BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ ĐẤT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH NGỌC
PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ ĐẤT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Mã số
: 60380107
hạn chế của bàn thân tác giả, Luận văn chắc chắn khó tránh khỏi những khiếm
khuyết cần được xem xét, chỉnh sửa. Em mong nhận được sự phê bình và góp
ý của các Thầy, cô, các nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp để công trình
khoa học này được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ ĐẤT ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP ................................................................................ 8
1.1 Lý luận pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp ..................... 8
1.2 Khái niệm, đặc điểm, phân loại cho thuê đất đối với doanh nghiệp .. 11
1.3. Nguyên tắc cho thuê đất đối với doanh nghiệp .................................. 15
1.4. Khái quát pháp luật cho thuê đất đối với doanh nghiệp tại Việt Nam.. 16
1.4.1 Thời kỳ trước Luật đất đai năm 1993................................................... 16
1.4.2 Thời kỳ từ năm 1993 đến trước Luật đất đai năm 2003 ....................... 16
1.4.3 Thời kỳ từ Luật đất đất đai năm 2003 đến trước Luật đất đai năm 201317
1.4.4 Thời kỳ từ Luật đất đai năm 2013 đến nay ........................................... 17
1.5. Kinh nghiệm cho thuê đất đối với doanh nghiệp ở một số quốc gia
trên thế giới ................................................................................................. 21
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................... 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ ĐẤT ĐỐI
VỚI DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH VĨNH PHÚC ............................................................................ 26
2.1 Quy định pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp................ 26
2.1.1 Quy định về căn cứ cho thuê đất .......................................................... 26
2.1.2 Quy định về điều kiện cho thuê đất ...................................................... 27
2.1.3 Quy định về chủ thể trong quan hệ cho thuê đất .................................. 33
2.1.4 Trình tự, thủ tục cho thuê đất đối với doanh nghiệp ............................ 35
3.2.3 Hoàn thiện pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp phải phù
hợp với đường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và chính sách pháp
luật của Nhà nước ........................................................................................ 71
3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp phải gắn với
hoàn thiện tổng thể pháp luật đất đai và các lĩnh vực pháp luật khác có liên
quan ............................................................................................................. 72
3.2.5 Hoàn thiện pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp phải chú
trọng đến chính sách tài chính, tạo điều kiện để ổn định chi phí đầu vào của
các doanh nghiệp ......................................................................................... 73
3.3 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp ....73
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về cho thuê đất đối
với doanh nghiệp ........................................................................................ 75
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ........................................................................... 77
KẾT LUẬN ................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................
PHỤ LỤC........................................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND
: Hội đồng nhân dân
SDĐ
: Sử dụng đất
nữa khi Luật Đất đai năm 2013 và đồng loạt các luật mới có hiệu lực đi vào
thực tiễn, cũng đã nảy sinh rất nhiều những bất cập do sự lúng túng của các cơ
quan thực thi, trông chờ vào văn bản hướng dẫn thi hành, đồng thời ở góc độ
2
lý luận pháp lý thì chưa có nhiều công trình mới ra đời để đáp ứng vấn đề lý
luận cho pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp theo tinh thần của đổi
mới và hội nhập.
Vĩnh Phúc là một trong những tỉnh có hoạt động cho thuê đất đối với
doanh nghiệp diễn ra khá sôi động do tỉnh Vĩnh Phúc là vùng trọng điểm kinh
tế Bắc Bộ, có vị trí gần Thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa
lớn nhất cả nước. Với sự phát triển nhanh chóng và năng động về kinh tế, môi
trường đầu tư thông thoáng, tỉnh Vĩnh Phúc ngày càng thu hút được sự quan
tâm của các doanh nghiệp trong và ngoài nước trong đó có nhiều dự án đầu tư
đã được thực hiện khá khả quan. Tuy nhiên, trong thực tiễn thi hành pháp luật
về cho thuê đất đối với doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng bộc lộ nhiều hạn
chế. Vì vậy, nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, đưa tỉnh Vĩnh Phúc
phát triển nhanh chóng, góp phần to lớn vào phát triển kinh tế đất nước chúng
ta cần tìm hiểu, đánh giá một cách toàn diện thực tiễn thực thi pháp luật về
cho thuê đất đối với doanh nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc. Đây cũng chính là lý do
học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về cho thuê đất đối với
doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Vĩnh Phúc”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Đến nay, vấn đề cho thuê đất đối với doanh nghiệp đã thu hút được sự
quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau. Có
thể đề cập đến một số công trình, bài báo tiêu biểu như:
Nguyễn Thọ Phú (1997), “Hoàn thiện chế định pháp luật về quyền sử
dụng và quyền cho thuê đất trong Luật đất đai Việt Nam”, luận văn thạc sĩ
Luật đất đai năm 2013 về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng
đất, Tạp chí dân chủ và pháp luật, Số tháng 8/2014, Tr 10-14.
