Pháp luật về kết hôn có yếu tố nước ngoài và thực tiễn thi hành tại tỉnh bắc giang - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------

NGUYỄN THỊ ĐÀ

PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
----------

NGUYỄN THỊ ĐÀ

PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Xin chúc các thày cô dồi dào sức khỏe, thành công trong công việc và
hạnh phúc trong cuộc sống.
Em xin chân thành cảm ơn!

Hà nội, ngày 25 tháng 7 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thị Đà


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU
TỐ NƯỚC NGOÀI ...................................................................................... 7
1.1. Khái niệm chung về kết hôn có yếu tố nước ngoài............................... 7
1.1.1. Khái niệm kết hôn ................................................................................ 7
1.1.2. Kết hôn trái pháp luật ........................................................................... 8
1.1.3. Kết hôn có yếu tố nước ngoài ............................................................... 9
1.2. Pháp luật điều chỉnh kết hôn có yếu tố nước ngoài ........................... 12
1.2.1. Nguyên tác áp dụng luật ..................................................................... 12
1.2.2. Thẩm quyền giải quyết kết hôn có yếu tố nước ngoài ......................... 19
1.2.3. Điều kiện kết hôn ............................................................................... 23
1.2.4. Trình tự, thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt
Nam ............................................................................................................. 28
1.2.5. Hủy việc kết hôn trái pháp luật có yếu tố nước ngoài ......................... 35
Chương 2: THỰC TRẠNG KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC GIANG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN
THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI ...... 40
2.1. Thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
giai đoạn 2010 đến nay ............................................................................... 40
2.1.1. Tình hình kết hôn giữa phụ nữ Bắc Giang với đàn ông Trung Quốc, Đài

riêng giữa các nước là điều tất yếu và ngày càng phát triển. Vì vậy, để quản lý
xã hội, cần có các quy định pháp luật để điều chỉnh quan hệ có yếu tố nước
ngoài, trong đó có quan hệ về hôn nhân. Cùng với tiến trình lịch sử của đất
nước, quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài được phát luật quy định ở từng
thời kỳ khác nhau là khác nhau, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn
hóa, chính trị của từng thời kỳ. Hiện nay, nước ta đã tham gia ký kết rất nhiều
Hiệp định tương trợ tư pháp với các nước để giải quyết các vấn đề về kết hôn
có yếu tố nước ngoài như Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam và Liên
Bang Nga năm 1981, giữa Việt Nam và Lào năm 1998, hay Hiệp định lãnh sự
giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 1998...
Đối với các văn bản trong nước điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố
nước ngoài ngày càng hoàn thiện, đáp ứng quan xu thế phát triển về kết hôn
có yếu tố nước ngoài ngày càng đa dạng và phức tạp. Hiện nay, việc kết hôn
có yếu tố nước ngoài được điều chỉnh bởi hai đạo luật quan trọng, đó là Luật
Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014 và rất nhiều văn bản
hướng dẫn khác. Sự ra đời của hai đạo luật này là bước tiến nhằm khắc phục
những hạn chế, bất cập của các quy định về hôn nhân và gia đình nói chung
và quy định kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng. Tuy nhiên, một số quy
định về kết hôn có yếu tố nước ngoài còn bất cập, hạn chế, thiếu sót, chưa rõ
ràng, chưa phù hợp với thực tiễn, dẫn đến trong quá trình áp dụng các quy
định của pháp luật gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, thiếu thống nhất.
Mặt khác, thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài nói chung và trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang nói riêng, còn có nhiều yếu tố phức tạp, thực tế không
ít những trường hợp kết hôn với người nước ngoài, đặc biệt là phụ nữ Việt
Nam kết hôn vì mục đích kinh tế, kết hôn khi chưa viết người bạn đời của


