Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
khi nhà nước thu hồi đất (qua thực tiễn thi
hành tại thành phố Hà Nội)
Nguyễn Duy Thạch
Khoa Luật
Luận văn ThS ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Quang Tuyến
Năm bảo vệ: 2007 Abstract: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất. Tìm hiểu khái niệm và chỉ ra những đặc điểm riêng của
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất so với trách nhiệm về bồi thường oan sai trong
lĩnh vực pháp luật hình sự, trách nhiệm vật chất trong lĩnh vực pháp luật lao động.
Đánh giá thực trạng thi hành pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên
địa bàn TP Hà Nội, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế, tồn tại trong lĩnh vực này. Đưa
ra định hướng, đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật về bồi
thường và các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thực thi pháp luật về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất
Keywords: Bồi thường, Luật kinh tế, Pháp luật Việt Nam, Đất đai Content
mở đầu
I. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt;
hồi đất đưa ra những đòi hỏi về bồi thường vượt quá khả năng đáp ứng của Nhà nước; chưa
giải quyết tốt vấn đề đảm bảo công ăn, việc làm cho người bị mất đất sản xuất.v.v. Đây là
một trong những nguyên nhân phát sinh tranh chấp, khiếu kiện đông người, vượt cấp về đất
đai và là một trở ngại không nhỏ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Để
phát huy những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới và tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu “dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh” thì việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất và đề xuất các giải pháp hoàn thiện là một việc làm rất cần thiết
hiện nay.
Hà Nội với vị trí địa, chính trị đặc biệt quan trọng, là Thủ đô của nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam; sự phát triển lớn mạnh của Hà Nội có ý nghĩa quan trọng và tác
động rất lớn đến sự phát triển chung của đất nước. Nhận thức được vinh dự to lớn và trách
nhiệm nặng nề này, Đảng bộ và nhân dân Thủ đô Hà Nội đã không ngừng nỗ lực phấn đấu
xây dựng Thủ đô phát triển về mọi mặt, với phương châm “Hà Nội vì cả nước, cả nước vì Hà
Nội”. Để giải quyết nhu cầu đất đai cho mục tiêu phát triển, trong thời gian 7 năm (2000-
2006), Thành phố Hà Nội đã thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng 1.867 dự án, với số
diện tích đất đã thu hồi là 5.901ha, liên quan đến 162.231 hộ gia đình và đã bố trí tái định cư
cho 12.013 hộ đến nơi ở mới [21, tr.15]. Theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đến năm
2010 của Thành phố Hà Nội đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, hàng năm Thành phố
Hà Nội sẽ phải thu hồi 1.500 đến 2.000 ha đất để triển khai thực hiện các dự án phát triển
kinh tế - xã hội. Với khối lượng diện tích đất phải thu hồi lớn như vậy thì trong những năm
tới, công tác bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP Hà Nội là rất nặng
nề; không chỉ mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của
Thủ đô mà còn tác động lớn đến đời sống của hàng nghìn hộ gia đình. Nếu TP Hà Nội không
có sự chuẩn bị đồng bộ về cơ chế, chính sách hợp lý, không xây dựng được phương án bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư chi tiết, thích hợp thì vấn đề thu hồi đất dễ trở thành “điểm
nóng”, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Xuất phát từ nhận thức và cách tiếp cận vấn đề như trên, tôi lựa chọn đề tài: “Pháp
nói chung và các quy định của TP Hà Nội về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng;
- Nghiên cứu thực trạng thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
(Qua thực tiễn thi hành trên địa bàn Thành phố Hà Nội).
3. Phạm vi nghiên cứu.
Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận văn không có tham vọng đi sâu
nghiên cứu, lý giải một cách có hệ thống, cặn kẽ, thấu đáo và toàn diện các nội dung của
pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Trong khuôn khổ có
hạn của một bản luận văn thạc sỹ luật học, luận văn chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định về bồi
thường, hỗ trợ về đất và tài sản; hỗ trợ và tái định cư cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước
thu hồi đất. Những nội dung khác của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất, tác giả hy vọng sẽ được đi sâu, tìm hiểu ở các công trình nghiên cứu tiếp
theo.
Về thời gian, luận văn nghiên cứu các quy định về bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất được ban hành từ năm 1987 đến nay; với lý do, đây là mốc thời gian Quốc hội ban hành đạo luật đầu tiên về đất đai ở nước ta: Luật Đất đai năm 1987, trong đó đề cập đến vấn đề bồi
thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất.
III. Phương pháp nghiên cứu.
Để đạt được những yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu mà đề tài đặt ra, trong quá trình
nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của
chủ Chủ nghĩa Mác - Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền
XHCN;
- Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước
và Pháp quyền XHCN trong điều kiện kinh tế thị trường;
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: Phương
pháp phân tích, so sánh luật học; phương pháp đánh giá, bình luận, diễn giải, quy nạp;
phương pháp thống kê, điều tra xã hội học.v.v.
IV. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn.
thiện hệ thống pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất; làm rõ đặc điểm và
bản chất của việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất so với việc bồi thường trong
các trách nhiệm pháp lý khác như: trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong
pháp luật dân sự; trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các cơ quan tố tụng gây ra
trong pháp luật hình sự; đánh giá ý nghĩa, tác động của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi
đất.v.v.
Thứ hai, đi sâu phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất và việc thực thi mảng pháp luật này trên địa bàn TP Hà Nội; trên cơ sở đó chỉ ra
những tồn tại, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế này trong các quy định hiện hành
về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, cũng như những bất cập về cơ chế, chính sách thực
thi mảng pháp luật này trên địa bàn TP Hà Nội;
Thứ ba, đề xuất những định hướng và các giải pháp cụ thể để góp phần tiếp tục hoàn
thiện hệ thống pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và hoàn thiện cơ
chế, chính sách thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn TP Hà
Nội nói riêng.
V. Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
được bố cục bao gồm 3 chương: Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất.
Chương 2: Thực trạng thi hành pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất (qua thực tiễn thi hành tại Thành phố Hà Nội).
Chương 3: Định hướng và giải pháp góp phần tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
References
Văn kiện của Đảng (Xếp theo thứ tự thời gian ban hành)
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, NXB
Văn bản, tài liệu của các cơ quan Nhà nước (Xếp theo thứ tự về hiệu lực và thời gian
ban hành)
13. Chính phủ (2003), Tờ trình Quốc hội về dự án Luật Đất Đai sửa đổi, số 398/CP-PC ngày
07/4/2003, Hà Nội.
14. Chính phủ (2005), Báo cáo Quốc hội Kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất Đai năm 2003,
số 165/CP-NN ngày 21/11/2005.
15. Bộ Tài chính (2004), Hệ thống văn bản pháp luật mới về đất đai, nhà ở và thuế nhà đất,
NXB Tài chính năm 2004, Hà Nội.
16. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Báo cáo tình hình công tác quản lý đất đai (2003-
2006), ngày 20/02/2007, Hà Nội.
17. Viện Nghiên cứu địa chính - Tổng cục địa chính (2000), Báo cáo tổng hợp kết quả
nghiên cứu đề tài độc lập cấp Nhà nước: Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính
sách và sử dụng hợp lý quỹ đất đai, Hà Nội.
18. Hội Khoa học Kỹ thuật xây dựng Việt Nam (2002), Kỷ yếu hội thảo đền bù và giải
phóng mặt bằng các dự án xây dựng ở Việt Nam, tháng 9/2002
19. UBND TP Hà Nội (2004), Báo cáo về tình hình quản lý và sử dụng đất đai (2003-2004)
trên địa bàn Thành phố, Hà Nội. 20. UBND TP Hà Nội (2004), Tờ trình HĐND Thành phố về những nguyên tắc cơ bản để
xây dựng khung giá đất, số 86/TTr-UB ngày 06/12/2004.
21. UBND TP Hà Nội (2006), Tổng kết 6 năm thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TU của
Thành uỷ Hà Nội và Nghị quyết số 09/2000/NQ-HĐ của HĐND Thành phố Hà Nội về
công tác GPMB trên địa bàn Thành phố (2000-2006), Hà Nội .
22. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Dân sự, NXB Tư pháp, Hà Nội
23. Trường Đại học Luật Hà Nội (2006), Giáo trình Luật Đất Đai, NXB Tư pháp, Hà Nội.
Các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả (Xếp theo thứ tự chữ cái của tên
tác giả)
24. TS. Nguyễn Đình Bồng, “Gắn kết quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô
thị”, Báo điện tử Việt NamNet, số ra ngày 20/9/2006.
lần thứ nhất về đánh giá tình hình và kiến nghị bổ sung, sửa đổi chính sách pháp luật
đất đai do Ban kinh tế Trung ương tổ chức tại Hà Nội, ngày 14-15/5/2002.
39. Nguyễn Thị Kim Ngân (2002), “Tổng kết chính sách đất đai, kiến nghị về chủ trương
sửa đổi Luật Đất Đai (Phần tài chính đối với đất đai và đền bù thu hồi đất)”, Hội thảo lần
thứ nhất về đánh giá tình hình và kiến nghị bổ sung, sửa đổi chính sách pháp luật đất
đai do Ban kinh tế Trung ương tổ chức tại Hà Nội, ngày 14-15/5/2002.
40. PGS.TS. Phạm Hữu Nghị (2001), “Luật Đất Đai năm 1993 qua hai lần sửa đổi, bổ sung”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10).
41. PGS.TS. Phạm Hữu Nghị (2004), “Về những điểm mới của Luật Đất Đai năm 2003 qua hai
lần sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10).
42. PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa (2002), “Vai trò của pháp luật đất đai trong việc kiềm chế
những cơn sốt đất”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (5).
43. PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa (2002), “Quyền tài sản trong cải cách kinh tế: quan niệm, một
vài bài học nước ngoài và kiến nghị”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (11).
44. PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa (2004), “Một số bình luận về Luật Đất Đai năm 2003 dưới khía
cạnh chính sách pháp luật”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (6). 45. PGS.TS. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, NXB Đại học Quốc gia,
Hà Nội.
46. Tân Mai (2006), “Các lợi ích “choảng nhau” qua khung giá đất”, Báo Dân Trí, số ra
ngày 12/11/2006.
47. Nông Đức Mạnh (2003), “Đổi mới chính sách đất đai đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà
nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất”, trích bài phát biểu tại phiên bế mạc Hội nghị
Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 7, lần 2, khoá IX, Báo Tiền
phong, số ra ngày 22/01/2003.
48. Kiều Minh (2006), “Làm gì khi quy hoạch sử dụng đất còn nhiều khuyết tật”, Báo điện
tử Việt NamNet, số ra ngày 15/5/2006.
49. TS. Đinh Trọng Thắng (2002), “Sở hữu tư nhân về đất đai hay về quyền sử dụng đất đai:
Kinh nghiệm quốc tế và một vài liên hệ với Việt Nam”, Tạp chí Tài chính, (7).
và Đô thị, số ra ngày 09/10/2006.
64. Phạm Văn Võ (2003), “Về mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất và sự thể
hiện mối quan hệ này trong dự thảo Luật Đất Đai”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (10).
65. Một số vụ việc tác giả luận văn trực tiếp tham gia giải quyết trong quá trình công tác về
GPMB tại TP Hà Nội.