.2.2.2. Tính chất của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Bồi thường khi NNTHĐ là một quá trình phức tạp, liên quan trực tiếp
đến lợi ích của các chủ thể tham gia và lợi ích của toàn xã hội; Song, vấn đề
này lại được thể hiện khác nhau tùy theo từng dự án có nhu cầu SDĐ. Vì lẽ
đó, việc bồi thường khi NNTHĐ sẽ thể hiện ở một số tính chất cơ bản sau:
Tính phức tạp, “đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư
liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh và quốc phòng” [37]. Do đó, đất đai thực sự đóng vai trò rất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status