MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN - Pdf 34

MỤC LỤC
Trang
A.ĐẶT VẤN ĐỀ………………………………………………………………………….2
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ………………………………………………………………2
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN………………………………….2
1. Khái niệm ……………………………………………………………..........................2
2. Đặc điểm……………………………………………………………….........................3
3. Nhận xét:………………………………………………………………........................3
II. TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN…………………........................4
1. Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý công ty cổ phần:…………………………………...4
2. Thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ
máy tổ chức và quản lý công ty cổ phần……………………………………………….4
a. Đại hội đồng cổ đông:…………………………………………………………………5
b. Hội đồng quản trị……………………………………………………………………...8
c. Giám đốc (tổng giám đốc)……………………………………………………………
10
d. Ban kiểm soát………………………………………………………………………...12
3. Nghĩa vụ của người quản lý trong công ty cổ phần………………………………..12
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN……..13
1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức quản
lý công ty cổ phần……………………………………………………………………….13
2. Những định hướng cơ bản vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật
về tổ chức quản lý công ty cổ phần…………………………………………………….14
3. Một số kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật
về tổ chức quản lý công ty cổ phần…………………………………………………….15
C. KẾT LUẬN…………………………………………………………………………..16

1



họ sở hữu. Như vậy công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản dựa vào đó chúng ta phân
biệt với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh. Những đặc điểm đó là:
- Về thành viên công ty: trong suốt quá trình hoạt động ít nhất phải có 3 thành viên tham
gia công ty cổ phần. Là loại công ty đặc trưng cho công ty đối vốn, cho nên có sự liên kết
của nhiều thành viên và vì vậy, việc quy định số thành viên tối thiểu phải có đã trở thành
2


thông lệ quốc tế trong mấy trăm năm tồn tại của công ty cổ phần. Ở hầu hết các nước đều có
quy định số thành viên tối thiểu của công ty cổ phần.
- Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị
mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể
phản ánh mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần. Việc góp vốn vào công ty được thực hiện
bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể mua nhiều cổ phần. Luật không hạn chế mỗi
thành viên được mua tối đa bao nhiêu phần trăm vốn điều lệ nhưng các thành viên có thể
thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà một thành viên có thể mua nhằm
chống lại việc một thành viên nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty.
- Tính tự do chuyển nhượng phần vốn góp (cổ phần) của các thành viên được thể hiện
dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa. Người có
cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật.
- Về chế độ trách nhiệm: công ty cổ phần chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty
bằng tài sản của công ty. Các cổ đông chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác
của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (tức là đến hết giá trị cổ phần mà họ
sở hữu).
- Trong quá trình hoạt động, công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán (như cổ
phiếu, trái phiếu) ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán để huy động
vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn của công ty cổ phần.
- Công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân. Công ty có tư cách pháp nhân
kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh.
3. Nhận xét:

số cổ phần của công ty thì cơ cấu tổ chức quản lý bắt buộc phải có: Đại Hội Đồng Cổ Đông;
Hội Đồng Quản Trị; Giám Đốc (hoặc Tổng Giám Đốc) và Ban kiểm soát. Đây là mô hình tổ
chức quản lý truyền thống và điển hình của công ty cổ phần. Với mô hình này, việc tổ chức
quản lý công ty phải có sự phân công, phân nhiệm và chế ngự lẫn nhau giữa các cơ quan
quản lý, điều hành và kiểm soát công ty. Như vậy thì công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông
đến 3 cổ đông thì cơ cấu tổ chức quản lý công ty không nhất thiết phải có ban kiểm soát.
Tuy nhiên thì những công ty này vẫn có quyền thành lập ban kiểm soát trong bộ máy tổ
chức quản lý của mình.
2. Thẩm quyền và thể thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ chức và
quản lý công ty cổ phần.
Công ty cổ phần được tổ chức quản lý theo cơ chế có sự tách biệt khá rõ ràng giữa quyền
sở hữu và quyền quản lý công ty cổ phần. Quyền quản lý công ty được tập trung ở bộ máy
quản lý có tính chuyên nghiệp và các cổ đông nắm quyền sở hữu công ty có quyền bầu ra
bộ máy quản lý công ty. Trên phương diện khoa học thì quyền quản lý công ty có thể được
chia thành ba nhóm cơ bản sau đây:
- Quyền quyết định những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến sự tồn tại của công ty.
- Quyền xây dựng chiến lược, kế hoạch hoạt động kinh doanh và hoạt động điều hành
hoạt động kinh doanh của công ty.
- Quyền kiểm tra giám sát hoạt động của công ty.
Theo luật doanh nghiệp các quyền quản lý công ty cổ phần được phân chia cho các cơ
quan khác nhau là: ĐHĐCĐ, HĐQT, GĐ (TGĐ), BKS (nếu có).
Sự phân chia thẩm quyền cụ thể được xác định trong điều lệ của công ty trên cơ sở quy
định của pháp luật. Về nguyên tắc công ty cổ phần được tổ chức quản lý tập trung thông
4


