BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN
HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TẠ VĂN THẮNG
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI HUYỆN
HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
TẠ VĂN THẮNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
đồng nghiệp và những người quan tâm để có thể hoàn chỉnh bản luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2015
Học viên
Tạ Văn Thắng
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ
TÁI ĐỊNH CƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH
CƯ KHI.................................................................................................................. 8
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM ....................................................... 8
1.1. Lý luận về thu hồi đất................................................................................. 8
1.1.1. Vai trò của Đất đai trong đời sống kinh tế xã hội ................................... 8
1.1.2. Khái niệm thu hồi đất .......................................................................... 10
1.1.3. Tác động của việc thu hồi đất đối với xã hội và đời sống của người mất đất.. 12
1.2. Lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.14
1.2.1. Lý luận về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất .................................. 14
1.2.2. Lý luận về hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.................... 15
1.2.3. Mục đích, ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất ............................................................................................ 17
1.3. Lý luận về pháp luật bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất .............................................................................................................. 20
QUA THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆNHOÀI ĐỨC,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI. ...................................................................................... 71
3.1. Kinh nghiệm thực hiện công tác Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư tại
một số địa phương trong cả nước - Bài học kinh nghiệm cho thành phố Hà
Nội nói chung và huyện Hoài Đức nói riêng................................................... 71
3.1.1. Kinh nghiệm của Đà Nẵng................................................................... 71
3.1.2. Kinh nghiệm Thành phố Hồ Chí Minh ................................................ 73
3.1.3. Đánh giá việc thực hiện các chính sách và công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn thành phố Hà Nội và rút ra
bài học kinh nghiệm. ..................................................................................... 75
3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất trên cơ sở đánh giá thực trạng áp dụng tại huyện Hoài
Đức, thành phố Hà Nội ................................................................................... 77
3.2.1. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải dựa trên cơ sở kết hợp
hài hòa lợi ích của các bên: ........................................................................... 78
3.2.2. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải đảm bảo khôi phục lại
mức sống ban đầu cho người bị thu hồi đất. .................................................. 79
3.2.3. Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cần có bảo đảm sự thống
nhất, bình đẳng giữa các dự án trong cùng phạm vi địa phương..................... 79
3.2.4. Cần đề cao vai trò của tổ chức quần chúng nhân dân và ý kiến của người
dân trong quá trình thực hiện các bước thu hồi đất và giải phóng mặt bằng. .. 80
3.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất......................................................... 80
3.4. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.............................................................. 82
3.4.1. Thực hiện công khai hóa, dân chủ hóa trong BT, HT và TĐC khi Nhà
nước thu hồi đất: ........................................................................................... 82
3.4.2. Hoàn thiện hệ thống hồ sơ địa chính: ................................................... 83
: Ủy ban nhân dân
MTTQ
: Mặt trận tổ quốc
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hoài Đức là một huyện ngoại thành của Thủ đô Hà Nội với vị trí địa lý: phía
Bắc giáp huyện Đan Phượng, phía Tây giáp huyện Quốc Oai, phía Nam giáp quận
Hà Đông, phía Đông giáp huyện Từ Liêm. Huyện Hoài Đức trở thành cửa ngõ của
thủ đô Hà Nội với nhiều huyết mạch giao thông quan trọng như: Đại lộ Thăng Long,
quốc lộ 32, các trục tỉnh lộ 422, 423, đường Lê Trọng Tấn kéo dài và nhiều dự án
như đường vành đai 4 và một số tuyến đường giao thông quan trọng khác là những
tuyến đường hàng ngày tập trung nhiều phương tiện và người tham gia giao thông
trong và ngoài huyện qua lại, lan tỏa khắp các tuyến trên địa bàn.
Với vị trí tương đối thuận lợi nên trong những năm gần đây, tình hình kinh tế xã hội trên địa bàn huyện có nhiều thay đổi đáng kể, tốc độ đô thị hóa trong toàn
huyện tăng nhanh, cơ cấu kinh tế dịch chuyển dần sang phát triển công nghiệp,
thương mại và dịch vụ. Theo quy hoạch kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội đến năm
2030, huyện Hoài Đức phấn đấu trở thành trung tâm đô thị hiện đại của Thành phố
Hà Nội. Hiện nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội và đô thị đã và đang được triển
khai trên địa bàn như: Khu đô thị Nam, Bắc An Khánh, Khu đô thị Vân Canh Di
Trạch, Khu đô thị Kim Chung Di Trạch, Khu đô thị Bắc đường QL32,... và nhiều dự
án nâng cấp cải tạo một số tuyến đường đã và đang được triển khai thực hiện. Huyện
Hoài Đức chủ trương mở rộng các chính sách thu hút đầu tư từ bên ngoài vào làm
cho diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện đang dần dần bị thu hẹp, thay vào
đó là việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, các khu công nghiệp, khu đô thị và các
trung tâm dịch vụ, thương mại trọng điểm.