Nói chung, các công trình, bài báo nêu trên đều nghiên cứu về cho
thuê đất đối với doanh nghiệp ở mức độ và phạm vi khác nhau. Có
công trình, bài báo nghiên cứu đi sâu phân tích, bình luận một số khía cạnh
4
pháp lý về cho thuê đất, có công trình, bài báo nghiên cứu việc điều chỉnh
thẩm quyền cho thuê đất. Bên cạnh đó có công trình nghiên cứu vấn đề này
thông qua việc đánh giá thực trạng cho thuê đất...Tuy nhiên, chưa có công
trình nào nghiên cứu vấn đề này từ góc độ thực trạng pháp luật về cho thuê
đất đối với các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung và thực tiễn thi hành pháp
luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp tại tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng từ đó đưa
ra những tồn tại, bất cập trong thi hành pháp luật về vấn đề này và giải pháp
nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về cho thuê đất đối với các doanh nghiệp là một đề tài có nội hàm
nghiên cứu rộng, phức tạp do đối tượng điều tra đa dạng về loại hình bao gồm:
doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh
nghiệp tư nhân, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Nhóm đối tượng này có thể hoạt động ở nhiều lĩnh vực ngành nghề (công
nghiệp, xây dựng, dịch vụ, thương mại, nông nghiệp)và phân bố dưới nhiều hình
thức (tập trung trong các khu, cụm công nghiệp hoặc phi tập trung). Tuỳ vào lĩnh
vực hoạt động, đất đai có thể là mặt bằng sản xuất kinh doanh (đối với doanh
nghiệp công nghiệp, thương mại, dịch vụ), là hàng hoá (đối với doanh nghiệp
kinh doanh bất động sản), là tư liệu sản xuất (đối với doanh nghiệp nông - lâm
nghiệp). Tuy nhiên, trong khuôn khổ có hạn của một bản luận văn Thạc sĩ luật
học, tác giả chỉ tập trung đi sâu tìm hiểu các quy định hiện hành về cho thuê đất
pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp.
Thứ tư, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về
cho thuê đất đối với doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Vĩnh Phúc
nhằm chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đó.
Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao
hiệu quả thi hành pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp từ thực tiễn
thi hành tại tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành thực hiện dựa trên phương pháp luận nghiên cứu
6
khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin,
các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, luận văn còn áp dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu
sau đây:
- Phương pháp phân tích, bình luận, diễn giải được sử dụng khi đánh giá,
bình luận các quy định pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về quan hệ cho
thuê đất giữa Nhà nước và doanh nghiệp để làm cơ sở cho những kết luận khoa
học. Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng khi đánh giá thực trạng pháp luật
về cho thuê đất đối với doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Vĩnh Phúc
nhằm rút ra những kết luận tổng quan, những đề xuất, kiến nghị.
- Phương pháp so sánh luật học được sử dụng khi phân tích, đánh giá các
quy định của pháp luật đất đai về cho thuê đất qua các thời kỳ để thấy được
xu thế vận động của chế định này ở nước ta.
