ĐẶNG TUẤN ANH
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
“ Pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
từ thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Tuấn Anh
2013 - 2015
HÀ NỘI - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
“Pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
từ thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Tuấn Anh
kiến thức chuyên môn giúp tôi vững vàng, tự tin trong công việc. Với tấm lòng biết
ơn sau sắc, tôi xin cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó.
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này, để hoàn thành được luận văn tôi
đã nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của TS Nguyễn Thị Nga, các thầy cô trong
Khoa Luật kinh tế; Khoa Sau đại học - Viện đại học mở Hà Nội . Nhân dịp này cho
tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thị Nga và những ý kiến đóng
góp quý báu của cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn các Lãnh đạo, cán bộ Sở tài nguyên môi trường
tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình tôi thực hiện
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi
trong quá trình thực hiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng lĩnh vực nghiên cứu có tính chất phức tạp
cao, kết quả nghiên cứu không tránh được những thiếu sót; tôi mong được sự góp ý
của các Thầy, Cô và các bạn để Luận văn này được hoàn thiện hơn, được sử dụng
trong thực tế để đóng góp cho công tác xây dựng chính sách đền bù, tái định cư tại
địa phương.
Tác giả luận văn
Đặng Tuấn Anh
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Diễn giải
TĐC
Tái định cư
Luật Đất đai năm 2003 ............................................................................. 20
1.2.3.3. Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay ..................... 24
1.2.4. Các yếu tố chi phối tới pháp luật về tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất ................................................................................................................. 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 .................................................................................... 29
Chương 2: THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH............ 30
2.1. Pháp luật hiện hành về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ................ 31
2.1.1. Nguyên tắc thực hiện TĐC khi Nhà nước THĐ ................................ 31
2.1.2. Điều kiện được hưởng chính sách TĐC khi Nhà nước THĐ ............ 33
2.1.3. Các hình thức TĐC ............................................................................ 37
2.1.4. Trình tự, thủ tục thực hiện TĐC khi Nhà nước THĐ ........................ 41
2.1.5. Giải quyết các khiếu nại liên quan đến công tác TĐC khi Nhà nước
THĐ ............................................................................................................. 44
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh ................................................................................ 45
2.2.1. Những đặc điểm về điều kiện tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh ........... 45
2.2.2. Thực tiễn thi hành .............................................................................. 45
2.3. Đánh giá về công tác tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh .............................................................................................. 48
2.3.1. Những kết quả đạt được .................................................................... 48
2.3.2. Những hạn chế ................................................................................... 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 .................................................................................... 55
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHẰM NÂNG
CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TÁI ĐỊNH CƯ.................................................. 56
3.1. Định hướng hoàn thiện và yêu cầu đặt ra đối với pháp luật tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất ................................................................................ 57
3.1.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật ...................................................... 57
bị phá vỡ. Đây là những ảnh hưởng không nhỏ làm thay đổi cả tập quán sống, thói
quen sinh hoạt, làm việc, học tập của người có đất bị thu hồi và tác động trực tiếp
đến các mối quan hệ xã hội, cá nhân, gia đình, cộng đồng. Nhận thức sâu sắc các
hậu quả do việc Nhà nước THĐ gây ra cho người sử dụng đất, pháp luật đất đai đã
có những uy định về việc giải quyết công ăn, việc làm cho người bị mất đất sản
xuất; giải quyết vấn đề TĐC cho người bị THĐ phải di chuyển chỗ ở. Thực tế áp
dụng các quy định này cho thấy đây là vấn đề nhạy cảm, khó khăn, phức tạp và
thường phát sinh tranh chấp, khiếu kiện gay gắt, kéo dài.
Xuất phát từ tầm ảnh hưởng của vấn đề TĐC đối với người bị THĐ, trong
những năm qua, chính sách và pháp luật về bồi thường, hỗ trợ TĐC luôn được Nhà
nước quan tâm. Tuy nhiên, trên thực tế, chính sách về TĐC cũng như quá trình thực
hiện pháp luật về TĐC cho người dân khi Nhà nước THĐ ở cũng còn nhiều bất cập,
vướng mắc. Trong nhiều dự án THĐ ở người dân bị rơi vào cảnh bị chủ đầu tư
"đem con bỏ chợ", nghĩa là khi đất ở, nhà ở đã bị thu hồi nhưng vẫn chưa được
TĐC, nhiều dự án người dân được cơ quan có thẩm quyền hoặc chủ đầu tư bố trí
nơi ở tạm thiếu những điều kiện sống tối thiểu như điện, nước sạch, trường học,
bệnh xã... Tình trạng trên có thể bị kéo dài nhiều năm, thậm chí kéo dài hàng chục
năm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, đời sống của người dân và gây nên
những bất bình, bức xúc, thậm chí mất lòng tin của người dân đối với chính quyền.
