BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
LÝ XUÂN THIỆN
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP – PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
QUẬN 10
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
LÝ XUÂN THIỆN
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP – PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP
DỤNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
QUẬN 10
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ
nguồn gốc”
Tác giả khóa luận
(ký và ghi rõ họ tên người cam đoan)
LÝ XUÂN THIỆN
ii
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA ĐƠN VỊ THỰC TẬP
Sinh viên thực tập: LÝ XUÂN THIỆN MSSV: 33131020265
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa:
16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10
Thời gian thực tập: Từ 03/08/2015 đến 18/10/2015
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa:
16
Hệ: VB2CQ
Đơn vị thực tập: Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 10
Đề tài nghiên cứu:
THI HÀNH ÁN DÂN SỰ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP – PHÁP LUẬT VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI CƠ QUAN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ QUẬN
10
Nhận xét chung:
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………
Đánh giá và chấm điểm quá trình thực tập
(1) Có tinh thần thái độ phù hợp, chấp hành kỷ luật tốt (tối đa 3 điểm)..…….
(2) Thực hiện tốt yêu cầu của GVHD, nộp KL đúng hạn (tối đa 7 điểm)……..
Tổng cộng điểm thực tập cộng (1) + (2)……………….
Điểm chữ:…………………………………………………
Kết luận của người hướng dẫn thực tập & viết khóa luận
(Giảng viên hướng dẫn cần ghi rõ việc cho phép hay không cho phép
đưa khóa luận ra khoa chấm điểm)
…………………………………………………………………………..
……………………………………………………………………………
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người hướng dẫn
(2) Hình thức khóa luận (tối đa 1 điểm)………………………………….
(3) Nội dung khóa luận
- Tính phù hợp, thực tiễn và mới của đề tài (tối đa 1 điểm)……..…..
- Phần mở đầu (tối đa 0,5 điểm)…………………………………………
- Phần 1(tối đa 1,5 điểm)………………………………………..………..
- Phần 2 (tối đa 3 điểm)…………………………………………….…….
- Phần 3 (tối đa 1 điểm)……………………………….…………...…….
- Phần kết luận (tối đa 1 điểm)……………………………………..……
Điểm số tổng cộng (1) + (2) + (3)……………………….
Điểm chữ:……………………………………………….
Tp.HCM, ngày …… tháng 10 năm 2015
Người chấm thứ nhất
v
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT
--- ---
PHIẾU ĐIỂM CỦA NGƯỜI CHẤM THỨ NHẤT
Sinh viên thực tập: LÝ XUÂN THIỆN MSSV: 331110…
Lớp: Luật kinh doanh
Khóa:
16
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài............................................................................................................1
2. Mục tiêu nghiên cứu:......................................................................................................2
3. Phương pháp và phạm vi nghiên cứu.............................................................................2
4. Kết cấu đề tài..................................................................................................................3
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BA:
Bản án
CHV:
Chấp hành viên
KDTM:
Kinh doanh thương mại
NĐTHA:
Người được thi hành án
NPTHA:
Người phải thi hành án
công dân, tổ chức và thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế đất
nước. Bên cạnh những mặt tích cực, Luật thi hành án dân sự cũng bộc lộ
những thiếu sót, bất cập như một số quy định chưa cụ thể, chưa phù hợp với
thực tiễn, còn có những quy định chưa thống nhất giữa Luật thi hành án dân
sự với các đạo luật khác, những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn nhưng chưa
được pháp luật thi hành án dân sự điều chỉnh. Ngoài ra, có rất nhiều thủ tục về
THADS có những đặc thù riêng như thi hành án dân sự đối với doanh nghiệp;
kê biên, bán đấu giá tài sản tài sản là cổ phiếu, vốn góp, quyền sở hữu trí tuệ...
nhưng pháp luật thi hành án dân sự hiện hành chỉ quy định chung cho một
loại thủ tục thi hành án. Điều đó đã gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án
dân sự.