- Phương pháp phân tích logic quy phạm được sử dụng khi đánh giá thực
trạng pháp luật, xem xét về tính thống nhất hoặc phát hiện những mâu thuẫn
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHO THUÊ ĐẤT ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP
1.1 Lý luận pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng; là nguồn tài nguyên hữu hạn của mỗi
quốc gia, là điều kiện cơ bản cho mọi hoạt động của đời sống và sản xuất. Việt
Nam là một nước dựa vào nông nghiệp nên vấn đề đất đai là một vấn đề luôn
được quan tâm hàng đầu, trong quá trình xây dựng, đổi mới đất nước, thực hiện
công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì vấn đề đất đai trở thành một vấn đề bức thiết,
đặt ra các yêu cầu sao cho sử dụng hiệu quả, hợp lý, bền vững, gia tăng được giá
trị của đất đai. Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước là đại
diện chủ sở hữu, điều này đã được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản Luật
đất đai. Đất đai là nguồn tài nguyên của đất nước, để có được giá trị đến thời
điểm hiện tại giá trị của đất đai tồn tại giá trị lao động, cải tạo của các thế hệ đi
trước, do đó đất đai không thể là sở hữu của riêng một cá nhân nào mà phải
thuộc sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, “toàn dân” không thể tự mình thực hiện các
quyền năng của chủ sở hữu đất gồm chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, do đó phải
thông qua thiết chế của Nhà nước để thực hiện các quyền năng của mình. Người
dân thông qua các quy định của pháp luật trao quyền cho Nhà nước thay mặt
mình thực hiện quyền của chủ sở hữu. Mặt khác, Nhà nước là một thiết chế
chính trị được lập ra để thay mặt người dân quản lý các vấn đề khác nhau của
đời sống kinh tế, xã hội trong đó có việc quản lý đất đai, do đó Nhà nước cũng
được trao cho chức năng thống nhất quản lý đất đai.
Pháp luật về cho thuê đất đối với doanh nghiệp là tổng hợp các quy phạm
pháp luật điều chỉnh quan hệ cho thuê đất đối với doanh nghiệp nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khi thuê đất ở Việt Nam. Pháp luật
về cho thuê đất đối với doanh nghiệp cần đảm bảo những yêu cầu sau đây:
9
Nguyễn Quang Tuyến (2014), "Những sửa đổi, bổ sung về sở hữu đất đai trong Luật Đất đai 2013", Tạp chí Luật
học, (Đặc san về Luật Đất đai 2013), tr.78-84.
10
Thứ ba, Luật đất đai 2013 thể hiện rõ nội dung chế độ sở hữu toàn dân về
đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu.
Về bản chất, phân phối và phân phối lại đất đai là tổng hợp các hành vi
pháp lý có liên quan chặt chẽ với nhau của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
trong việc phân chia lại một cách hợp lý quỹ đất đai, nhằm giải quyết hài hoà
lợi ích của Nhà nước, mọi tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Để thực hiện phân
phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước thực hiện giao đất không thu tiền sử
dụng (Luật Đất đai năm 1987) và thực hiện đồng thời giao đất không thu tiền
sử dụng và giao đất, cho thuê đất có thu tiền sử dụng đối với mọi tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân sử dụng đất (từ Luật Đất đai năm 1993 đến nay). Nếu như
Luật Đất đai 1987 mang nặng tính hành chính, mệnh lệnh, chủ yếu chỉ giải
quyết mối quan hệ hành chính về đất đai giữa Nhà nước với người được
giao, cấp đất; đất đai không có giá và Nhà nước tiến hành giao, cấp đất cho
các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân không thu tiền sử dụng; giá đất không
được đề cập đến và Nhà nước quản lý đất đai theo diện tích, loại, hạng đất
thì sự ra đời của Luật Đất đai năm 1993 đã khắc phục được những nhược
điểm này. Luật Đất đai năm 1993 thừa nhận đất có giá và Nhà nước xác định
giá đất để quản lý, từ đó Nhà nước không chỉ quản lý đất đai theo diện tích,
loại, hạng đất mà còn quản lý theo giá trị đất (giao đất, cho thuê đất có thu
tiền sử dụng). Như vậy, bên cạnh hình thức giao đất không thu tiền (đối với
một số trường hợp phục vụ lợi ích công cộng), Nhà nước tiến hành cho thuê
đất có thu tiền sử dụng. Với những điểm mới của Luật Đất đai năm 1993,
việc công nhận quyền sở hữu tài sản là quyền sử dụng đất đã tạo cho quyền
sử dụng đất tách khỏi quyền sở hữu đất đai và trở thành một loại quyền có
thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất.