Nhiều dự án người dân không đồng thuận, chống đối ngay từ giai đoạn đầu làm cho
cơ quan có thẩm quyền và chủ đầu tư không thể GPMB để thực hiện dự án.
1
Quảng Ninh với vị trí địa lí chính trị quan trọng và được xác định là một
trong những vùng kinh tế trọng điểm, nên việc thu hồi đất để thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế - xã hội là tất yếu khách quan. Chính bởi lẽ đó, công tác bồi
thường GPMB nói chung, cũng như công tác TĐC nói riêng luôn là điểm nóng và là
một trong những công tác luôn được sự chỉ đạo trọng tâm của các cấp chính quyền.
Chính bởi tính cấp thiết của đề tài trong thực tế nói chung, dựa trên những
SGGP (2011), Thành phố Hồ Chí Minh - Chương trình nhà ở TĐC: Mua bán suất
TĐC, bao giờ mới chấm dứt, Báo điện tử Baomoi.com; SGGP (2012), Chương trình
nhà ở TĐC thành phố Hồ Chí Minh - nhiều tín hiệu vui, Báo điện tử ancu.com...
Nhìn chung các công trình nghiên cứu, các bài viết đã phản ánh đa dạng và
sâu sắc ở nhiều khía cạnh khác nhau về bồi thường khi Nhà nước THĐ nói chung
và TĐC khi Nhà nước THĐ nói riêng. Tiếp nối với các quan điểm, các nhận định
về bồi thường, TĐC khi Nhà nước THĐ của các nhà khoa học đi trước, Luận văn
tập trung nghiên cứu sâu hơn về thực trạng pháp luật qua thực tiễn triển khai thi
hành trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh để làm sâu sắc hơn vấn đề nghiên cứu.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Do giới hạn về dung lượng và thời gian nghiên cứu, tác giả giới hạn đối
tượng và phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cơ bản sau đây:
- Nghiên cứu quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà
nước TĐC khi Nhà nước THĐ;
- Nghiên cứu các quy định hiện hành về TĐC khi Nhà nước THĐ
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về TĐC khi Nhà nước THĐ trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
4. Mục đích nghiên cứu
Với mong muốn làm sáng tỏ các vấn đề cơ bản về TĐC khi Nhà nước THĐ
ở, đối chiếu giữa thực tế của hoạt động TĐC và các quy phạm pháp luật hiện hành
chỉ ra được những vướng mắc, bất cập, hạn chế, yếu kém trong công tác thực hiện
tái định cư. Qua đó, đề xuất những giải pháp tháo gỡ vướng mắc, bất cập, khắc phục
hạn chế, yếu kém nhằm nâng cao hiệu quả của công tác này. Đồng thời kiến nghị
3
các giải pháp hoàn thiện pháp luật về TĐC khi Nhà nước THĐ ở nói riêng và hoàn
thiện pháp luật đất đai nói chung.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT VÀ PHÁP LUẬT VỀ TÁI
ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
5
1.1. Lí luận chung về tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1. Khái niệm thu hồi đất
Thu hồi đất là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản pháp
luật đất đai. Nếu như giao đất, cho thuê đất là cơ sở để làm phát sinh quan hệ pháp
luật đất đai, phát sinh quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử
dụng; thì thu hồi đất là một biện pháp làm chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai bằng
một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thông qua những
hoạt động này, Nhà nước thể hiện rất rõ quyền định đoạt đất đai, với tư cách là đại
diện chủ sở hữu đối với đất đai.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Thu hồi: Lấy lại cái đã đưa ra, đã cấp
phát ra hoặc bị người khác lấy”. [38, tr 759].
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là: “Cơ
quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm quy
định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả lại cho chủ
sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất
đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh,
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” [39, tr 186]. Định nghĩa này cho thấy, các nhà
khoa học mới chỉ đề cập các trường hợp thu hồi đất mà chưa làm rõ nội hàm của
khái niệm THĐ là gì. Mặt khác, sự liệt kê nêu trên cũng chưa bao quát hết các
trường hợp THĐ của Nhà nước. Nhà nước không chỉ THĐ của người có hành vi vi
phạm về sử dụng đất hay THĐ để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi
ích quốc gia, lợi ích công cộng, mà còn thu hồi đất do các lợi ích kinh tế xã hội khác
hoặc những trường hợp chấm dứt theo quy định của pháp luật...