2

mình là ai? Dẫn đến nhiều nơi ồ ạt đua nhau lấy chồng nước ngoài đặc biệt là

3

bài viết “Mô hình cơ quan tư vấn, hỗ trợ kết hôn có yếu tố nước ngoài”, đăng
tạp chí Luật học số 04/2008. Luận văn Thạc sỹ Nhâm Ngọc Hiển với đề tài
“Kết hôn có yếu tố nước ngoài – Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật
trên địa bàn thành phố Hải Phòng” năm 2010, Luận văn Thạc sỹ Tạ Tùng Hoa
với đề tài “Vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” năm 2014, Luận văn Thạc sỹ Nguyễn Đức Việt với đề tài
“Kết hôn giữa công dân Việt Nam với công dân Trung Quốc, Đài Loan tại
Việt Nam” năm 2014, Luận văn Thạc sỹ Phouttavy Inthalangsy với đề tài
“Quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam
và kinh nghiệm đối với xây dựng pháp luật Lào”, năm 2015 ….
Các đề tài nghiên cứu, bài viết của các tác giả nghiên cứu về quan hệ
hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đề cập vấn đề trong tư pháp quốc
tế, giải quyết xung đột pháp luật, hoặc bàn về quy phạm pháp luật dưới góc
độ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình mang tính chất lý luận
chung, khái quát, phạm vi nghiên cứu rộng, chỉ có luận văn Thạc sỹ của
Nhâm Ngọc Hiển có nghiên cứ cả về lý luận và thực tiễn áp dụng quy định về
kết hôn có yếu tố nước ngoài trên địa bàn nhất định.
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu chủ yếu đề cập đến Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2000, Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính
phủ. Kể từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014
có hiệu lực, chưa có một đề tài nào nghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc,
đầy đủ và có hệ thống các quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy
định Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014. Do vậy,
đề tài nghiên cứu luận văn này của tác giả hoàn toàn có tính mới và không
trùng lặp về mặt nội dung với các công trình nghiên cứu trước đây.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng và phạm vi đề tài nghiên cứu rất rộng, tuy nhiên trong giới
hạn, phạm vi bài luận văn này tác giả nghiên cứu các quy định pháp luật hiện

- Phương pháp so sánh: Tác giả so sánh một số quy định của pháp luật
Việt Nam với Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan và một số nước khác, trong
việc kết hôn có yếu tố nước ngoài, sử dụng phương pháp này thấy được xung
đột pháp luật, từ đó chúng ta hoàn thiện quy định của pháp luật để giải quyết


5

xung đột pháp luật, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người Việt Nam
khi kết hôn với người nước ngoài. So sánh các quy định của pháp luật về kết
hôn có yếu tố nước ngoài trước thời điểm Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014, Luật Hộ tịch 2014 có hiệu lực với quy định pháp luật hiện hành.
- Phương pháp thống kê: Luận văn đã sử dụng thống kê những số liệu
thực tế, đầy đủ để chứng minh cho các nội dung đã trình bày trong luận văn
một cách khách quan, trung thực và khoa học.
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Làm sáng tỏ những quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài theo quy
định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014, các
văn bản hướng dẫn. Đánh giá ưu, nhược điểm về các quy định pháp luật về
kết hôn có yếu tố nước ngoài, thực trạng giải quyết việc kết hôn có yếu tố
nước ngoài trên địa bàn tỉnh Bắc Giang. Quá trình nghiên cứu, tác giả đưa ra
những kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiên quy định pháp luật và cơ chế
thực hiện việc kết hôn có yếu tố nước ngoài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu
Với đề tài nghiên cứu này: Về lý luận tác giả nghiên cứu có hệ thống và
toàn diện các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về kết hôn có yếu tố
nước ngoài, đánh giá những ưu, nhược điểm của các quy định pháp luật từ đó
muốn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về kết hôn có yếu tố
nước ngoài để phù hợp với thực tiễn nước ta và xu thế phát triển chung của
thế giới.

hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng khi thỏa mãn các điều kiện kết
hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định
của pháp luật [29].
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam: Kết hôn là sự kết hợp hai
người khác giới để lập gia đình, sinh con đẻ cái, thực hiện chức năng sinh học
và các chức năng khác của gia đình [57].
Theo quy định tại Điều 24, Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 39
Bộ luật Dân sự năm 2015: Kết hôn là quyền dân sự của cá nhân được quy
định trong Bộ luật dân sự, theo đó nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy
định của pháp luật về hôn nhân và gia đình có quyền tự do kết hôn. Việc tự do
kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những
người theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với
người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Luật Hôn nhân và gia đình năm
1986 quy định về chế định kết hôn, tuy nhiên không giải thích thế nào là kết
[28] Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học 1999, Trường Đại học Luật Hà nội, NXB. Công an nhân dân, Hà
Nội.
[29] Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý, NXB Tư pháp, Hà Nội.
[57] Từ điển bách khoa toàn thư, Viện Từ điển và Bách khoa toàn thư Việt Namwww.bachkhoatoanthu.gov.vn.