Căn cứ vào khái niệm Nhà nước cho thuê đất trong Luật Đất đai 2013,
chúng ta có thể thấy hoạt động cho thuê đất nói chung và cho thuê đất đối với
doanh nghiệp nói riêng có một số đặc điểm cơ bản sau đây:
12
Thứ nhất, về giá trị pháp lý của việc cho thuê đất đối với doanh nghiệp:
Hoạt động cho thuê đất đối với doanh nghiệp làm phát sinh QSDĐ thông qua
Hợp đồng cho thuê đất.
So sánh hoạt động Nhà nước cho thuê đất đối với các hình thức Nhà
nước giao đất, Nhà nước công nhận QSDĐ cho thấy mặc dù giữa các hình
thức này có điểm chung: đều là cơ sở pháp lý làm phát sinh QSDĐ của doanh
nghiệp, song hoạt động cho thuê đất vẫn có điểm khác biệt chủ yếu sau đây:
Hoạt động Nhà nước cho thuê đất
Hoạt động Nhà nước giao đất-Hoạt
động Nhà nước công nhận QSDĐ
Hoạt động Nhà nước cho thuê đất
được thực hiện thông qua Hợp đồng
Hoạt động Nhà nước giao đất, công
nhận QSDĐ được thực hiện thông qua
một Quyết định hành chính .
QSDĐ phát sinh phụ thuộc chủ yếu
vào ý chí chủ quan của Nhà nước là
đại diện chủ sở hữu đất đai;
Thứ ba, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở
nước ta nên đối tượng của hoạt động thuê đất đối với doanh nghiệp là đất đaitài sản đặc biệt, không thuộc sở hữu của bên cho thuê là Nhà nước mà thuộc
sở hữu toàn dân. Nhà nước với vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai
được giao thực hiện quyền định đoạt đất đai thông qua việc cho thuê đất; vì
vậy, hoạt động cho thuê đất nói chung và cho thuê đất đối với doanh nghiệp
nói riêng phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về điều kiện, thẩm
quyền, hình thức và trình tự thủ tục cho thuê đất.
Thứ tư, về nghĩa vụ tài chính. Nếu như trong hoạt động Nhà nước giao
đất, có những đối tượng SDĐ phải nộp tiền SDĐ (các trường hợp sử dụng đất
vào mục đích kinh tế, sản xuất..vv..) và có những đối tượng không phải nộp
tiền SDĐ (các trường hợp sử dụng đất vào mục đích công cộng, quốc phòngan ninh..vv..), thì hoạt động cho thuê đất nói chung và cho thuê đất đối với
doanh nghiệp nói riêng , người sử dụng đất là doanh nghiệp luôn phải thực
hiện nghĩa vụ trả tiền thuê đất cho Nhà nước.
Thứ năm, mặc dù pháp luật hiện hành cho phép doanh nghiệp được cho
thuê lại QSDĐ song so với hoạt động Nhà nước cho thuê đất đối với doanh
nghiệp chúng vẫn có những điểm khác biệt sau:
Nhà nước cho thuê đất
Người SDĐ cho thuê lại đất
Về đối tượng: Nhà nước cho doanh
nghiệp
Doanh nghiệp cho người khác thuê lại
QSDĐ
Về tư cách pháp lý: Nhà nước là đại
diện chủ sở hữu thực hiện quyền định
đoạt đất đai thông qua hình thức cho
thuê đất
thể được lựa chọn một trong hai hình thức trả tiền một lần hoặc hàng năm.
Hai hình thức cho thuê đất trả tiền một lần và cho thuê đất trả tiền hàng
năm có một số khác biệt trong đó quan trọng nhất là hình thức trả tiền và
quyền, nghĩa vụ của bên thuê đất. Về hình thức trả tiền, đúng như tên gọi,
nếu được cho thuê đất trả tiền một lần thì doanh nghiệp sử dụng đất phải
trả tiền một lần cho cả thời gian thuê tính theo giá thuê ghi trong hợp đồng.
