ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀ N MINH PHƢƠNG
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐOÀ N MINH PHƢƠNG
HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luâ ̣t Dân sƣ̣
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
1.1.2. Kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài ............................................................... 16
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ KẾT HÔN
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI ......................................................................... 24
1.2.1. Phƣơng pháp điều chỉnh ........................................................................ 24
1.2.2. Nguồn pháp luật điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài ..... 27
1.3. CÁC NGUYÊN TẮC ĐIỀU CHỈNH QUAN HỆ KẾT HÔN CÓ YẾU
TỐ NƢỚC NGOÀI ......................................................................................... 33
1.3.1. Các nguyên tắc chung điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
......................................................................................................................... 34
1.3.2. Các nguyên tắc chuyên biệt điều chỉnh quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc
ngoài tại Việt Nam........................................................................................... 40
CHƢƠNG 2..................................................................................................... 45
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI VIỆT NAM .............................................. 45
2.1. THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ ĐIỀU
KIỆN KẾT HÔN ............................................................................................. 45
2.1.1. Điều kiện về tuổi kết hôn ...................................................................... 45
2.1.2. Điều kiện về sự tự nguyện kết hôn........................................................ 48
2.1.3. Điều kiện về tình trạng hôn nhân .......................................................... 52
2.1.4. Điều kiện về sức khỏe ........................................................................... 54
2.1.6. Điều kiện không cùng giới tính ............................................................. 60
2.1.7. Điều kiện về nghi thức kết hôn ............................................................. 64
2.2. THỰC TRẠNG VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT VIỆC ĐĂNG KÝ
KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI ....................................................... 65
2
2.2.1. Thẩm quyền đăng ký kết hôn của Ủy ban nhân dân cấ p huyê ̣n............ 65
2.2.2. Ủy ban nhân dân xã ở khu vực biên giới .............................................. 68
2.2.3. Thẩm quyền đăng ký kết hôn của Cơ quan đại diện ngoại giao của Việt
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu thế hội nhập hiện nay, nhiều lĩnh vực đã mang tính quốc tế,
vƣợt ra ngoài khuôn khổ trong nội bộ một quốc gia, từ chính trị, kinh doanh,
thƣơng mại, giải trí và ngay cả vấn đề hôn nhân gia đình, từ đó hình thành nên
những quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài.
Quan hệ hôn nhân gia đình có yếu tố nƣớc ngoài là những quan hệ dân
sự đặc thù, phức tạp đƣợc Luật Dân sự cũng nhƣ các văn bản pháp luật
chuyên ngành điều chỉnh với những trình tự, thủ tục nhất định nhằm đảm bảo
tính chính xác của các quan hệ này. Để điều chỉnh quan hệ hôn nhân gia đình
có yếu tố nƣớc ngoài nói chung cũng nhƣ vấn đề kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
nói riêng, Nhà nƣớc ta đã ban hành các văn bản pháp luật từ văn bản có tính
chất định hƣớng, mang tính nguyên tắc là Hiến pháp, đến văn bản pháp luật
điều chỉnh riêng cho các quan hệ pháp luật dân sự là Bộ luật Dân sự, đến các
văn bản pháp luật chuyên ngành nhƣ Luật Hôn nhân và gia đình, ngoài ra còn
có các văn bản pháp luật khác hƣớng dẫn chi tiết thi hành các quy định pháp
luật về hôn nhân có yếu tố nƣớc ngoài.
Hiện nay, vấn đề kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài đang tăng nhanh ở Việt
Nam, một phần là do sự hội nhập kinh tế - xã hội, phần khác là do sự giao lƣu
văn hóa quốc tế. Ngoài ra không loại trừ những trƣờng hợp kết hôn nhằm mục
đích nhập quốc tịch nƣớc ngoài, kết hôn với ngƣời nƣớc ngoài mới ƣớc mơ
“đổi đời” hoặc lợi dụng các chính sách của Nhà nƣớc đối với kết hôn với
ngƣời nƣớc ngoài để thực hiện hành vi mua bán phụ nữ, hoặc môi giới kết
hôn…Đó là những hiện tƣợng gây ảnh hƣởng đến tính hiệu lực, hiệu quả của
các quy định pháp luật cũng nhƣ ảnh hƣởng đến bản chất của việc kết hôn là
xuất phát từ tình yêu, sự tự nguyện, bình đẳng giữa hai bên vợ chồng.
3. Đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu
5
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn
áp dụng pháp luật về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài theo quy định của pháp
luật hôn nhân và gia đình và luật hộ tịch. Từ những quy định mới của pháp
luật, tác giả có sự so sánh với những tồn tại, hạn chế của pháp luật hôn nhân
và gia đình trƣớc đó, đồng thời đƣa ra giải pháp và phƣơng hƣớng để áp dụng
pháp luật mới trên thực tế.Ngoài ra có sự so sánh với pháp luật của một số
quốc gia để thấy đƣợc sự phù hợp hay chƣa phù hợp đối với các quy định hiện
hành của pháp luật Việt Nam.
3.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Về phƣơng pháp luận: Luận văn lấy lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm
phƣơng pháp luận trong quá trình nghiên cứu đề tài, với quan điểm xây dựng
Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhằm xây dựng một xã
hội dân chủ, văn minh.
Về phƣơng pháp nghiên cứu: Luận văn đã sử dụng các phƣơng pháp
nghiên cứu: Lịch sử, phân tích, so sánh, tổng hợp.
Phƣơng pháp lịch sử: Đây là phƣơng pháp cổ điển đƣợc áp dụng khá
phổ biến trong nghiên cứu khoa học nói chung và trong nghiên cứu khoa học
pháp lý nói riêng. Áp dụng phƣơng pháp này khi nghiên cứu đề tài nhằm làm
rõ sự phát triển có tính kế thừa của pháp luật trong việc điều chỉnh quan hê ̣
kế t hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại Việt Nam.
Phƣơng pháp phân tích: Các vấn đề mà đề tài đặt ra sẽ đƣợc phân tích
về mặt lý luận để thấy rõ tính khoa học của việc điều chỉnh quan hệ hôn nhân
có yếu tố nƣớc ngoài trong phạm vi quốc gia và trong phạm vi quốc tế.
các Luật mới đã có tác động lớn đến việc áp dụng vấn đề kết hôn có yếu tố
nƣớc ngoài trên thực tế nhƣ: Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014 và các Nghị định hƣớng dẫn.Cùng với
7
việc phân tích những quy định mới của pháp luật, tác giả sẽ có sự so sánh với
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, cũng nhƣ pháp luật một số quốc gia trên
thế giới.
5. Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn nghiên cứu những vấn đề về các quy định về kết hôn có yếu
tố nƣớc ngoài và thực tiễn áp dụng các quy định đó một cách tổng quát. Với
vai trò là một công trình nghiên cứu, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ mang
lại những đóng góp mới về mặt khoa học nhƣ sau:
Thứ nhất, thông qua việc nêu và phân tích các khái niệm, các quy định
của pháp luật hiện hành về kết hôn, kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài, luận văn sẽ
mang lại cho ngƣời đọc cái nhìn tổng quát về các quy định của Việt Nam.
Điều này là cần thiết khi mà nghiên cứu khoa học cần xuất phát từ lý luận.
Thứ hai, việc phân tích thực tiễn áp dụng các quy định về kết hôn có
yếu tố nƣớc ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành cho phép
tác giả chỉ ra những điểm tiến bộ so với các quy định trƣớc đây và những
điểm vƣớng mắc, bất cập và hạn chế trong quá trình áp dụng tại Việt Nam.