Khi Luật Đất đai năm 2003 ra đời, khái niệm THĐ đã được giải thích tại
[38, tr.1485]; “ định cư: ở lại một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn, phân biệt
với du cư” [38, tr.641]. Như vậy, có thể hiểu TĐC là việc một lần nữa chuyển đến
một nơi nhất định để sinh sống và làm ăn ổn định.
Tái định cư là một thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các văn bản
quy phạm pháp luật. Xong các quy định mới chỉ dừng lại ở việc nêu ra các hình
7
thức TĐC mà chưa chỉ rõ nội hàm của tái định cư. Cụ thể, trước đây, Điều 4 Nghị
định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc bồi thường, hỗ
trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định: “ Người sử dụng đất khi Nhà
nước thu hồi đất theo quy định tại Nghị định này mà phải di chuyển chỗ ở thì được
bố trí TĐC bằng một trong các hình thức sau: 1. Bồi thường bằng nhà ở; 2. Bồi
thường bằng đất ở; 3. Bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở mới”. Đến Luật đất đai
2013, tại điểm c Khoản 2 Điều 83 quy định tái định cư là một trong các khoản hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất, theo đó “ Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu
hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải
di chuyển chỗ ở”.
Khi nghiên cứu về vấn đề này, có một số tác giả đã đưa ra các định nghĩa
khác nhau về TĐC. Theo tác giả Nguyễn Quang Tuyến, “TĐC là việc người sử
dụng đất được bố trí nơi ở mới bằng một trong các hình thức: bồi thường bằng nhà
ở mới hoặc bồi thường bằng giao đất ở hoặc bồi thường bằng tiền để tự lo chỗ ở
mới khi họ bị Nhà nước thu hồi đất ở và phải di chuyển chỗ ở” [ 36, tr42-46]. Theo
tác giả Trịnh Thị Hằng Nga, “TĐC là biện pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống
cho các hộ bị ảnh hưởng bởi dự án, khi mà đất định cư cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi
không hết, mảnh còn lại không đủ điều kiện để ở lại nơi ở cũ, phải di chuyển đến
nơi ở mới” [16, tr.66].
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới được ghi nhận trong Khung chính
sách TĐC thuộc khuôn khổ Dự án Quản lý thuỷ lợi phục vụ Phát triển nông thôn
vùng Đồng bằng sông Mê Kông ( MDWRM-RDP), “ TĐC là thuật ngữ chung liên
khác thì phải bồi thường. Bất luận đó là chủ thể nào. Khi Nhà nước thu hồi đất ở
làm cho người dân không thể tiếp tục làm ăn, sinh sống tại nơi ở cũ trên mảnh đất
mà họ có quyền sử dụng đất hợp pháp, phải di rời đến nơi ở mới gây cho họ nhiều
thiệt hại: Không còn mặt bằng để làm nơi ở. Cùng với mất nơi ở, nhiều trường hợp
nhiều tài sản bị hủy hoại như nhà cửa, vật kiến trúc, cây lâu năm… Do quyền sử
dụng đất ở là tài sản (và là tài sản có giá trị rất lớn) nên khi Nhà nước thu hồi đất ở
phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người có đất ở bị thu hồi, phải có
trách nhiệm tạo lập nơi ở mới cho người có đất ở bị thu hồi. Trong trường hợp này
9
việc tạo lập nơi ở mới cho người có đất ở bị thu hồi (tái định cư) thực chất là một
hình thức bồi thường thiệt hại về tài sản. Trong mối quan hệ này, bên bị thiệt hại là
hộ gia đình, cá nhân có đất ở bị Nhà nước thu hồi, bên có nghĩa vụ phải bồi thường
thiệt hại là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thu hồi đất (hoặc chủ
đầu tư trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất để giao cho chủ đầu tư thực hiện các
dự án). Trách nhiệm của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc lập và
thực hiện các dự án mới về nhà ở, đất ở, với điều kiện bằng hoặc tốt hơn nơi cũ cho
người bị THĐ ở phải di chuyển chỗ ở, đồng thời giúp người bị THĐ nhanh chóng
ổn định đời sống và sản xuất;
Thứ hai, TĐC không hoàn toàn giống như các hình thức bồi thường thiệt hại
về tài sản khác
Như phân tích ở trên là một phương thức bồi thường thiệt hại về tài sản. Tuy
nhiên, QSDĐ được coi là một tài sản “đặc biệt”, không giống như những tài sản
khác. Theo qui định của pháp luật hiện hành, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nên
người sử dụng đất chỉ có QSDĐ mà không có quyền sở hữu đối với đất đai. Do vậy,
tái định cư không hoàn toàn giống như các hình thức bồi thường thiệt hại về tài sản
khác. Từ góc độ lý luận, trách nhiệm bồi thường của một chủ thể chỉ phát sinh khi
chủ thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. Việc Nhà nước tiến hành THĐ đã gây
trái pháp luật nên trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với những thiệt hại do
hành vi thu hồi đất gây ra khác với trách nhiệm của các chủ thể có hành vi vi phạm
pháp luật gây thiệt hại và phải bồi thường. Như vậy, trong trường hợp này việc đền
bù thiệt hại không hoàn toàn là đền bù ngang giá mà Nhà nước có thể giới hạn mức
bồi thường, hình thức bồi thường thiệt hại.