Chính bộ mặt kinh tế - xã hội của huyện thay đổi làm cho giá trị
cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, hiện chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu
trực tiếp về công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa
bàn huyện Hoài Đức. Đây là lý do đề tài này được lựa chọn nghiên cứu.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
a) Về mục đích:
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác bồi thường, hỗ trợ
và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn huyện Hoài Đức nhằm tìm ra
những điểm bất hợp lý. Trên cơ sở đó đề xuất ra các giải pháp để hoàn thiện các quy
định của pháp luật trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất trong thời gian tới một cách hiệu quả, bảo đảm hài hòa lợi ích của người sử
dụng đất, nhà nước và chủ đầu tư.
b) Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu, hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghiên cứu, đánh giá và tìm ra những điểm hợp lý và bất hợp lý của pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và đề xuất các giải
pháp kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất;
4. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3
- Khách thể nghiên cứu: Đánh giá tình hình thực hiện chính sách bồi thường,
hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và tìm ra giải pháp kiến nghị hoàn
thiện pháp luật trong công tác này.
- Đối tượng nghiên cứu: Quy định của pháp luật hiện hành về công tác bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư đang thực hiện trên địa bàn huyện Hoài Đức.
- Đối tượng khảo sát: Hoạt động bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của cơ quan
quản lý nhà nước ở địa phương; những cơ quan, tổ chức và cá nhân có đất bị thu hồi
giao được cho chủ đầu tư và bỏ hoang hóa trong thời gian dài. Bên cạnh đó, đối với
những dự án đã bàn giao cho chủ đầu tư thực hiện dự án đến gần chục năm nhưng
hiện người dân vẫn chưa được nhận đất dịch vụ theo quy định. Từ đó, người dân mất
lòng tin vào chế độ chính sách của Nhà nước gây khó khăn cho việc thu hồi đất và
giải phóng mặt bằng đối với những dự án sau này.
Xuất phát từ thực tiễn cho thấy các quy định của pháp luật về công tác bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư trong thời gian qua đã đem lại nhiều hiệu quả trong
công cuộc xây dựng đất nước, song bên cạnh những kết quả thu được thì công tác
này còn nhiều bất cập như: điều kiện được bồi thường, hỗ trợ về đất; giá trị được bồi
thường, hỗ trợ về đất, nhà ở và các tài sản khác; các vấn đề chi trả đất dịch vụ đối với
những dự án cũ; các vấn đề về tái định cư và điều kiện sinh hoạt của người dân phải
di dời,...Bên cạnh đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền trên địa bàn huyện khi áp
dụng pháp luật về bồi thường vào thực tiễn còn cứng nhắc, bị động và thiếu tính linh
hoạt, chưa thực sự lắng nghe các ý kiến đóng góp từ phía người dân có đất bị thu hồi
.Vì vậy, cần phải có những quy định hợp lý, đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước,
cộng đồng và chủ đầu tư để công tác bồi thường đạt hiệu quả cao nhất, đồng thời đây
cũng là một trong những cách thức để huyện Hoài Đức nói riêng và thành phố Hà
Nội nói chung tạo môi trường đầu tư thuận lợi nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư bên
ngoài.
7. Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin:
Để nghiên cứu có hiệu quả những vấn đề do đề tài đặt ra, luận văn sử dụng
phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Đây là
nguyên tắc chủ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình nghiên cứu của luận văn để đưa ra
những nhận định, kết luận khoa học đảm bảo tính khách quan.
+ Phương pháp tiếp cận hệ thống: vấn đề nghiên cứu được đặt trong mối quan
hệ tổng quan, tiếp cận từ tổng thể đến chi tiết, từ lý luận tới thực tiễn, từ chính sách
pháp luật đến thực tiễn triển khai chính sách và thi hành pháp luật.