qua cơ chế hội đồng. Theo đó đại hội đồng cô đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định
cao nhất của công ty, tuy nhiên quyền tự quyết định trong tổ chức quản lý công ty phải tuân
thủ khuôn khổ pháp luật. Những ràng buộc của pháp luật về nhiệm vụ quyền hạn và thể
thức hoạt động của các cơ quan trong bộ máy tổ chức quản lý công ty chính là khuôn khổ

định tổ chức lại, giải thể công ty… các quyền và nghĩa vụ cụ thể của ĐHĐCĐ được quy
định tại luật doanh nghiệp 2005 và điều lệ công ty. Là cơ quan tập thể, ĐHĐCĐ không làm
5


việc thường xuyên mà chỉ tồn tại trong thời gian họp và ra quyết định trên cơ sở biểu quyết
tại cuộc họp và lấy ý kiến của các cổ đông có quyền biểu quyết bằng văn bản.
ĐHĐCĐ họp ít nhất mỗi năm 1 lần và được triệu tập bởi HĐQT, Chủ tịch HĐQT chủ toạ
cuộc họp ĐHĐCĐ, điều kiện, thể thức tiến hành họp và ra quyết định của ĐHĐCĐ được
thực hiện theo quy định tại các điều từ điều 97 đến điều 106 luật doanh nghiệp 2005.
So với Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định cụ thể hơn
về hình thức, thời gian, địa điểm họp ĐHĐCĐ. HĐQT phải triệu tập họp bất thường
ĐHĐCĐ trong các trường hợp sau đây – HĐQT xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty:
- Số thành viên HĐQT còn lại ít hơn số thành viên theo quy định của pháp luật.
- Theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ
thông trong thời hạn liên tục ít nhất 6 tháng hoặc một tỉ lệ nhỏ hơn quy định tại điều lệ công
ty.
- Theo yêu cầu của ban kiểm soát.
- Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về điều lệ công ty.
Điểm mới cần chú ý tới về thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ là trong trường hợp HĐQT
không triệu tập ĐHĐCĐ như quy định thì chủ tịch hội đồng quản trị phải chịu trách nhiệm
trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh với công ty. Tương tự như vậy trong
trường hợp BKS không triệu tập họp ĐHĐCĐ như quy định thì trưởng BKS phải chịu trách
nhiệm trước pháp luật và phải bồi thường thiệt hại phát sinh với công ty. Việc bổ sung quy
định mới này nhằm đề cao vai trò trách nhiệm của cá nhân người có thẩm quyền.
Chủ tịch HĐQT và trưởng BKS là những người giữ trọng trách trong hoạt động của công
ty cổ phần, vì vậy việc đề cao trách nhiệm của họ là cần thiết, nhằm đảm bảo cho việc triệu
tập họp ĐHĐCĐ diễn ra theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Ngoài ra thì luật
cũng bổ sung quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông triệu tập họp ĐHĐCĐ trong trường hợp
BKS không triệu tập họp ĐHĐCĐ có thể đề nghị cơ quan đăng kí kinh doanh giám sát việc