Mặt khác, việc giải quyết tái định cư - bồi thường những tổn thất phát sinh
khi Nhà nước thu hồi đất ở phụ thuộc vào chính sách của Nhà nước, đảm bảo lợi ích
của các cá nhân, hộ gia đình có đất ở bị thu hồi, đồng thời phải đảm bảo lợi ích
chung của toàn xã hội.
Như vậy, việc giải quyết tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở không phải
hoàn toàn thực hiện trên cơ sở sự thỏa thuận mà còn được thực hiện trên cơ sở
quyền lực Nhà nước. Điều đó dẫn đến trình tự thủ tục giải quyết tái định cư với tư
11
cách là hình thức bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất ở khác với trình tự,
thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại trong các quan hệ pháp luật dân sự khác.
Thực tế cho thấy, thủ tục thực hiện tái định cư hiện nay chủ yếu là thủ tục có tính
chất hành chính.
Thứ tư, TĐC là biện pháp nhằm giảm nhẹ các tác động xấu về kinh tế- văn
hóa – xã hội đối với một bộ phận dân cư phải di chuyển nơi ở vì sự phát triển chung
của đất nước.
Thứ năm, TĐC có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức bồi thường khác
khi Nhà nước THĐ ở.
Bồi thường khi Nhà nước THĐ đóng vai trò trung tâm và có tính chất quyết
định đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị THĐ, Nhà nước có nghĩa vụ bồi
thường ngang giá và sát với giá thị trường cho người sử dụng đất về những thiệt hại
hữu hình và thiệt hại vô hình phát sinh trực tiếp từ hoạt động THĐ. TĐC là việc
Nhà nước bồi thường về đất ở, nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt, đời sống của
Trong quan hệ thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, nhà đầu tư tuy
không phải là chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi thu hồi đất, cũng không phải là
người có đất bị thu hồi, nhưng họ chính là chủ thể có quyền và lợi ích liên quan.
Trong môi trường kinh doanh, nơi mà thời gian đóng vai trò rất quan trọng thì việc
giải quyết vấn đề bồi thường, hỗ trợ, TĐC giữa Nhà nước và người bị thu hồi đất có
tác động không nhỏ đối với họ. Nếu như công tác bồi thường, hỗ trợ, TĐC được
tiến hành thuận lợi, nhà đầu tư sẽ sớm có mặt bằng để tiến hành dự án đầu tư. Khi
đó, công việc kinh doanh của họ bước đầu được thực hiện thuận lợi, góp phần giúp
họ ổn định sản xuất. Ngược lại, nếu những khâu này không được giải quyết nhanh
chóng, nhiều trường hợp còn có khiếu kiện kéo dài…dẫn đến việc nhà đầu tư không
được bàn giao mặt bằng đúng thời hạn, hoặc bị cản trở trong quá trình thực hiện dự
án làm hoạt động kinh doanh của họ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bởi vậy, chính
sách về bồi thường thiệt hại nói chung và TĐC nói riêng có ý nghĩa không nhỏ đối
với các nhà đầu tư. Một chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC tốt sẽ đẩy nhanh tiến
độ giải quyết các công việc này. Qua đó, góp phần thúc đẩy hoạt động kinh doanh
của họ được tiến hành theo đúng kế hoạch đề ra.
13
- Đối với Nhà nước
Ở Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở
hữu thống nhất quản lý. Thẩm quyền tiến hành thu hồi đất thuộc về Nhà nước.