Chương 1: Những vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà
nước thu hồi đất ở Việt Nam
6
Chương 2: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất và thực tiễn thi hành trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn thi hành
trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố hà Nội.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG,
HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT Ở VIỆT NAM
1.1. Lý luận về thu hồi đất
1.1.1. Vai trò của Đất đai trong đời sống kinh tế xã hội
Đất đai là một tài nguyên thiên nhiên quý giá, là yếu tố không thể thiếu được
đối với bất cứ quốc gia nào. Tài sản này không do bất cứ ai tạo ra và là tặng vật của
thiên nhiên ban tặng cho con người. Đất đai là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát
triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Khi xã hội càng phát triển thì đất
đai càng giữ vị trí quan trọng, như Các Mác từng viết: “Đất đai là tài sản mãi mãi với
loài người, là điều kiện để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là
tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Bởi vậy, nếu không có đất đai thì
ngày một đa dạng và phong phú, song nhu cầu các sản phẩm được tạo ra từ đất vẫn
không giảm.
Đất đai là địa điểm, mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, phân bổ
lực lượng sản xuất và phân bổ dân cư, nhà xưởng, kho tàng, bến bãi, cửa hàng, xây
dựng các công trình cơ sở hạ tầng... Nói cách khác, đất với tư cách mặt bằng diễn ra
các hoạt động kinh tế ngày càng trở nên khan hiếm so với nhu cầu phát triển kinh tế.
Chính vì thế cuộc đấu tranh nội bộ để giành quyền sử dụng đất phù hợp với lợi ích của
mỗi người và nhóm người ngày càng căng thẳng. Trong bối cảnh đó quyền sử dụng
đất trở thành hình thức cất trữ tài sản của nhiều nhà đầu cơ đất.
Đất đai là môi trường con người xây dựng nhà ở, các công trình văn hoá, y tế,
giáo dục,... là điều kiện để tạo dựng các điều kiện sinh hoạt trực tiếp như phân bổ dân
cư, để tổ chức các hoạt động xã hội, xây dựng cơ sở quốc phòng, an ninh và các hoạt
động khác phục vụ cuộc sống của con người.
Đất đai là cơ sở để phát triển các hệ bảo tồn sinh thái như: trồng rừng, khoanh
nuôi tái tạo rừng, giữ gìn nguồn nước, vệ sinh môi trường. Đây là những hoạt động có
tầm quan trọng hàng đầu để bảo tồn môi trường sống của con người và sinh vật ở bất
cứ nước nào nói chung và Việt Nam nói riêng.
Ngày nay, khi dân số trên thế giới tăng lên, đất đai càng có ý nghĩa to lớn
trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đất đai là toàn bộ lãnh thổ gắn
liền với chủ quyền của một quốc gia, không thể quan niệm về một quốc gia không có
đất đai. Chủ quyền của một quốc gia trước hết là chủ quyền về lãnh thổ của mình. Vì
vậy, đất đai được coi là yếu tố cơ bản nhất xác định vị trí chủ quyền lợi ích của một
9
quốc gia, một dân tộc, yếu tố cơ bản xác định cội nguồn của một con người. Dưới giác
độ phát triển kinh tế, đất đai là nguồn lực hàng đầu để phát triển bền vững. Dưới giác
độ lợi ích, đất đai là tài sản, đất đai không chỉ tạo nguồn thu từ đất cho ngân sách nhà
nước mà còn là nguồn thu lớn cho các tổ chức, cá nhân khi tham gia vào thị trường bất
chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai. Như vậy, thu hồi đất được hiểu là một quyết định
hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người
sử dụng nhằm một mục đích nhất định nào đó, khi bị nhà nước thu hồi đất đồng nghĩa
với việc những quyền năng cơ bản của họ đối với thửa đất bị chấm dứt.
Trong Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 đã đề cấp đến vấn
đề thu hồi đất nhưng chưa định nghĩa rõ thế nào là thu hồi đất mà chỉ liệt kê các
trường hợp bị thu hồi đất (Điều 14 Luật Đất đai năm 1987 và Điều 26 Luật Đất đai
năm 1993).
Theo từ điển giải thích Luật học, thu hồi đất được hiểu là “cơ quan nhà nước
có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy định về sử dụng đất
để nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp
bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người
sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng”2.