định tỉ lệ tăng lên từ 51% lên 65%; 75% như trong Luật Doanh nghiệp 2005 nhằm bảo đảm
sự thống nhất ý chí, nguyện vọng của các cổ đông trong công ty. Việc thông qua quyết định
của ĐHĐCĐ, bên cạnh hình thức họp truyền thống, Luật Doanh nghiệp 2005 còn bổ xung
một hình thức mới là lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản (Điều 105). Theo đó HĐQT có quyền
lấy ý kiến cổ đông bằng văn bản để thông qua quyết định của ĐHĐCĐ bất cứ lúc nào nếu
xét thấy cần thiết vì lợi ích của công ty. HĐQT phải chuẩn bị để lấy phiếu ý kiến, dự thảo
quyết định của ĐHĐCĐ và các tài liệu giải trình dự thảo quyết định. Phiếu lấy ý kiến kèm
theo dự thảo quyết định và tài liệu giải trình phải được gửi bằng phương thức bảo đảm đến
được địa chỉ thường trú của từng cổ đông. Đối với trường hợp này sau khi kiểm tra phiếu thì
quyết định của ĐHĐCĐ được thông qua nếu được số cổ đông đại diện ít nhất 75% tổng số
cổ phiếu chấp thuận.
b. Hội đồng quản trị
Để có được những lợi ích như TNHH, thời gian hoạt động lâu dài và khả năng chuyển
nhượng cổ phiếu, nhà đầu tư trao quyền quản lý công ty cổ phần cho một nhóm người được
uỷ thác nhiệm vụ ra những quyết định vì lợi ích cao nhất của mọi nhà đầu tư vào công ty
chứ không vì một bộ phận nhà đầu tư nào đó. Nhóm người được uỷ thác này được các cổ
đông bầu chọn, được gọi là HĐQT. Những lợi ích của cổ đông, thành viên HĐQT và người
quản lý đôi khi có thể xung đột. Chẳng hạn một số cổ đông có thể muốn nhận cổ tức trong
khi các cổ đông khác và những người điều hành lại muốn tái đầu tư lợi nhuận và thúc đẩy
sự tăng trưởng của doanh nghiệp. HĐQT phải giải quyết những lợi ích xung đột này thông
7


qua những quyết định về lợi ích cao nhất cho công ty và mọi cổ đông của công ty. Do đó
quy định về quản lý công ty phải đảm bảo HĐQT có vai trò lãnh đạo chiến lược trong công
ty và giám sát có hiệu quả đối với công tác quản lý công ty cũng như trách nhiệm của
HĐQT trước công ty và các cổ đông. Luật doanh nghiệp 2005 quy định về HĐQT như sau:
*Nhiệm vụ và quyền hạn:
HĐQT là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định
mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty trừ những vấn đề thuộc thẩm