Thông thường, đối với loại hình này đặt sức ép khá lớn lên doanh nghiệp
sử dụng đất vì khoản tài chính để trả tiền thuê là khá lớn. Ngược lại, thuê
đất trả tiền hằng năm thì doanh nghiệp sử dụng đất sẽ căn cứ theo hợp đồng
thuê đất, hằng năm đến kỳ trả tiền thuê đất thì sẽ nộp vào ngân sách và số
tiền thuê đất được chia đều trong cả khoảng thời gian thuê, giảm áp lực lên
doanh nghiệp sử dụng đất. Tuy nhiên, đối với hình thức thuê đất trả tiền
thuê đất một lần thì doanh nghiệp sử dụng đất có nhiều quyền lợi hơn, do
ngay từ khi bắt đầu họ có nghĩa vụ lớn hơn. Cụ thể, đối với doanh nghiệp
sử dụng đất thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm không được thực hiện các
quyền chuyển nhượng, thế chấp, tặng cho, góp vốn….bằng quyền sử dụng
15
đất mà chỉ được thực hiện đối với tài sản trên đất trong khi doanh nghiệp
sử dụng đất thuê đất trả tiền một lần có thể được thực hiện một số quyền
liên quan đến quyền sử dụng đất trong phạm vi pháp luật cho phép.
1.3. Nguyên tắc cho thuê đất đối với doanh nghiệp
Đất đai là yếu tố không thể thiếu đảm bảo cho hoạt động sản xuất, kinh
doanh của doanh nghiệp, chi phí về đất đai là một yếu tố đầu vào của mọi quá
trình sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế, cơ chế chính sách đất đai
đặc biệt là vấn đề cho thuê đất đối với doanh nghiệp phù hợp sẽ góp phần cải
thiện môi trường đầu tư, môi trường hoạt động cuat doanh nghiệp, chuyển
nguồn tài chính tiềm năng của đất đai thành nguồn tài chính hiện thực cho đầu
việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất
trong cả nước, trong các nội dung quản lý nhà nước về đất đai chỉ có nội dung
"Giao đất, thu hồi đất và trưng dụng đất"; đến Luật Đất đai năm 1987, nội
dung này được quy định là "Giao đất, thu hồi đất". Bởi lẽ, lúc đó Nhà nước
chưa thừa nhận quyền sử dụng đất có giá trị nên Nhà nước chỉ giao đất và khi
Nhà nước cần sử dụng vào mục đích an ninh, quốc phòng hoặc phục vụ cho
lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì Nhà nước thu hồi đất hoặc có thể trưng
dụng đất mà không quy định việc cho người sử dụng thuê đất hoặc cho người
sử dụng chuyển mục đích sử dụng đất. Đồng thời, việc giao đất cũng chỉ thực
hiện dưới hình thức "cấp đất", tức là giao đất nhưng có thể không tương
đương với giá trị của quyền sử dụng đất.
1.4.2 Thời kỳ từ năm 1993 đến trước Luật đất đai năm 2003
Đến Luật Đất đai năm 1993, quyền sử dụng đất được Nhà nước thừa
nhận có giá trị và người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng dưới các
hình thức khác nhau, nội dung về "cho thuê đất" mới được ghi nhận. Luật đất
đai năm 1993 được ban hành đã đưa ra một số quy định mới tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình SDĐ của các doanh nghiệp, đặt nền móng cho sự hình
thành và phát triển thị trường bất động sản chính thống. Nhà nước xác định
giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền SDĐ, thu tiền khi cho thuê đất…
Pháp luật cũng thừa nhận đất có giá trị và xác định giá đất để quản lý, từ đó
Nhà nước không chỉ quản lý đất đai theo diện tích, loại, hạng đất mà còn quản
lý theo giá trị đất.
17
1.4.3 Thời kỳ từ Luật đất đất đai năm 2003 đến trước Luật đất đai
năm 2013
Luật đất đai năm 2003 đã một lần nữa khẳng định đất đai thuộc sở hữu
toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước