BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LƯỜNG ĐỨC THẮNG
ĐỀ TÀI
PHÁP LUẬT VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60380102.
Người hướng dẫn khoa học: TS. Đoàn Thị Tố Uyên
Hà Nội - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng
tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn theo đúng quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và
trung thực của luận văn này.
Tác giả luận văn
Lường Đức Thắng
16
pháp lý
1.3. Trợ giúp pháp lý của một số nước trên thế giới và bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.3.1. Về người được trợ giúp pháp lý
19
1.3.2. Về mô hình trợ giúp pháp lý
20
1.3.3. Về hình thức trợ giúp pháp lý
22
1.3.4. Về lĩnh vực trợ giúp pháp lý
23
1.3.5. Về nguồn kinh phí trợ giúp pháp lý
23
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI
TỈNH BẮC KẠN
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về trợ giúp pháp lý
3.1.2. Về người thực hiện trợ giúp pháp lý
76
3.1.3. Về hệ thống tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý
80
3.1.4. Về quy định về kiến nghị trong hoạt động trợ giúp pháp
82
lý
3.2. Giải pháp đẩy mạnh hoạt động thực hiện pháp luật về
trợ giúp pháp lý
3.2.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng
84
3.2.2. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác
84
trợ giúp pháp lý
3.2.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nhân lực; tăng cường kinh
85
phí, điều kiện vật chất cho công tác trợ giúp pháp lý
chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm giúp đỡ những người yếu thế thoát
khỏi cảnh nghèo đói và khó khăn, chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 734/TTg
về việc thành lập tổ chức trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng
chính sách. Ngày 29/6/2006, Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 9 đã thông qua
Luật Trợ giúp pháp lý. Theo đó, người nghèo, người có công với cách mạng,
người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em không nơi nương tựa và người dân tộc
thiểu số thường trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn
được hưởng chính sách trợ giúp pháp lý miễn phí. Qua gần 10 năm thi hành,
Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 đã phát huy tác dụng tích cực, góp phần bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nhân dân, khẳng định quyết tâm của Đảng
1
2
Việt Nam đủ điều kiện tham gia Công ước sau khi trở thành thành viên Liên hợp quốc năm 1977.
Việt Nam đã gia nhập Công ước này ngày 24/9/1982.
2
và Nhà nước ta trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bảo
đảm công bằng xã hội.
Tuy nhiên, trước sự thay đổi mạnh mẽ về điều kiện kinh tế - xã hội của
đất nước, yêu cầu triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, chủ trương tăng
cường cải cách pháp luật, cải cách tư pháp, hội nhập quốc tế, Luật Trợ giúp
pháp lý năm 2006 đã bộc lộ những hạn chế, bất cập như: Quy định diện người
được trợ giúp pháp lý chưa bao quát, chưa bảo đảm tính hợp lý; quy định về
tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề của người thực hiện trợ giúp pháp lý còn
thấp, chưa thống nhất; chưa có quy định về cơ chế điều phối nguồn lực giữa
các địa phương; quy định về tổ chức bộ máy trợ giúp pháp lý chưa tinh gọn,...
trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách ở tỉnh Quảng
Ninh”; Nguyễn Thị Hồng Kiên (2012), “Hoàn thiện pháp luật về trợ giúp
pháp lý cho người nghèo và đói tượng chính sách ở Việt Nam hiện nay”; Kim
Hồng Thanh (2013), “Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đói tượng chính sách trong tố tụng dân sự ở Vĩnh Phúc”...
- Các bài viết, nghiên cứu: đăng trên Thông tin Khoa học pháp lý, năm
2005: TS. Trần Huy Liệu “Một số vấn đề về trợ giúp pháp lý cho người
nghèo và đối tượng chính sách”; Đặc san trợ giúp pháp lý số 10/2006: TS.
Đinh Trung Tụng, “Phương hướng xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý”; Tạ Thị
Minh Lý, “Khái niệm trợ giúp pháp lý một số vấn đề cần bàn thêm; đăng trên
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật- Số chuyên đề xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý
(sửa đổi) (2016): TS. Lê Thành Long: “Bối cảnh, mục đích, yêu cầu và những
định hướng lớn xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi)”; Ths Phan Thanh
Minh: “Người được trợ giúp pháp lý trong tổng thể các chính sách giảm
nghèo, an sinh xã hội, phát triển bền vững và đề xuất sửa đổi”; Shoko
Ishikawa, Đại diện UNWOMEN và Leika Aruga Chuyên gia UNWOMEN tại
Việt Nam: “Tạo nên sự khác biệt về bình đẳng giới thông qua cải cách trợ
giúp pháp lý”...