Khái niệm này đã đề cấp đến các trường hợp thu hồi đất nhưng nội hàm của
khái niệm này chưa bao quát hết các trường hợp thu hồi đất của Nhà nước. Luật Đất
đai năm 2003 ra đời, thuật ngữ thu hồi đất được giải thích tại khoản 5 Điều 4 như sau:
“Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất
hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường quản lý theo quy
định của Luật này”.
Dù đã có sự điều chỉnh và mở rộng nội hàm của vấn đề thu hồi đất, song cách
giải thích này chưa thật chính xác. Do đó, trên cơ sở tổng kết thực tiễn và tiếp thu có
chọn lọc các ý kiến, quan điểm của các nhà khoa học, Luật Đất đai năm 2013 đã quy
định: “Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất
của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại quyền sử dụng đất vi
phạm pháp luật về đất đai” (khoản 11 Điều 4).
Từ những nghiên cứu trên có thể hiểu một cách khái quát về thu hồi đất như
sau: “Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại đất và quyền sử
nuôi, còn là các thiệt hại vô hình khác như mất ổn định cuộc sống, mất chỗ ở, mất tư liệu
sản xuất gắn bó từ bao đời, phải học nghề mới, thiệt hại về tinh thần,....
* Mất chỗ ở
Chỗ ở của người dân không chỉ đơn thuần là nơi họ ăn, ngủ mà còn gắn với tài
sản, môi trường, các mối quan hệ kinh tế, xã hội, văn hóa từ lâu đời. Khi thu hồi đất,
Nhà nước không chỉ thu hồi quyền sử dụng diện tích đất, mà còn tước đi của họ cơ hội
tiếp nối cuộc sống quen thuộc của họ, buộc họ phải chuyển sang một địa bàn mới với
các quan hệ và cơ hội không giống trước. Đối với những người khó thích nghi với điều
kiện mới thì việc di dời là một biến cố nặng nề. Hơn nữa, khi chuyển nhà, các chi phí
phát sinh do cần xây dựng lại nhà cửa, vườn tược, tạo dựng hạ tầng sinh hoạt, dịch vụ
3
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, tr. 31.
12
chung…là khá lớn, thậm chí cả cơ hội làm ăn, nếu không có sự hỗ trợ bên ngoài, nhiều
người dân mất đất không thể tự giải quyết được. Đặc biệt, khi di dời bất đắc dĩ chỗ ở
do đất bị thu hồi, nhiều người dân có tâm lý không thoải mái, tâm lý bị thua thiệt. Nếu
không có sự đả thông tư tưởng và một số hình thức bồi thường thích hợp, những người
dân mất chỗ ở có thể bị kích động, phản ứng tiêu cực với chính sách thu hồi đất của
Nhà nước.
* Mất tư liệu sản xuất
Đất bị thu hồi là đất nông nghiệp hay phi nông nghiệp đều là tư liệu sản xuất
quan trọng của người sử dụng đất. Khi Nhà nước thu hồi có bồi thường bằng diện tích
đất khác đi chăng nữa cũng làm cho người bị mất đất thua thiệt trên các phương diện:
mất địa điểm kinh doanh; mất cơ hội việc làm, mất một phần thành quả đầu tư vào
đất... Chính vì vậy, người sử dụng đất không muốn giao đất cho Nhà nước nếu không
nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra; Theo Từ điển
tiếng Việt thông dụng: “Bồi thường” là “Đền bù những tổn hại gây ra”4; Trong lĩnh
vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi vi phạm
pháp luật gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội. Trong lĩnh vực pháp luật đất đai
thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ năm 1959.5
Đặc biệt khi Luật đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã
ban hành quyết định số 186/HĐBT ngày 31/05/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất
nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, thuật ngữ “bồi
thường” được thay thế bằng thuật ngữ “đền bù”. Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng
trong Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm
1998 và các nghị định hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, việc đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất được thực hiện chỉ đơn giản là việc Nhà nước đền bù thiệt hại do
hành vi thu hồi đất gây ra cho người sử dụng đất mà không đi kèm sau đó việc thực
hiện chính sách hỗ trợ, tái định cư. Hơn nữa, với thuật ngữ đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất cho người ta nghĩ ngay đến việc phải được đền bù 100% giá trị của
mảnh đất bị thu hồi, trong khi giá trị ban đầu của đất đai không do con người tạo ra mà
họ chỉ tạo ra giá trị tăng thêm của đất đai khi đầu tư vào đất. Vì vậy, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều Luật đất đai năm 2001 được Quốc hội ban hành, thuật ngữ “bồi
thường” được sử dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện trong Luật đất đai năm 2003, đến
Luật Đất đai năm 2013 và các Nghị định hướng dẫn thi hành.