8

hôn. Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định về kết hôn như sau:
Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp
luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Tiếp tục kế thừa các quy định
của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định kết hôn tại khoản 5 Điều 3 như sau: Kết hôn là việc nam và nữ
xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện
kết hôn và đăng ký kết hôn.

xét dựa trên công sức đóng góp của mỗi bên. Đối với vấn đề về quyền lợi của
con chung được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.
1.1.3. Kết hôn có yếu tố nước ngoài
Kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng
theo những quy định của pháp luật về các điều kiện kết hôn và đăng ký kết
hôn có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định tại 758 Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 663 Bộ luật Dân
sự năm 2015 như sau: “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân
sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước
ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa
các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác định,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước
ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài”.
Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định quan hệ hôn nhân và
gia đình có yếu tố nước ngoài tại khoản 25 Điều 3 như sau:
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ hôn
nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa các bên tham
gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan
hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên
quan đến quan hệ đó ở nước ngoài.
Như vậy, kết hôn có yếu tố nước ngoài gồm có những trường hợp sau:
- Quan hệ kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc
giữa người nước ngoài với nhau cư trú tại Việt Nam. Theo đó, trong quan hệ
này thì một bên là công dân Việt Nam, một bên là người nước ngoài. Công


10

dân Việt Nam khi tham gia quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài phải có đầy


dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở
nước ngoài như sau:
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước
ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước
ngoài được ghi vào Sổ hộ tịch nếu tại thời điểm kết hôn, các bên đáp ứng đủ
điều kiện kết hôn và không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam. Nếu vào thời điểm đăng ký tại cơ quan có thẩm
quyền nước ngoài, việc kết hôn không đáp ứng điều kiện kết hôn, nhưng
không vi phạm điều cấm theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, nhưng
vào thời điểm yêu cầu ghi vào Sổ hộ tịch việc kết hôn, hậu quả đã được khắc
phục hoặc việc ghi chú kết hôn là nhằm bảo vệ quyền lợi của công dân Việt
Nam và trẻ em, thì việc kết hôn cũng được ghi vào Sổ hộ tịch.
Như vậy, đối với trường hợp này các chủ thể tham gia quan hệ kết hôn
đều là công dân Việt Nam, tuy nhiên căn cứ làm phát sinh quan hệ này là việc
đăng ký kết hôn tiến hành ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài thì được
coi là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Việc hai công dân Việt Nam
đăng ký kết hôn với nhau tại Đại sứ Quán hoặc Lãnh sự quán của Việt Nam ở
nước ngoài (cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài) thì có được coi là
đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài hay không? Trường hợp này, không
được coi là quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, đối với việc kết hôn trong
trường hợp này, luật áp dụng là Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật
Hộ tịch năm 2014, Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015. Như trường
hợp sau được coi là kết hôn có yếu tố nước ngoài: Trường hợp công dân Việt
Nam cùng nhau định cư ở Anh, chưa nhập quốc tịch Anh, tuy nhiên làm thủ
tục đăng ký kết hôn với nhau tại cơ quan có thẩm quyền của Anh và theo
pháp luật của nước Anh, trong những trường hợp này có sự xung đột pháp
luật, việc kết hôn này muốn được công nhận tại Việt Nam thì phải được ghi
chú vào Sổ đăng ký kết hôn và thỏa mãn điều kiện về pháp luật Việt Nam.


mà Việt Nam tham gia hoặc ký kết. Trong trường hợp pháp luật Việt Nam và
các điều ước quốc tế quy định cùng một vấn đề mà có sự mâu thuẫn với nhau


13

thì ưu tiên áp dụng điều ước quốc tế, điều này được thể hiện tại khoản 1 Điều
122 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp điều
ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy
định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc
tế đó”.
Thứ hai: Nguyên tắc bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Việt Nam ở nước ngoài phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật nước sở
tại, pháp luật và tập quán quốc tế
Trong quá trình giao lưu quốc tế, công dân Việt Nam kết hôn với người
nước ngoài, có thể đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam, có thể
đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài. Sau khi kết
hôn, công dân Việt Nam có thể vẫn ở trong nước, cũng có trường hợp ra nước
ngoài cùng gia đình sinh sống, có những trường hợp thôi quốc tịch Việt Nam,
nhưng cũng không ít trường hợp vẫn có quốc tịch Việt Nam. Quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, coi đây là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt
Nam, Nhà nước luôn khuyến khích và tạo điều kiện cho người Việt Nam định
cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ
quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương. Tại khoản 3 Điều 212 Luật Hôn
nhân và gia đình quy định: “ Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước ngoài trong
quan hệ hôn nhân và gia đình phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật
nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế”.
Việc bảo về quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam ở nước

tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công
dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ;
xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, các thành viên gia đình có nghĩa
vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không phân biệt đối xử giữa
các con; Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em,
người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đinh,
giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ, thực hiện