Thực tiễn THADS trong cả nước cho thấy, mặc dù các cơ quan thi hành
án dân sự đã tích cực tổ chức thi hành Bản án, Quyết định thuộc thẩm quyền
thi hành, song kết quả THADS chưa đáp ứng được kỳ vọng của xã hội. Số
việc và giá trị phải thi hành còn tồn đọng chiếm tỷ lệ cao. Trong đó, số vụ
việc THADS đối với doanh nghiệp ngày càng tăng và số tiền phải thi hành
1
lớn, nhưng rất khó thi hành. Đây là vấn đề bức xúc đang được xã hội quan
tâm. Tình trạng này đã làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tính
nghiêm minh của pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức
và nhà nước chưa được bảo đảm. Do vậy, việc nghiên cứu để tìm ra nguyên
nhân của những khó khăn, vướng mắc để tìm ra giải pháp nhằm tăng cường
hiệu quả công tác THADS và không ngừng hoàn thiện pháp luật THADS nói
chung và THADS đối với doanh nghiệp nói riêng là việc làm cần thiết và có ý
nghĩa thực tiễn. Trong quá trình thực tập tại đơn vị, tác giả nhận thấy các hồ
sơ thi hành án mà đương sự là doanh nghiệp là các hồ sơ khó thi hành và có
những vấn đề pháp lý cần được nghiên cứu. Tác giả luôn suy nghĩ làm thế nào
để vận dụng các quy định của pháp luật để giải quyết những vấn đề trên. Đó
đoạn từ năm 2013 đến 30/6/2015, là thời điểm Luật THADS đã đi vào thực
tiễn và trước thời điểm Luật THADS sửa đổi, bổ sung 2014 có hiệu lực.
4. Kết cấu đề tài
Phần mở đầu: Lý do chọn đề tài; mục tiêu, phạm vi, kết cấu đề tài.
Chương 1: Cơ sở lý luận - pháp lý về thi hành án dân sự đối với Công ty
cổ phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn
Chương 2: Thực trạng hoạt động thi hành án dân sự đối với Công ty cổ
phần và Công ty trách nhiệm hữu hạn tại Cơ quan Thi hành án Dân sự Quận
10.
Chương 3:Một số nhận xét và đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả thi hành
án dân sự đối với doanh nghiệp.
Phần kết luận:
3
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
ĐỐI VỚI CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN
1.1
Nhận thức chung về hoạt động thi hành án dân sự:
1.1.1 Khái niệm và bản chất của hoạt động thi hành án dân sự:
1.1.1
Khái niệm thi hành án dân sự:
Thi hành án dân sự là hoạt động làm cho các Bản án, Quyết định về
từ khi hoạt động THADS được chuyển giao từ Tòa án nhân dân các
cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ. Về phương diện lý luận đã
và đang có nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề khái
niệm THADS, tựu hình chung thành ba luồng ý kiến chính.
Ý kiến thứ nhất cho rằng THADS là một dạng của hoạt động
hành chính, bởi THADS là hoạt động mang tính điều hành, chấp
hành. Đây là đặc trưng của hoạt động hành chính. Hơn nữa, hiện tại
THADS nước ta không do Tòa án – cơ quan tư pháp thực hiện 2.
Ý kiến thứ hai cho rằng THADS là một dạng của hoạt động hành
chính – tư pháp vì THADS là một dạng hoạt động chấp hành, điều
hành quyết định của cơ quan tư pháp – Tòa án 2.
Ý kiến thứ ba lại cho rằng THADS là một dạng của hoạt động tư
pháp vì thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, mang tính
tài sản, độc lập và do cơ quan tư pháp có thẩm quyền tổ chức thực
hiện 2 .
Mỗi ý kiến trên đều dựa trên những cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý và
thực tiễn nhất định. Tuy nhiên, tác giả chưa đồng ý với quan điểm
cho rằng THADS chỉ là một dạng của hoạt động tư pháp, bởi vì:
- Hoạt động THADS khác với hoạt động điều tra, công tố ở chỗ
hoạt động này không trực tiếp giúp cơ quan xét xử đưa ra các
phán quyết công bằng mà chỉ là thực thi những phán quyết đã có.
- Chưa có thể khẳng định cơ quan THADS và Chấp hành viên
(CHV) là cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng,
nhất là trong hoạt động THADS.
- Cơ quan THADS không phải là cơ quan duy nhất hiện nay có thể
tổ chức thi hành án dân sự mà còn có các Văn phòng Thừa phát
lại (xã hội hóa ngành thi hành án) có thể tổ chức thi hành các
2
Chủ biên Chu Thị Trinh (2011), Giáo trình thi hành án dân sự, Đại học Vinh, tr.6.
nhân và cộng đồng, kỉ cương của nhà nước. Do đó, yêu cầu của hoạt
động thi hành án là phải có tính kế hoạch, tổ chức, đôn đốc, kiểm
tra… Đó là tính chất của hoạt động quản lý. Đối với THADS,
phương pháp giáo dục, thuyết phục là cần thiết nhưng phương pháp
mệnh lệnh, bắt buộc phải thực hiện lại mang tính đặc thù.
1.1.3
3
Thi hành án dân sự với những đặc điểm của hoạt động tư pháp:
Trường Đại học Luật Hà Nội (2011), Giáo trình luật THADS, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.10.