4
Nguyễn Như Ý, chủ biên (2001), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.79.
Xem thêm: Hội đồng Chính phủ (1959), Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 quy định Thể lệ tạm thời về
trưng dụng ruộng đất; Thủ tướng Chính phủ (1970), Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 về quy định một
số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng
xây dựng kinh tế mở rộng.
5
gặp phải để sớm ổn định cuộc sống. Đây chính là truyền thống văn hóa tốt đẹp của
người Việt Nam từ bao đời nay. Hoạt động này được gọi là hỗ trợ. Theo từ điển Tiếng
Việt thông dụng thì hỗ trợ được hiểu là góp thêm, giúp thêm vào6. Như vậy, dưới góc
độ ngôn ngữ, hỗ trợ là sự trợ giúp, giúp đỡ của cộng đồng nhằm san sẻ hay chia sẻ bớt
6
Nguyễn Như Ý, chủ biên (2001), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.332.
15
một phần khó khăn, rủi ro mà một người hoặc một nhóm người gặp phải trong cuộc
sống. Hoạt động này gồm hai hình thức là hỗ trợ về vật chất (tài sản) và hỗ trợ về tinh
thần (thăm hỏi, động viên, an ủi).
Thuật ngữ Hỗ trợ không chỉ được sử dụng trong đời sống xã hội mà còn được
sử dụng trong lĩnh vực pháp luật nói chung và pháp luật đất đai nói riêng. Nếu như bồi
thường được xem là hệ quả tất yếu của việc thu hồi đất thì hỗ trợ được xem là biện
pháp bổ sung và là sự kéo dài của quá trình bồi thường. Hỗ trợ thể hiện chính sách
nhân đạo của Nhà nước và biểu hiện bản chất “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”
nhằm hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người bị thu hồi đất và giúp họ nhanh chóng ổn
định cuộc sống. Sở dĩ như vậy là vì đất đai vừa là tư liệu đặc biệt trong sản xuất, vừa là
tư liệu tiêu dùng đối với con người. Vì vậy, khi người sử dụng đất bị Nhà nước thu hồi
đất thì họ sẽ lâm vào hoàn cảnh khó khăn như mất công ăn việc làm, mất nơi ở,...Để
giúp họ vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất và đời sống thì Nhà nước phải thực hiện
chính sách hỗ trợ.
Với ý nghĩa đó, khoản 7 Điều 4 Luật đất đai năm 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước
thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới,
bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới”.
Tuy nhiên, khái niệm về hỗ trợ trong Luật Đất đai năm 2003 cũng chưa đầy đủ
mới bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà ở mới hoặc bồi thường bằng
giao đất ở hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới khi họ bị Nhà nước thu hồi
đất ở và phải di chuyển chỗ ở”7. Như vậy, tái định cư là một hình thức của hỗ trợ.
Có thể nói, bồi thường và hỗ trợ luôn được thực hiện trong mối quan hệ có sự
tham gia của hai chủ thể đó là Nhà nước và người chịu thiệt hại do hành vi thu hồi đất
của Nhà nước gây ra. Bồi thường đóng vai trò trung tâm trong việc bù đắp những tổn
thất của người bị thu hồi đất, có tính chất quyết định trực tiếp đến quyền lợi của người
bị thu hồi đất. Hỗ trợ là việc Nhà nước giải quyết các hậu quả xảy ra sau bồi thường,
đóng vai trò bù đắp vào khoảng trống mà các quy định về bồi thường chưa giải quyết
được nhằm bù đắp một cách trọn vẹn hơn những thiệt hại do bị Nhà nước thu hồi đất
gây ra.
1.2.3. Mục đích, ý nghĩa của việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất
Thu hồi đất không chỉ làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai (cụ thể là làm
chấm dứt quyền sử dụng đất) mà còn “đụng chạm” đến lợi ích hợp pháp của các bên
có liên quan: Lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của Nhà nước, của xã hội; lợi ích
của người hưởng lợi từ việc thu hồi đất (các nhà đầu tư, doanh nghiệp, cơ quan, tổ
TS. Nguyễn Quang Tuyến, Vấn đề lý luận xung quanh khái niệm Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, Tạp
chí Luật học số 1, năm 2009, tr2.
7
17