Nội dung các đề tài, công trình nghiên cứu nêu trên chủ yếu đề cập đến
các quan điểm, chủ trương lớn về sửa đổi quy định pháp luật hiện hành về trợ
giúp pháp lý, một số đề tài tập trung nghiên cứu chuyên sâu về một vấn đề
4
như khái niệm trợ giúp pháp lý, hoạt động trợ giúp pháp lý của luật sư, bình
đẳng giới trong hoạt động trợ giúp pháp lý, người được trợ giúp pháp lý... Bên
cạnh đó, một số đề tài mang tính thực tiễn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật
về trợ giúp pháp lý đối với một nhóm trong số các nhóm người thuộc diện
được trợ giúp pháp lý như nạn nhân bị bạo lực trên cơ sở giới, người nghèo và
đối tượng chính sách, dân tộc thiểu số.
đẩy mạnh hoạt động thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý trong giai đoạn
hiện nay.
4. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục tiêu và hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra,
luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và luật
học như:
- Phương pháp lịch sử: Tìm hiểu những quy định pháp luật về trợ giúp
pháp lý của Việt Nam để nắm rõ về sự hình thành và quy luật phát triển của
pháp luật về trợ giúp pháp lý cũng như vai trò của nó trong mỗi giai đoạn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Luận văn phân tích và tổng kết lại
những kết quả của các công trình nghiên cứu pháp luật về trợ giúp pháp lý và
đưa ra những nhận xét, đánh giá từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn
thiện hơn hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về trợ giúp pháp
lý nói riêng và việc thúc đẩy, bảo đảm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
trên thực tế.
- Phương pháp so sánh: Luận văn so sánh những quy định của pháp luật
về trợ giúp pháp lý trong mỗi giai đoạn khác nhau và so sánh với một số quốc
gia trên thế giới.
- Phương pháp thống kê xã hội học: Luận văn sử dụng những kết quả
thống kê, thông tin tổng hợp, tổng kết các số liệu thực tiễn thi hành pháp luật
về trợ giúp pháp lý trong cả nước và tại tỉnh Bắc Kạn trong thời gian gần đây.
Nguồn tài liệu nghiên cứu để hoàn thành luận văn là các văn bản pháp
luật quốc gia liên quan đến công tác trợ giúp pháp lý, các báo cáo, nghiên
cứu, đánh giá của các cơ quan nhà nước, chuyên gia pháp luật. Bên cạnh đó,
luận văn còn được hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo một số bài
6
viết về vấn đề này trên các tạp chí, website.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
người nghèo đã được hình thành. Cùng với xu hướng phát triển chung của
nhiều quốc gia châu Âu, tư duy về quyền được TGPL trở thành trào lưu
chung, TGPL gắn với khái niệm “luật cho người nghèo”. Tuy nhiên, ở mỗi
một quốc gia khác nhau, quan niệm về TGPL cũng có sự khác nhau, điều này
phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi nước. Tại
nước Anh, cái nôi của TGPL quan niệm: “TGPL là sự trợ giúp trong việc sử
dụng bất kỳ biện pháp nào mà một người có thể sử dụng, gồm cả các biện
pháp đối với thủ tục tố tụng liên quan đến áp dụng pháp luật”. Pháp luật
Singapore lại quy định: “TGPL là việc đại diện cho khách hàng của Tòa án
nhằm giúp đỡ những người không có khả năng chi trả các dịch vụ TGPL”3.
Dự thảo Luật mẫu về TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự do Cơ quan
phòng chống ma túy và tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) chủ trì soạn
thảo quy định: "TGPL là việc thực hiện tư vấn pháp luật, hỗ trợ và đại diện
pháp lý do nhà nước trả tiền theo những điều kiện và trình tự, thủ tục quy
định trong luật này cho người bị tạm giữ, bị bắt hoặc bị kết án tù; người bị
tình nghi, người bị buộc tội hoặc vi phạm luật hình sự; nạn nhân và nhân
chứng trong quá trình tư pháp hình sự..." (khoản 7, Điều 4)4.
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, ở Việt Nam, dưới góc độ khoa học, thuật ngữ
“TGPL” là một cụm từ ghép “trợ giúp” và “pháp lý”: "trợ giúp” được hiểu là
“sự giúp đỡ, bảo trợ, hỗ trợ, giúp cho ai việc gì, đem cho ai cái gì đang lúc khó
3
Cục Trợ giúp pháp lý (2013), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, tập 1, Nxb Hồng Đức, Hà Nội,
tr. 9-tr. 10
4
Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), Số chuyên đề Xây dựng Luật Trợ giúp pháp lý (sửa đổi), Nxb Tư
pháp, Hà Nội, tr. 184.