Thẩm quyền này một mặt là quyền hạn của Nhà nước trong việc quản lý quỹ đất
để tiến hành các hoạt động của mình, mặt khác cũng là trách nhiệm nặng nề của
Nhà nước khi mà việc thực hiện công tác thu hồi đất trên thực tế rất khó khăn. Đối
với những trường hợp thu hồi đất mà phải thực hiện TĐC thì công việc càng khó
khăn hơn vì chỉ khi việc bố trí TĐC được thu xếp ổn định thì mới có thể thu hồi
đất. Bởi vậy, chính sách TĐC hợp lý sẽ giúp cho công tác thu hồi được thực hiện
nhanh chóng hơn, nhờ đó giúp Nhà nước giảm được áp lực trong công tác bồi
thường, hỗ trợ, TĐC.
quy định về TĐC, nhất thiết phải đề cập đến vấn đề THĐ.
Thứ ba, pháp luật về TĐC là một bộ phận các chính sách về an sinh xã hội
đối với người bị thu hồi đất không còn nơi ở cần sự trợ giúp từ Nhà nước.
TĐC được xác định là một trong các trách nhiệm của Nhà nước bố trí nơi ở
mới cho người dân bị thu hồi đất và phải di chuyển chỗ ở. Như vậy, TĐC không chỉ
là một cơ chế định pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội nhất định, mà ở
một khía cạnh khác, pháp luật về TĐC là một bộ phận các chính sách về an sinh xã
hội đối với người bị thu hồi đất không còn nơi ở cần sự trợ giúp từ Nhà nước và Nhà
nước trong trách nhiệm xã hội của mình phải đáp ứng các nhu cầu chính đáng của họ.
Sở dĩ chúng ta xác định vị trí trên cho pháp luật về TĐC là bởi “ chế định này không
những bù đắp cho các hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất quyền lợi kinh tế họ mất đi
khi thu hồi đất mà còn giúp đỡ họ trong việc tạo lập cuộc sống mới” [36, tr.6].
1.2.2. Cơ cấu pháp luật điều chỉnh tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Pháp luật về TĐC khi Nhà nước THĐ bao gồm tổng thể các quy phạm pháp
luật điều chỉnh những vấn đề liên quan đến TĐC khi Nhà nước THĐ. Lĩnh vực
pháp luật này được hình thành và phát triển qua các giai đoạn khác nhau của đất
nước, tương ứng với mỗi giai đoạn thì mục đích để hướng tới sự điều chỉnh cũng có
sự khác nhau; sự khác nhau này phụ thuộc vào nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội và
điều kiện phát triển kinh tế của đất nước trong từng thời kỳ. Theo quy định của
pháp luật hiện hành về TĐC khi Nhà nước THĐ bao gồm các nhóm quy phạm pháp
luật cơ bản sau:
16
Thứ nhất, nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc TĐC
Nguyên tắc TĐC khi Nhà nước THĐ được hiểu là những quy định chung
mang tính nền tảng, làm định hướng và tạo cơ sở cho việc thực hiện và áp dụng các
quy định chi tiết về TĐC khi Nhà nước THĐ. Thực hiện tốt các nguyên tắc bồi
thường và TĐC sẽ giúp cho công tác này được thực hiện một cách công bằng,
khách quan và minh bạch..
khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền. Quy định này đảm bảo cho
việc THĐ đúng mục đích, TĐC đúng đối tượng, đúng giá trị. Giải quyết một
cách nghiêm minh, đúng pháp luật khiếu nại, tố cáo là phương thức phát huy vai
trò của pháp luật và góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Nhà nước.
Đối với công dân, khiếu nại, tố cáo là phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của họ.
1.2.3. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
1.2.3.1. Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm 1993
Trước khi có Hiến pháp năm 1980, Việt Nam cũng giống như các nước khác
trên thế giới đều thừa nhận sự tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về đất đai,
trong đó có sở hữu Nhà nước đối với đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) khi
Nhà nước thu hồi đất được đặt ra từ khá sớm. Theo đó, Nghị định số 151/TTg ngày
14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) “Quy định thể lệ tạm thời
về trưng dụng ruộng đất” tại Chương 2 đã quy định với tiêu đề: “Bồi thường cho
người có ruộng bị trưng dụng”. Do ruộng đất bị trưng dụng thuộc sở hữu tư nhân và
sau khi đã trưng dụng thì thuộc sở hữu Nhà nước, vì vậy Nhà nước có cơ chế bồi
thường theo nguyên tắc: những người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường
và trong trường hợp cần thiết được giúp giải quyết công ăn việc làm. Có thể thấy,
Nhà nước đã thể hiện rất rõ nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người
có đất bị trưng dụng hoặc thu hồi trong những quy định của pháp luật đất đai ngay
từ thời kỳ đầu của quản lý nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, dường như các quy định
mới chỉ dừng lại đối với việc bồi thường ruộng đất.
18