Thành viên của HĐQT phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự, không thuộc đối
tượng bị cấm quản lý doanh nghiệp và là cổ đông cá nhân sở hữu ít nhất 5% tổng số cổ
phần phổ thông hoặc người khác có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm quản lý kinh doanh
hoặc ngành nghề kinh doanh chủ yếu của công ty hoặc tiêu chuẩn, điều kiện khác theo quy
định của điều lệ công ty đối với công ty con là công ty mà nhà nước sở hữu cổ phần trên
50% vốn điều lệ thì thành viên hội đồng quản trị không được là người liên quan của người
quản lý, người có thẩm quyền bổ nhiệm quản lý công ty mẹ.
Đối với chủ tịch HĐQT, theo quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 (Điều 81) thì chủ
tịch HĐQT do HĐQT bầu trong số thành viên HĐQT còn theo quy định của Luật Doanh
nghiệp 2005 (điều 111) thì việc bầu chủ tịch HĐQT quy định theo hướng mở, giao quyền tự
chủ cho doanh nghiệp quyết định tại ĐHĐCĐ hoặc HĐQT nhưng phải được thể hiện rõ
trong điều lệ công ty.
Liên quan đến việc miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT, ngoài trường hợp không
đủ điều kiện và tiêu chuẩn làm thành viên HĐQT, ngoài trường hợp không đủ điều kiện và
tiêu chuẩn làm thành viên, có đơn xin từ chức hay các trường hợp do Điều lệ công ty quy
định, Luật Doanh nghiệp 2005 bổ xung 1 trường hợp miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên
HĐQT trong 6 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng. Việc bổ sung quy định này có
ý nghĩa nhằm nâng cao trách nhiệm của thành viên HĐQT trong việc điều hành hoạt động
của công ty. Ngoài các trường hợp trên thành viên HĐQT có thể bị miễn nhiệm, bãi nhiệm
bất cứ lúc nào theo quyết định của ĐHĐCĐ.
*Cuộc họp HĐQT
Họp HĐQT là một nội dung quan trọng trong hoạt động của HĐQT. HĐQT họp định kì
hoặc bất thường nhưng phải họp ít nhất 1 quý 1 lần tại trụ sở chính hoặc nơi khác. Cuộc họp
HĐQT được Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định cụ thể tại Điều 112.
Các quy định về họp HĐQT trong Luật Doanh nghiệp 2005 cũng có nhiều thay đổi so với
Luật Doanh nghiệp năm 1999. Điều 112 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định cụ thể các
trường hợp chủ tịch HĐQT có quyền triệu tập họp HĐQT mà không quy định chung chung
như Luật Doanh nghiệp 1999. Theo đó chủ tịch HĐQT phải triệu tập họp HĐQT khi có đề
nghị của BKS; của GĐ(tổng GĐ) hoặc ít nhất 5 người quản lý khác của ít nhất 2 thành viên

lương, tiền thưởng của GĐ (TGĐ) đầy đủ hơn, cụ thể: Nhiệm kì của GĐ (TGĐ) là không
quá 5 năm và có thể được bổ nhiệm lại với số nhiệm kì không hạn chế. GĐ (TGĐ) công ty
không đồng thời là GĐ (TGĐ) của công ty khác. GĐ (TGĐ) do HĐQT quyết định. GĐ
(TGĐ) được bổ sung thêm 2 quyền mới so với Luật Doanh nghiệp 1999 đó là quyền tuyển
dụng lao động và quyền kiến nghị phương án trả cổ tức hoặc sử lý lỗ trong kinh doanh.
Đồng thời luật cũng bổ xung quy định GĐ (TGĐ) có trách nhiệm điều hành công việc kinh
doanh hàng ngày theo đúng quy định của pháp luật, điều lệ công ty, hợp đồng lao động kí
với công ty và quyết định của HĐQT; nếu điều hành trái với quy định này mà gây thiệt hại
cho công ty thì GĐ (TGĐ) phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và bồi thường thiệt hại cho
công ty.
d. Ban kiểm soát
Hoạt động của công ty luôn tiểm ẩn nguy cơ xuất hiện những giao dịch bất minh do sự
lạm dụng quyền lực của những nhà quản lý, lãnh đạo công ty. Do đó BKS ra đời để hạn chế
tình trạng này. Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về thành viên, quyền hạn và nhiệm vụ và
một số vấn đề khác về BKS khá cụ thể từ Điều 121 đến Điều 127.
10


Trong CTCP, BKS có chức năng giám sát HĐQT, GĐ (TGĐ) trong việc quản lý điều
hành công ty. BKS chịu trách nhiệm trước ĐHĐCĐ về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn
được giao. So với Luật Doanh nghiệp 1999 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định về BKS đầy
đủ và cụ thể hơn đó là:
Về nhiệm kì: BKS có nhiệm kì không quá 5 năm , các thành viên BKS có thể được bầu
lại với số nhiệm kì không hạn chế (Điều 121).
Về tiêu chuẩn và điều kiện làm thành viên BKS: thành viên BKS phải từ 21 tuổi trở lên,
đủ năng lực hành vi dân sự và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh
nghiệp, không phải vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột
của thành viên HĐQT, GĐ (TGĐ) và người quản lý khác của công ty. Thành viên BKS
không được giữ chức vụ quản lý công ty và không nhất thiết phải là cổ đông hay người lao
động của công ty (Điều 122).