8
TGPL là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL
dưới các hình thức: tư vấn pháp luật; tham gia tố tụng; đại diện ngoài tố tụng
và các hình thức TGPL khác do trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên TGPL, tư
vấn viên pháp luật thực hiện nhằm giúp người được TGPL bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp
10
hành pháp luật; góp phần vào việc phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công
lý, công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật.
1.1.2. Vai trò của trợ giúp pháp lý
TGPL có nhiều vai trò quan trọng góp phần đưa chủ trương, chính sách
của Đảng, pháp luật của nhà nước đi vào cuộc sống, bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của người dân và bảo đảm công bằng xã hội, cụ thể:
1.1.2.1. Trợ giúp pháp lý góp phần đưa các chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của nhà nước được triển khai trên thực tế
Quá trình thực hiện pháp luật về TGPL chính là hiện thực hoá các quy
định pháp luật về TGPL trên thực tế. Pháp luật về TGPL là sự cụ thể hoá các
chủ trương, chính sách của Đảng, nên quá trình thực hiện pháp luật về TGPL
cho người dân cũng là quá trình triển khai các chủ trương của Đảng và pháp
luật của nhà nước đi vào thực tế cuộc sống.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã khẳng định:
Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp, xây
dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh,
từng bước hiện đại; bảo vệ pháp luật, công lý, quyền con người,
quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.8
Đồng thời:
Tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội phù hợp với quá trình
thể khẳng định TGPL là một bộ phận quan trọng trong tổng thể các chương
trình quốc gia xóa đói, giảm nghèo, góp phần thực hiện thành công các chủ
trương chính sách xóa đói giảm nghèo của của Đảng và Nhà nước ta.10
Thực tế trong những năm qua, hoạt động TGPL đã góp phần quan trọng
trong công tác xoá đói, giảm nghèo, đền ơn, đáp nghĩa, hướng dẫn cho người
dân được tiếp cận, sử dụng các dịch vụ pháp lý miễn phí, kịp thời bảo vệ họ
khỏi bị thiệt hại bởi những hành vi trái pháp luật gây ra. TGPL cho người dân
không những giúp cho các đối tượng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp mà
còn tạo điều kiện để công lý và công bằng xã hội được thực thi, bảo đảm
quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, mà trước hết là quyền bào
chữa và nhờ người khác bào chữa cho mình thông qua tổ chức TGPL.
1.1.2.3. Trợ giúp pháp lý góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân
Hoạt động TGPL, cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân là
10
Cục Trợ giúp pháp lý (2013), Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, tập 1, Nxb Hồng Đức, Hà
Nội, tr. 62- tr.63.
12
một phương thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng
cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của người
dân, tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành tốt chủ trương của Đảng,
chính sách và pháp luật của nhà nước. Thực hiện tốt công tác TGPL sẽ không
chỉ bảo đảm sự công bằng trong xã hội, mà còn góp phần quan trọng trong
việc nâng cao nhận thức pháp luật trong xã hội, cộng đồng, qua đó, ngăn ngừa
có hiệu quả tội phạm và vi phạm pháp luật.
Thông qua các đợt TGPL lưu động, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề
pháp luật, cấp phát tài liệu tìm hiểu pháp luật với các nội dung pháp luật có
liên quan mật thiết đến đời sống nhân dân, sẽ tạo sự chuyển biến tích cực
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động TGPL là một trong những
biện pháp pháp lý hữu hiệu để đảm bảo thực hiện các chính sách an sinh xã
hội quan trọng của Đảng và Nhà nước ta, nhằm quan tâm thích đáng đến các
tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã hội, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở
vùng cao, vùng sâu, vùng xa, tạo cho họ cơ hội bình đẳng trong việc tiếp cận
các nguồn lực phát triển và hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, các phúc lợi xã hội.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng tiếp tục
khẳng định:
Trong xây dựng và thực hiện các chính sách phát triển kinh tế - xã
hội, quan tâm thích đáng đến các tầng lớp, bộ phận yếu thế trong xã
hội, đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa,
khắc phục xu hướng gia tăng phân hóa giàu - nghèo, bảo đảm sự ổn
định và phát triển xã hội bền vững. Thực hiện các giải pháp, chính
sách và quản lý để khắc phục từng bước sự mất cân đối về phát
triển đối với từng lĩnh vực, từng vùng, bảo đảm sự hài hòa cả trong
phát triển, hưởng thụ; bảo đảm cơ cấu giai tầng xã hội, dân cư,
ngành nghề hợp lý.12
1.2. Thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý và các điều kiện bảo đảm
1.2.1. Khái niệm pháp luật về trợ giúp pháp lý
11
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia
- Sự thật, Hà Nội, tr. 244.