6
Thi hành án chủ yếu do cơ quan tư pháp tiến hành mà cụ thể ở đây
là Cục THADS, Chi cục THADS. Có nhiều cơ quan, tổ chức tham
gia vào quá trình thi hành án, nhất là trong việc tổ chức thi hành án
các BA, QĐ phức tạp. Tuy nhiên, các cơ quan tư pháp lại đóng vai
trò chính trong hoạt động THADS.
Cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án là các quy định của
pháp luật, các BA, QĐ của Tòa án và các quyết định khác theo quy
định của pháp luật.
Trong quá trình tố tụng, giai đoạn thi hành án có thể bắt đầu ngay
khi việc xét xử một vụ án chưa kết thúc như việc thi hành các Quyết
định khẩn cấp tạm thời của Tòa án. Ngay cả khi việc xét xử chấm
dứt thì mối quan hệ giữa cơ quan xét xử và cơ quan THADS vẫn tồn
tại, như việc cơ quan THADS yêu cầu Tòa án giải thích những điểm
chưa rõ hoặc kiến nghị xem xét lại khi phát hiện có sai sót trong
khi các bên đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ theo nội dung BA,
QĐ dân sự mà không cần có sự can thiệp của Nhà nước.
Đối với các trường hợp cần phải có sự tổ chức thi hành của cơ quan
THADS thì có các căn cứ sau làm phát sinh quan hệ hoạt động
THADS:
- Đơn yêu cầu thi hành án là căn cứ pháp lý phát sinh việc thi hành
án. Một BA, QĐ có thể có nhiều NĐTHA và mỗi người lại có
quan điểm riêng và có thời điểm riêng để yêu cầu thi hành án, có
trường hợp NĐTHA không yêu cầu thi hành án thì không nhất
thiết cơ quan THADS phải tổ chức thi hành. Đơn yêu cầu thi
hành án chính là căn cứ ngoài BA, QĐ của Tòa án để Cơ quan
THADS ra quyết định thi hành án.
- Quyết định thi hành án là căn pháp lý phát sinh quan hệ giữa
NĐTHA, NPTHA và người có nghĩa vụ và quyền lợi liên quan,
gọi chung ở đây là đương sự với cơ quan THADS. Mỗi quyết
định thi hành án chính là căn cứ để xác định trách nhiệm pháp lý
của Cơ quan THADS với các đương sự.
Trong các tranh chấp về kinh doanh thương mại thì đương sự chủ yếu
là doanh nghiệp, nghĩa là doanh nghiệp có thể là người được thi hành
8
án, người phải thi hành án hoặc có thể là người có quyền lợi và nghĩa
vụ liên quan. Các quyết định THADS bao gồm các quyết định về hoạt
động THADS như quyết định kê biên xử lý tài sản, quyết định phong
tỏa tài khoản…là căn cứ pháp lý xác định trách nhiệm pháp lý của Cơ
quan THADS, của cá nhân mỗi CHV đối với các đương sự này.
1.2
- Công ty TNHH là loại hình công ty có tư cách pháp nhân, trong
đó chủ sở hữu công ty và công ty là hai thực thể pháp lý riêng.
- Thành viên công ty có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Thành viên
chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.
- Công ty TNHH có quyền sở hữu tài sản riêng, công ty chịu trách
nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác bằng tài sản
của công ty.
1.2.2 Đặc thù của thi hành án dân sự đối với Công ty cổ phần và Công ty
trách nhiệm hữu hạn:
Khác với hoạt động THADS đối với các đối tượng khác, thi hành án
đối với Công ty cổ phần và Công ty TNHH có những đặc thù sau:
1.2.2.1
Tư cách chủ thể của đương sự:
Theo điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 thì những vụ việc như sau
được coi là vụ án kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải
quyết của Tòa án, bao gồm các tranh chấp phát sinh trong hoạt động
kinh doanh thương mại giữa các cá nhân, tổ chức như mua bán hàng
hóa, cung ứng dịch vụ, quyền sở hữu trí tuệ… hoặc tranh chấp giữa
chính công ty với các thành viên của công ty trong việc thành lập,
giải thể, sát nhập, hợp nhất, chuyển đổi hình thức tổ chức của công
ty.
Căn cứ theo quy định trên, có thể thấy chủ thể đương sự trong án
kinh doanh thương mại (KDTM) có thể là doanh nghiệp, nhưng
cũng có thể không phải doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong thực tiễn thì
chủ thể trong những tranh chấp về KDTM được giải quyết tại Tòa
án thì chủ yếu là doanh nghiệp, đồng nghĩa với việc khi thi hành án
góp đủ số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp thì đương nhiên chỉ
chịu trách nhiệm rủi ro của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã
góp. Trong nhiều trường hợp khi xác minh tài sản của doanh nghiệp,
doanh nghiệp không có bất kì tài sản hoặc nguồn thu nhập nào để
đảm bảo việc thi hành án thì bắt buộc CHV phải tiến hành xử lý
phần vốn góp của các thành viên, cổ đông trong doanh nghiệp tương
ứng với tỉ lệ vốn góp.