Thứ ba, thông qua những phân tích ở trên, tác giả có thể đƣa ra những
đề xuất, kiến nghị những giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của
pháp luật về vấn đề kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài. Đồng thời, luận văn cũng
đƣa ra những biện pháp làm tăng tính hiệu lực, hiệu quả cho hoạt động bảo
đảm thi hành các quy định về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
Luận văn có thể đƣợc dùng làm tài liệu tham khảo mang tính lý luận và
thực tiễn, có ý nghĩa trong hoạt động xây dựng luật. Ngoài ra, luận văn cũng
hiể u về nhƣ̃ng khía ca ̣nh cu ̣ thể của kế t hôn có yế u tố nƣớc ngoài nhƣ vấ n đề
môi giới kế t hôn , đăng ký kế t hôn ta ̣i khu vƣ̣c biên giới hay quan hê ̣ kế t hôn
có yếu tố nƣớc ngoài giữa chủ thể công dân Việt Nam và ngƣ
ời nƣớc
ngoài…chứ chƣa có một nghiên cứu khoa học nào đề cập đến tổng quát các
khía cạnh pháp luật về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài bao gồm điều kiện kết
hôn, thủ tục đăng ký kết hôn , thƣ̣c tra ̣ng áp du ̣ng pháp luâ ̣t về kế t hôn có yế u
9
tố nƣớc ngoài để tƣ̀ đó đƣa ra kiế n nghi ̣cho pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam về hoàn thiê ̣n
pháp luật về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
trong bối cảnh tổng kết thi hành
Luật hôn nhân và gia đình 2000 cũng nhƣ thực tiễn triển khai Luật hôn nhân
gia đình 2014
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 03 chƣơng:
Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
Chƣơng 2: Thƣ̣c tra ̣ng pháp luật về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài và thực tiễn
thi hành tại Việt Nam
Chƣơng 3:Phƣơng hƣớng và giải pháp hoànthiện pháp luật về kết hôn có yếu
tố nƣớc ngoài tại Việt Nam
10
phối bởi phong tục , tập quán cũng nhƣ truyền thống lập pháp của mỗi quốc
gia. Trên thế giới,có tồn tại bốn nhóm nghi thức kết hôn . Trong đó nhóm thƣ́
nhấ t bao gồ m các nƣớc chỉ thƣ̀a nhâ ̣n n
ghi thƣ́c dân sƣ̣ (viê ̣c kế t hôn phải
đƣơ ̣c đăng ký trƣớc cơ quan nhà nƣớc có thẩ m quyề n ) nhƣ Pháp , Viê ̣t Nam,
11
Đức, Áo. Nhóm thứ hai bao gồm các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức tôn
giáo, đó là các quốc gia Hồi giáo . Nhóm thứ ba là sƣ̣ công nh ận sự hợp pháp
của cả hai nghi thức kết hôn . Theo đó ngƣời kế t hôn có thể lựa chọn một
trong hai nghi thức kết hôn là nghi thức tôn giáo hoặc nghi thức dân sự. Đây
là giải pháp đƣợc lựa chọn trong pháp luật của các quốc gia nhƣ Mỹ, Đan
Mạch, Thụy Điển…Nhóm thƣ́ tƣ là buô ̣c chủ thể kế t hôn phải thƣ̣c hiê ̣n lầ n
lƣơ ̣t hai nghi thƣ́c kế t hôn là nghi thƣ́c dân sƣ̣ và nghi thƣ́c tôn giáo thì hôn
nhân mới đƣơ ̣c công nhâ ̣n. Điể n hiǹ h của nhóm này là Vƣơng Quốc Anh.
Hiê ̣n nay, nghi thức dân sự vẫn là nghi thức đƣợc nhiều quốc gia lựa
chọn và ghi nhận trong pháp luật. Ở Việt Nam, sƣ̣ ảnh hƣởng của nề n văn hóa
Pháp trong thời kỳ Pháp thuộc đã dẫn tới sự công nhận kết hôn bằng nghi
thƣ́c dân sƣ̣ trong hê ̣ thố ng pháp luâ ̣t . Trong Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931,
Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 và Bộ Dân luật giản yếu năm 1883đều quy
định việc kết hôn phải đƣợc khai với Hộ lại. Nhƣ vây, việc nam, nữ lấy nhau
thành vợ chồng không chỉ đơn thuần là việc ràng buộc về mặt xã hội mà phải
có sự ràng buộc về mặt pháp lý, là cơ sở chứng minh quan hệ vợ chồng giữa
hai bên nam nữ. Pháp luật Luâ ̣t Hôn nhân và gia đình của Nhà nƣớc ta từ sau
cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay cũng tiế p tu ̣c ghi nhận nghi thức kết
hôn có giá trị pháp lý là nghi thức dân sự.[12, tr.11-12]
. Kế t hôn để
thiế t lâ ̣p quan hê ̣ hôn nhân ổ n đinh
̣ lâu dài , xây dƣ̣ng gia điǹ h no ấ m , bình
đẳ ng, hạnh phúc, bề n vƣ̃ng không vì mu ̣c đić h thỏa mãn nhu cầu vật chất và
nhu cầ u tinh thầ n trong mô ̣t thời điể m ngắ n.
Thƣ́ hai, viê ̣c kế t hôn của nam, nƣ̃ phải đƣơ ̣c Nhà nƣớc thƣ̀a nhâ ̣n : Đây
là yếu tố đảm bảo sự tồn tại về mặt pháp lý của hệ hôn nhân, là cơ sở đảm bảo
quyề n và lơ ̣i ích hơ ̣p pháp của các bên trong quan hê ̣ hôn nhân . Tại Khoản 2
Điề u 36 Hiế n pháp năm 2013 quy đinh:
̣ “Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia
đình”.[33] Nhà nƣớc chỉ bảo hộ quan hệ hôn nhân hợp pháp , đó là quan hê ̣
hôn nhân tuân thủ các quy đinh
̣ pháp luâ ̣t về hôn nhân và gia đình Viê ̣t Nam.
Nhƣ vâ ̣y, dƣới góc đô ̣ pháp lý , nế u hiể u khái niê ̣m kế t hôn với ý nghiã
là một sự kiện pháp lý thì kết hôn là căn cứ làm phát sinh quan hệ vợ chồng
giƣ̃a mô ̣t ngƣời nam và mô ̣t ngƣời nƣ̃ . Kết hôn theo quy định của pháp luật là
căn cứ để Nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của
ngƣời kết hôn.
13
Nế u hiể u khái niê ̣m kết hôn với ý nghĩa là một chế định pháp lý thì chế
đinh
̣ kế t hôn là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan
hệ giữa vợ và chồng. Nội dung của chế định kết hôn bao gồm các quy định về
điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn và hình thức xử lý các trƣờng hợp vi phạm
điều kiện kết hôn.
- Khái niệm kết hôn với ý nghĩa là một chế định pháp lý
việc kết hôn cũng chú trọng ghi nhận vấn đề đăng ký kết hôn.
Xét dƣới góc độ quản lý hộ tịch, đăng ký kết hôn là một thủ tục do cơ
quan có thẩm quyền tiến hành nhằm kiểm tra các điều kiện kết hôn và xác
nhận việc kết hôn của hai bên nam nữ thông qua việc cấp Giấy chứng nhận
kết hôn. Vì vậy, việc đăng ký kết hôn không chỉ có ý nghĩa đối với ngƣời kết
hôn mà thông qua thủ tục này Nhà nƣớc cũng kiểm soát đƣợc việc kết hôn
nhằm xác lập những cuộc hôn nhân lành mạnh, tiến bộ, hạnh phúc.
Thứ ba, xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn. Điều kiện kết hôn và đăng
ký kết hôn là một trong các yếu tố cấu thành chế định kết hôn. Do vậy, việc
kết hôn không tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn thì sẽ bị xử lý vi
phạm. Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn theo pháp luật Việt Nam đa dạng
về các hình thức chế tài và không chỉ áp dụng riêng đối với ngƣời kết hôn mà
còn áp dụng với những ngƣời có liên quan. Chế tài hành chính hoặc hình sự
cũng có thể đƣợc áp dụng để xử lý đối với hành vi vi phạm. Theo quy định
của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, chế tài xử lý vi phạm
pháp luật về kết hôn đƣợc đặt ra đối với cả trƣờng hợp “kết hôn trái pháp
luật”, “chung sống nhƣ vợ chồng trái pháp luật” và “đăng ký kết hôn sai thẩm
quyền”. Kết hôn trái pháp luật là việc xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký
kết hôn nhƣng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định. Đăng ký kết
hôn sai thẩm quyền là trƣờng hợp việc đăng ký kết hôn không phải do cơ
quan có thẩm quyền thực hiện. Trƣờng hợp kết hôn trái pháp luật thì xử lý
15
theo hƣớng “hủy việc kết hôn trái pháp luật”. Đăng ký kết hôn sai thẩm quyền
thì tuyên bố “không công nhận họ là vợ chồng”. Chung sống nhƣ vợ chồng
trái pháp luật thì tuyên bố “buộc phải chấm dứt hành vi chung sống nhƣ vợ
chồng trái pháp luật”. Về nhân thân, hai bên nam nữ không đƣợc thừa nhận là
vợ chồng. Tài sản giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc
Trong bối cảnh mở cửa và hội nhập cũng nhƣ xu thế chung của thế giới
trong việc bảo vệ và tôn trọng các quyền con ngƣời, việc kết hôn có yếu tố
nƣớc ngoài cũng đƣợc các quốc gia trên thế giới chú trọng điều chỉnh bằng
pháp luật. Pháp luật của hầu hết các nƣớc trên thế giới đều ghi nhận vấn đề
này.