12
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), tlđd, chú thích 8, tr. 135.
14
1.2.1.1. Khái niệm pháp luật
TGPL. Để thực hiện tốt biện pháp này, cần phát huy vai trò của cơ quan
chuyên trách thực hiện chức năng theo dõi và đôn đốc việc thực hiện pháp
luật về TGPL như kiểm tra tổ chức và hoạt động của các tổ chức thực hiện
TGPL, người thực hiện TGPL; theo dõi, hướng dẫn hoạt động TGPL của các
tổ chức chính trị - xã hội, kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng vụ
việc TGPL đối với tổ chức, cá nhân thực hiện TGPL…
Thứ ba, tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật về TGPL. Các
16
cơ quan quản lý nhà nước về TGPL như Bộ Tư pháp, Ủy ban nhân dân tỉnh,
Sở Tư pháp… cần tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện pháp luật về
TGPL theo định kỳ hoặc đột xuất để đảm bảo các quy định pháp luật về
TGPL được thực hiện đầy đủ, thống nhất. Các cơ quan có chức năng giám sát
như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức
chính trị - xã hội thường xuyên tổ chức giám sát việc thực hiện pháp luật về
TGPL, đảm bảo các tổ chức thực hiện TGPL và các cơ quan khác có liên
quan phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật về TGPL.
Thứ tư, tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện pháp luật về TGPL bằng
việc ban hành kịp thời các văn bản quy định chi tiết thi hành luật như các nghị
định, thông tư liên tịch, thông tư về công tác TGPL và các văn bản mang tính
chất điều chỉnh nội bộ như quy tắc nghề nghiệp, quy chế cộng tác viên
TGPL... Qua thực tiễn đã chứng minh, một trong những điều kiện tiên quyết
đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách đầy đủ, hiệu quả là phải
thường xuyên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng những đòi
hỏi ngày càng cao của thực tiễn đời sống xã hội.
1.2.3. Các điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật về trợ giúp pháp lý
1.2.3.1. Các điều kiện bảo đảm về mặt pháp lý
Thứ nhất, về chất lượng của pháp luật TGPL, đây là yếu tố bảo đảm đầu
tiên của thực hiện pháp luật về TGPL, bởi lẽ pháp luật không có chất lượng
phương diện tổ chức để đưa pháp luật về TGPL đi vào cuộc sống, trở thành
hiện thực trên thực tế và mang lại hiệu quả nhất.
Thông qua hoạt động của các tổ chức TGPL, giúp người được TGPL
nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp, góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công
lý, bảo đảm công bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm
pháp luật; nâng cao trách nhiệm, minh bạch hóa hoạt động và trách nhiệm của
nhà nước. Qua đó, củng cố mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân
dân, giúp người được TGPL tiếp cận, khai thác và sử dụng pháp luật; hỗ trợ
họ thực hiện quyền, nghĩa vụ và tham gia vào đời sống xã hội...
1.2.3.3. Các điều kiện bảo đảm về con người và các điều kiện vật chất
18
Về con người, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác pháp
luật, chính sách xã hội, người hoạt động trong tổ chức kinh tế, tổ chức chính
trị - xã hội, tổ chức từ thiện... phải là người có tâm huyết, nhiệt tình, có kiến
thức và mong muốn giúp đỡ người được TGPL, tạo điều kiện cho người được
TGPL có cơ hội bình đẳng trong xã hội. Đội ngũ này là nhân tố bảo đảm quan
trọng để thực hiện pháp luật về TGPL, với nhiệm vụ được giao là tổ chức
thực hiện pháp luật về TGPL, là cầu nối đưa pháp luật vào cuộc sống, hỗ trợ
người dân tiếp cận và biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp, tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
Việc chú trọng xây dựng tiêu chuẩn, cách thức phân loại, đánh giá cán bộ,
công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức thực hiện pháp luật gắn với sự
gương mẫu, tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, chấp hành pháp luật đối với người
được TGPL từ phía đảng viên và tổ chức đảng cũng như công tác tổ chức cán
bộ trong thực hiện pháp luật về TGPL là điều kiện bảo đảm định hướng chính
trị của Đảng đối với pháp luật và công tác mở rộng quyền tiếp cận pháp luật
của người dân, bảo đảm trật tự xã hội, quyền con người và công bằng xã hội.