15

kế hoạch hóa gia đình; kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt
đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.
Như vậy, pháp luật nước ngoài không được dẫn chiếu áp dụng khi quy
định của pháp luật nước ngoài trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt
Nam, việc không áp dụng nước ngoài trong trường hợp trên là hợp lý, bởi nếu
pháp luật nước ngoài áp dụng sẽ gây hậu quả xấu, tiêu cực, ảnh hưởng đến
nền tảng chính trị, đạo đức, truyền thống của nước ta.
Thứ tư: Nguyên tắc áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình của
Việt Nam đối với quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo quy định khoản 1 Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
quy định: Các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình của nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được áp dụng đối với quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nước ngoài, trừ trường hợp Luật Hôn nhân và gia đình có quy
định khác. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên có quy định khác với Luật Hôn nhân và gia đình thì
áp dụng quy định của điều ước quốc tế.
Quy định trên sẽ tạo điều kiện cho các cơ quan có thẩm quyền giải
quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam nhanh chóng, đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ kết hôn, cũng như đảm

thủ quy định của pháp luật nơi tiến hành kết hôn, công dân Pháp phải thông
báo việc kết hôn này về nước cho cơ quan có thẩm quyền. Theo quy định của
Đức thì quy định kết hôn có yếu tố nước ngoài nếu không phù hợp với pháp
luật nơi tiến hành kết hôn, nhưng phù hợp với pháp luật quốc tịch của đương
sự thì cuộc hôn nhân đó vẫn được coi là hợp pháp.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nước ta chỉ quy định
điều chỉnh việc giải quyết xung đột về điều kiện kết hôn, chưa quy định việc
lựa chọn áp dụng luật để điều chỉnh nghi thức kết hôn có yếu tố nước ngoài,
nhưng tại khoản 1 Điều 16 Nghị định 24/2013/NĐ-CP ngày 28/3/2013 của
Chính phủ quy định:
Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước
ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước
ngoài, phù hợp với pháp luật của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam,


17

nếu vào thời điểm kết hôn, công dân Việt Nam không vi phạm quy định của
pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn. Trường hợp có vi phạm pháp luật
Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc
kết hôn, hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết
hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó
cũng được công nhận tại Việt Nam.
Theo đó, việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của
nước ngoài phù hợp với quy định về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn
của nước đó thì được công nhận tại Việt Nam. Như vậy pháp luật nước ta
thừa nhận việc áp dụng luật nơi tiến hành kết hôn để thừa nhận nghi thức tiến
hành kết hôn, nghi thức kết hôn là nghi thức dân sự, việc kết hôn phải được
đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ở nước ta việc giải quyết xung đột về hình thức hôn nhân cũng áp dụng

phải tuân theo quy định pháp luật của nước mà họ mang quốc tịch, nếu việc
kết hôn đó được thực hiện tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người
nước ngoài đó còn phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam về điều
kiện kết hôn.
Đối với trường hợp người không có quốc tịch, điều kiện kết hôn được
thực hiện theo luật nơi cư trú của người đó. Đối với người nước ngoài có hai
hay nhiều quốc tịch, theo quy định tại Điều 672 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật của nước mà cá
nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người không quốc tịch thì pháp luật áp
dụng là pháp luật của nước nơi người đó cư trú vào thời điểm phát sinh quan
hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không
xác định được nơi cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có mối
liên hệ gắn bó nhất. Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu đến là pháp luật
của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người có nhiều quốc
tịch thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước nơi người đó có quốc tịch và
cư trú vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài. Nếu
người đó có nhiều nơi cư trú hoặc không xác định được nơi cư trú hoặc nơi cư


19

trú và nơi có quốc tịch khác nhau vào thời điểm phát sinh quan hệ dân sự có
yếu tố nước ngoài thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước mà người đó có
quốc tịch và có mối liên hệ gắn bó nhất. Trường hợp pháp luật được dẫn chiếu
đến là pháp luật của nước mà cá nhân có quốc tịch nhưng cá nhân đó là người
có nhiều quốc tịch, trong đó có quốc tịch Việt Nam thì pháp luật áp dụng là
pháp luật Việt Nam.
Như vậy, đối với trường hợp người nước ngoài có hai hay nhiều quốc
tịch thì sẽ áp dụng pháp luật của nước người đó mang quốc tịch đồng thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status