Ở Việt Nam , thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập , khung pháp
luật điều chỉnh quan hê ̣ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài ngày càng
hoàn thiện.
Trong lich
̣ sƣ̉ phát triể n của pháp luâ ̣t Viê ̣t Nam, quan hê ̣ kế t hôn có yế u
tố nƣớc ngoài đã đƣợc đề cập trong hệ thống pháp luật thời Pháp thuộc. Trong
các bộ luật này tuy có một số quy phạm đề cập vấn đề hôn nhân có yếu tố
nƣớc ngoài nhƣng về thực chất các quy phạm này chủ yếu nhằm điều chỉnh
vấn đề quốc tịch. Ví dụ: Tại Điều thứ 15 Bộ dân luật Bắc kì 1931 quy định:
"Đàn bà quốc dân Annam kết hôn với người Đại Pháp hay người ngoại quốc
thì sẽ theo quốc tịch người chồng, trừ khi quốc luật của người ngoại quốc ấy
không nhận cho vào quốc tịch người chồng thì không kể. Khi ấy người đàn bà
vẫn thuộc luật An Nam". Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975, pháp luật về
kế t hôn có yế u tố nƣớc ngoài chỉ đƣơ ̣c đề câ ̣p trong mô ̣t số văn bản pháp luâ ̣t
của Chính quyền Sài Gòn . Phải đến Pháp lệnh về hôn nhân và gia đình giƣ̃a
công dân Viê ̣t Nam với ngƣời nƣớc ngoài đƣơ ̣c Ủy ban Thƣờng vu ̣ Quố c hô ̣i
thông qua ngày 02/12/1993, quy đinh
̣ về kế t hôn giƣ̃a công dân Viê ̣t Nam với
ngƣời nƣớc ngoài mới đƣơ ̣c đƣa ra , đã đặt nền móng đầu tiên cho việc điều
chỉnh bằng pháp luật các quan hệ hôn nhân và gia điǹ h có yếu tố nƣớc
17
ngoài[26, tr. 7 - 8]. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đánh dấu một bƣớc
hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt
Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật
nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở
nước ngoài”. Khoản 2 Điề u 663 Bô ̣ luâ ̣t dân sƣ̣ năm 2015 đã quy đinh
̣ chi tiết
và rõ ràng hơn các trƣờng hợp quan hệ dân sự có yếu tố nƣớc ngoài bao gồm:
18
“a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, pháp nhân nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng
việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước
ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân Việt Nam, pháp nhân Việt Nam nhưng
đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài”[30].
Theo khoản 25 Điề u 3 Luâ ̣t Hôn nhân và gia điǹ h năm 2014 quan hê ̣
hôn nhân và gia đin
̀ h có yế u tố nƣớc ngoài là quan hê ̣ hôn nhân và gi
a điǹ h
(gồ m quan hê ̣ kế t hôn):
- Giƣ̃a công dân Viê ̣t Nam và ngƣời nƣớc ngoài , tƣ́c là căn cƣ́ vào yế u
tố chủ thể tham gia vào quan hê ̣ hôn nhân và gia đinh khác quố c tịch;
- Giƣ̃a các bên tham gia là công dân Việt Nam nhƣng căn cứ để xác lập ,
thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nƣớc ngoài, phát sinh tại nƣớc
ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nƣớc ngoài.
- Giƣ̃a ngƣời nƣớc ngoài với nhau thƣ ờng trú tại Việt Nam , căn cƣ́ vào
yế u tố nơi cƣ trú.
- Công dân Việt Nam:
Nếu công dân Việt Nam sinh sống ở nƣớc ngoài một cách hợp pháp và
kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của nƣớc sở tại sẽ đƣợc xem là một trƣờng
hợp kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài. Căn cứ xác lập mối quan hệ hôn nhân ở
đây là theo pháp luật nƣớc ngoài mặc dù chủ thể tham gia là ngƣời Việt Nam.
Xuất phát từ những ảnh hƣởng của tình hình kinh tế, những quan hệ xã hội
mới nảy sinh đòi hỏi pháp luật phải quy định mở rộng. Do tính chất của hôn
nhân có yếu tố nƣớc ngoài luôn có khả năng dẫn đến hiện tƣợng xung đột nên
việc xác định chủ thể hay căn cứ làm phát sinh quan hệ có ý nghĩa rất quan
trọng.