nghiệm cho Việt Nam
Hầu hết các nước đều xác định TGPL là trách nhiệm của nhà nước đối
với người nghèo và những người yếu thế trong xã hội không có khả năng tiếp
cận dịch vụ có thu phí của luật sư. Thông qua việc ban hành pháp luật về
TGPL, nhà nước tạo khuôn khổ pháp lý để đảm bảo thực hiện trách nhiệm đối
với xã hội, đặc biệt là nhóm người yếu thế17. Luật Trợ giúp pháp lý của hầu
hết các nước quy định về các nguyên tắc, người được TGPL, người thực hiện
TGPL, tổ chức TGPL, trình tự, thủ tục TGPL do nhà nước cấp kinh phí...
Đồng thời, các nước có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân cung
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người dân, đặc biệt là người nghèo và người
yếu thế trong xã hội. Do điều kiện kinh tế - xã hội và truyền thống pháp luật
khác nhau nên Luật Trợ giúp pháp lý của mỗi nước có quy định khác nhau.
1.3.1. Về người được trợ giúp pháp lý
17
Tạp chí Dân chủ và pháp luật (2016), tlđd, chú thích 4, tr. 186.
20
Có thể khái quát các nhóm đối tượng cơ bản sau thuộc diện được TGPL
theo Luật Trợ giúp pháp lý của các nước:
Thứ nhất, những người nghèo, không có hoặc không đủ khả năng tài
chính để chi trả cho các dịch vụ pháp lý. Đây là đối tượng phổ biến ở tất cả
các nước, thậm chí là đối tượng duy nhất được TGPL theo pháp luật của một
số nước như Indonesia, Hà Lan, Nam Phi, Cămpuchia, Nhật Bản, bang
Victoria (Úc). Đối với người nghèo, phải chứng minh không có thu nhập hay
tài sản hay điều kiện kinh tế dưới mức quy định như Úc, Ailen, Nepal, Phần
Lan, Hà Lan, Indonesia.
Thứ hai, đối tượng được TGPL là những người yếu thế không có khả
sự, dân sự, hành chính (Argentina).
Thứ hai, về mô hình TGPL do luật sư tư và các tổ chức xã hội trực tiếp
thực hiện (mô hình luật sư thực hiện). Theo mô hình này, không có hệ thống
các cơ quan thực hiện TGPL của nhà nước. Cơ quan nhà nước chỉ thực hiện
chức năng quản lý nhà nước về TGPL, xây dựng kế hoạch, chính sách, xem
xét điều kiện TGPL, giao vụ việc cho luật sư và tổ chức xã hội thực hiện,
nghiệm thu vụ việc và thanh toán thù lao cho người thực hiện TGPL. Có một
số ít nước áp dụng mô hình này như Indonesia, Hungary.
Tại Hungary, hệ thống TGPL được phân chia theo lĩnh vực dân sự và
hình sự. Trong lĩnh vực dân sự, cơ quan TGPL thuộc Bộ Hành chính công và
tư pháp có chức năng tham mưu cho Bộ trong việc thực hiện các chính sách
TGPL, tổng hợp dữ liệu và quản lý ngân sách TGPL. Đặc biệt là Cơ quan
TGPL trực tiếp kiểm tra các đơn xin TGPL của người dân và quyết định việc
thụ lý vụ việc, bên cạnh đó, xem xét điều kiện của các tổ chức, cá nhân đăng
ký thực hiện TGPL để quyết định chấp thuận và cấp giấy chứng nhận thực
hiện TGPL cho các tổ chức cá nhân và luật sư.
Tại Indonesia, Cục phát triển lập pháp quốc gia thuộc Bộ Pháp luật và
nhân quyền có nhiệm vụ xây dựng chính sách và các hướng dẫn về tiêu chuẩn
và cơ chế TGPL, báo cáo các hoạt động TGPL gửi Quốc hội. Cục không trực
tiếp tham gia thực hiện TGPL mà lựa chọn các tổ chức thực hiện TGPL, theo
dõi, giám sát hoạt động và chi trả kinh phí thực hiện TGPL cho các tổ chức
này. Các tổ chức thực hiện TGPL là các tổ chức phi Chính phủ.
Thứ ba, về mô hình hỗn hợp, theo mô hình này, các nước thành lập hệ
thống TGPL của nhà nước ký hợp đồng với các tổ chức xã hội hoặc luật sư
tham gia thực hiện TGPL và trả thù lao cho luật sư, tổ chức xã hội. Hiện nay,