So với Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp 2005 có quy định rõ ràng hơn, cụ thể
hơn về nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người
quản lý khác, những trường hợp này phải thực hiện các nghĩa vụ sau đây:
a) Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao theo đúng quy định của Luật Doanh
nghiệp, pháp luật có liên quan, Điều lệ công ty, quyết định của Đại hội đồng cổ đông;
b) Thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất
nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty và cổ đông của công ty; c) Trung thành
với lợi ích của công ty và cổ đông của công ty; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội
kinh doanh của công ty, lạm dụng địa vị, chức vụ và tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục
vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; d) Thông báo kịp thời, đầy đủ, chính xác cho công ty
về các doanh nghiệp mà họ và người có liên quan của họ làm chủ hoặc có phần vốn góp, cổ
phần chi phối; thông báo này được niêm yết tại trụ sở chính và chi nhánh của công ty.
Ngoài các quy định trên, những người quản lý công ty cổ phần không được tăng lương, trả
thưởng khi công ty không thanh toán đủ các khoản nợ đến hạn và phải thực hiện các nghĩa
vụ khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2005 và điều lệ công ty
III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ TỔ CHỨC, QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN.
1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức quản lý công
ty cổ phần.
Về khía cạnh tổ chức quản lý công ty cổ phần, luật doanh nghiệp 2005 đã xác định nền
tảng cho cơ chế điều hành hoạt động giữa các bộ phận ttrong công ty. So với các luật trước
đó thì luật doanh ngiệp 2005 đã quy định đầy đủ hơn góp phần tạo lập một khung pháp lý,
hình thành cơ cấu quản lý có hiệu quả cho các công ty cổ phần hiện nay. Mặc dù vậy thì
nhìn chung, kiến thức về tổ chức quản lý công ty cổ phần cũng như thực tế triển khai vẫn
còn nhiều điều mới mẻ. Nhiều công ty cổ phần đã và đang gặp phải các vấn đề liên quan
đến quản lý công ty. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy các công ty cổ phần cần nghiên cứu và
tiến tới áp dụng những chuẩn mực về quản lý nội bộ trong hoạt động của mình. Chính vì thế
mà đặt ra vấn đề cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức quản lý
công ty cổ phần.
Thứ nhất: Hoàn thiện các quy định của pháp luật nhằm hạn chế sự thiếu đồng bộ và bất

tế sâu sắc trong nhiều lĩnh vực. Chính quá trình này đã đặt các doanh nghiệp trong nước
trước nhiều thách thức to lớn về sự tồn tại. Đó là sự mở rộng cạnh tranh từ thị trường nội
địa sang thị trường khu vực quốc tế. Đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải thể hiện được khả
năng và sức mạnh của mình. Vậy nên công ty cổ phần ở Việt Nam phải chuẩn bị cac điều
kiện cần thiết cho việc hội nhập, trong đó có hội nhập về quản lý công ty. Việc sửa đổi bổ
sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế nói chung, các quy định về pháp luật doanh
nghiệp nói riêng là cần thiết. Trong quá trình sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản
pháp luật về tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty cổ phần cần quán triệt nguyên tắc
đảm bảo sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật các nước trong khu vực và
trên thế giới, bởi không thể tạo ra các “ốc đảo” riêng biệt cho mình mà phải hội nhập một
cách bình đẳng vào “sân chơi” chung của khu vực và thế giới.
13