Ngoài ra, kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài còn diễn ra giữa chủ thể là công
dân Việt Nam kết hôn với nhau nhƣng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt
20
quan hệ đó theo pháp luật nƣớc ngoài, phát sinh tại nƣớc ngoài hoặc tài sản
liên quan đến quan hệ đó ở nƣớc ngoài.
Viê ̣c xác đinh
̣ “yế u tố nƣớc ngoài” trong quan hê ̣ hôn nhân và gia điǹ h
theo Luâ ̣t hôn nhân và gia điǹ h căn cƣ́ vào chủ thể , sƣ̣ kiê ̣n pháp lý , đố i tƣơ ̣ng
của quan hệ là tài sản, và nơi cƣ trú của các bên đƣơng sự.
- Căn cƣ́ yế u tố chủ thể : cũng giống nhƣ quy đinh
̣ của Bô ̣ luâ ̣t dân sƣ̣ ,
các chủ thể tham gia quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài gồm :
công dân Viê ̣t Nam ; ngƣời nƣớc ngoài (gồ m ngƣời có quố c tich
̣ nƣớc ngoài ,
ngƣời không quố c tich
̣ và nhiề u quố c tic̣ h); ngƣời Viê ̣t Nam đinh
̣ cƣ ở nƣớc
Nếu ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú ở Viê ̣t Nam thì pháp luâ ̣t áp du ̣ng để điề u
chỉnh quan hệ kết hôn giƣ̃a ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú ta ̣i Viê ̣t Nam là pháp
luâ ̣t Viê ̣t Nam, tƣ́c là áp du ̣ng nguyên tắ c luâ ̣t nơi cƣ trú . Viê ̣c áp du ̣ng nguyên
tắ c này là hoàn toàn hơ ̣p lý vì ngƣời nƣớc ngoài đang cƣ trú ta ̣i Viê ̣t Nam , các
cơ quan thẩ m quyề n Viê ̣t Nam áp du ̣ng luâ ̣t Viê ̣t Nam sẽ giải quyế t vu ̣ viê ̣c
nhanh chóng, thuâ ̣n lơ ̣i do không phải áp du ̣ng pháp luâ ̣t nƣớc ngoài.[20, 7-8]
Tƣ̀ phân tić h trên đƣa ra khái niê ̣m : Kế t hôn có yế u tố nước ngoài là
quan hê ̣ kế t hôn phát sinh giữa công dân Viê ̣t Nam và người nước ngoài hoặc
giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Viê ̣t Nam hoặc giữa công dân
Viê ̣t Nam với nhau cư trú tại nước ngoài mà căn cứ để xác lập quan hê ̣ đó
phát sinh ở nước ngoài.
- Yếu tố nhân thân và tài sản trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước
ngoài
Quan hệ vợ chồng là quan hệ đƣợc xác lập trên cơ sở của việc kết hôn
phù hợp với quy định của pháp luật. Quan hệ vợ chồng bao gồm quan hệ nhân
thân và quan hệ tài sản.
Thứ nhất, đối với quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng đƣợc hình thành
trên cơ sở những chế định pháp luật gắn liền với nhân thân của các bên chủ
thể nhƣ tên gọi, quốc tịch, uy tín, danh dự, nhân phẩm của các bên, đồng thời
nó xuất phát từ tình cảm của các bên trong quan hệ vợ chồng.
Đối với vấn đề quốc tịch, tại nhiều quốc gia quy định ngƣời phụ nữ nếu
lấy chồng ngƣời nƣớc ngoài phải mang quốc tịch của nƣớc ngƣời
chồng…Tuy nhiên hiện nay, vấn đề quốc tịch đã loại trừ sự phân biệt đối xử
với phụ nữ, theo đó khoản 2 Điều 9 Công ƣớc của Liên Hợp Quốc đã quy
định: Các nƣớc tham gia Công ƣớc hoan nghênh quyền của phụ nữ bình đẳng
với nam giới trong việc thay đổi hoặc giữ nguyên quốc tịch của mình. Đặc
biệt sẽ đảm bảo rằng khi ngƣời phụ nữ lấy chồng ngƣời nƣớc ngoài sẽ không
22