2. Những định hướng cơ bản vào việc hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức
quản lý công ty cổ phần.
Thứ nhất: đảm bảo đáp ứng được các đòi hỏi của thị trường.
Đảm bảo cho các yếu tố cơ bản của nền kinh tế thị trường được phát huy tác dụng là một
trong những đòi hỏi cơ bản và có tính nguyên tắc khi xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật kinh tế của nước ta, xây dựng nền pháp trị trong lĩnh vực kinh tế. Xây dựng được các
yêu cầu của nền kinh tế thị trường, thể chế hóa chúng không chỉ trong các nguyên tắc chung
và trong mỗi chế định và quy phạm cụ thể là một yêu cầu quan trọng của hệ thống pháp luật
kinh tế. Không thể có phát triển kinh tế thị trường thực sự nếu không đảm bảo quyền tự do
sử hữu, tự do kinh doanh, quyền bình đẳng và tính tự chủ của các chủ thể kinh tế thị trường.
Thứ hai: đảm bảo sự quản lý vĩ mô của nhà nước đối với toàn bộ hoạt động kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, Nhà nước không can thiệp sâu vào hoạt động của doanh
nghiệp. Với các quy luật cung cầu của nó thì thị trường trở thành công cụ điều tiết chủ yếu
nền kinh tế. Thị trường tác động trực tiếp lên lợi ích cụ thể của doanh nghiệp nhà nước – đại
diện cho lợi ích công cộng can thiệp thông qua các biện pháp mang tính vĩ mô khác nhau và
để có được sự ổn định trong quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thì tất cả các biện pháp

về loại thông tin và quyền xem xét hoặc sao chép thông tin của mọi cá nhân, tổ chức. Vấn
đề đặt ra là thông tin được công khai nhưng đó phải là những thông tin chính xác, phản ánh
đúng thực trạng và năng lực của công ty. Có một số trường hợp thông tin không chính xác
vì nhiều mục đích khác nhau. Cho nên, để thông tin được minh bạch và chính xác, chúng ta
cần bổ sung các quy định về giám sát lập bản báo cáo tài chính… buộc doanh nghiệp cam
kết về tính chính xác và có những chế tài xử phạt nếu vi phạm, quy định cụ thể hơn và trình
tự, yêu cầu về lưu trữ thông tin tại doanh nghiệp.
Thứ hai: cần phải có những quy định hạn chế giám đốc (tổng giám đốc) kiêm nhiệm vị trí
giám đốc (tổng giám đốc) ở một công ty khác. Giám đốc cần phải có thời gian và khả năng
để giải quyết công việc. Việc kiêm nhiệm quá nhiều làm giảm năng suất và hiệu quả làm
việc của giám đốc (tổng giám đốc) và gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của doanh nhân.
Thứ ba: về quy định giám đốc hay tổng giám đốc có thể là người được thuê. Về nguyên
tắc pháp luật lao động sẽ điều chỉnh những quan hệ hợp đồng này. Tuy nhiên bởi vai trò và
tầm ảnh hưởng của giám đốc ( tổng giám đốc) là rất lớn, nếu một quyết định sai có thể sẽ
gây hại đến toàn thể công ty, nên chăng cần đặt ra các quy định cụ thể về giám đốc làm
thuê. Ví dụ như về trách nhiệm của giám đốc làm thuê. Mặt khác, thực tế cho thấy hoạt
động của giám đốc (tổng giám đốc) được thuê còn phụ thuộc vào các cơ quan quản lý khác
của công ty, do đó không đảm bảo được vai trò điều hành thống nhất của giám đốc ( tổng
giám đốc) đặc biệt là trong các công ty cổ phần có vốn nhà nước trên 51%. Do đó quy định
thêm về quyền hạn trách nhiệm của giám đốc ( tổng giám đốc) nhằm nâng cao tính độc lập
của họ trong quản lý điều hành công ty cổ phần, tránh sự phụ thuộc là điều khá cần thiết.
Thứ tư, cần quy định về việc chuyển cổ phần cho người thừa kế và chia tài sản ly hôn.
Quy định cụ thể vấn đề này giúp tránh xung đột pháp luật (bộ luật dân sự 2005 cũng quy
định về vấn đề này) đồng thời tạo điều kiện để giải quyết các vụ việc trên thực tế.
Thứ năm, cần phải có những quy định nhằm hạn chế sự chi phối cổ phần nhà nước trong
các công ty cổ phần mà nhà nước cũng nắm giữu cổ phần. Thực tế cho thấy, nhiều chỉ định
của nhà nước trong việc tổ chức quản lý nội bộ công ty đã làm hạn chế quyền và tính chủ
động của đại hội đồng cổ đông, hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc).
15



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status