Công ty cổ phần và Công ty TNHH là pháp nhân có quyền sở hữu
tài sản, tuy nhiên có sự khác biệt cần phân biệt giữa tài sản thuộc sở
hữu doanh nghiệp và tài sản thuộc sở hữu của các thành viên góp
vốn. Trong thực tế, có những thành viên trong công ty đem tài sản
sở hữu riêng của mình ra phục vụ cho hoạt động doanh nghiệp như
trụ sở, nhà đất hoặc thiết bị vận chuyển như xe ô tô...CHV cần phải
11
xác minh cụ thể đó có phải là tài sản góp vốn hay không. Ngoài ra,
hai loại hình doanh nghiệp này còn sở hữu các loại tài sản tương đối
đặc biệt như dây chuyền công nghệ, thương hiệu kinh doanh, nhãn
hiệu hàng hóa...mà CHV cần phải lưu ý các quy định của pháp luật
khi xử lý những loại tài sản đó.
1.2.2.3
Giá trị tài sản phải thi hành lớn:
Các Bản án về KDTM thường có giá trị tài sản thi hành lớn, nhiều
trường hợp giá trị vụ việc thi hành có ý nghĩa quyết định đến sự
sống còn, tồn tại hoặc phá sản của một doanh nghiệp, do đó để lại
hậu quả xã hội rất lớn.
1.2.2.4
- Nơi cấp phép cho doanh nghiệp hoạt động, cụ thể với Công ty cổ
phần và Công ty TNHH ở đây là Sở Kế hoạch và Đầu tư để xác
định ngành nghề hoạt động, người chịu trách nhiệm trước pháp
luật của doanh nghiệp, các thay đổi về đăng ký kinh doanh,
nguồn vốn và số lượng vốn điều lệ của doanh nghiệp.
- Cơ quan thuế mà doanh nghiệp nộp thuế để xác định được doanh
thu của doanh nghiệp, tình hình hoàn thuế giá trị gia tăng, tài
khoản kinh doanh của doanh nghiệp.
- Xác minh tại ngân hàng để xác định khoản tiền có trong ngân
hàng của doanh nghiệp.
- Xác minh tại chính quyền địa phương nơi đặt trụ sở doanh
nghiệp để làm rõ doanh nghiệp còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng
ký hay không.
- Xác minh tài sản doanh nghiệp như trụ sở hoạt động có phải tài
sản doanh nghiệp hay không, tài sản cố định, tài sản lưu động,
hàng hóa…, tại chính trụ sở doanh nghiệp hoặc tại chính cơ quan
có thẩm quyền…
Trước ngày 01/7/2015, nếu doanh nghiệp không có tài sản để thi
hành án thì CHV sẽ thông báo cho NĐTHA biết và tiến hành thủ tục
trả đơn yêu cầu thi hành án. Tuy nhiên, sau khi Luật THADS sửa
đổi, bổ sung 2014 có hiệu lực thì Cơ quan THADS không được trả
đơn yêu cầu thi hành án mà phải đưa vào việc chưa có điều kiện thi
hành án. Khi NPTHA có điều kiện thi hành thì cơ quan THADS
phải tổ chức thi hành.
13
Bước 4: CHV xử lý các tài sản bảo đảm thi hành án được ghi nhận
trong BA hoặc các tài sản tìm được trong quá trình thi hành theo
cung cấp của các đương sự hoặc do CHV xác minh, CHV được
bước phát triển hơn cả về mặt tổ chức và hoạt động, tuy nhiên do Toà
án vừa là cơ quan xét xử, vừa là cơ quan làm nhiệm vụ thi hành án, nên
chưa thực sự đảm bảo khách quan, công bằng trong hoạt động THADS.
Tại kỳ họp thứ nhất ngày 06/12/1992, Quốc hội khoá IX thông qua
Nghị quyết về việc bàn giao công tác thi hành án từ Toà án nhân dân
các cấp sang các cơ quan thuộc Chính phủ. Ngày 02/6/1993, Thủ tướng
Chính phủ ra Chỉ thị số 266/TTg về triển khai việc bàn giao và tăng
cường công tác THADS. Trên thực tế, đến hết tháng 6/1993 thì việc
thành lập các cơ quan thi hành án và bàn giao công tác THADS từ Toà
án nhân dân các cấp sang các cơ quan của Chính phủ đã được thực hiện
xong. Về mặt thể chế, nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành THADS
được ban hành với những quy định chặt chẽ, rõ ràng và phù hợp hơn
với thực tiễn thi hành án, trong đó phải kể đến Pháp lệnh THADS ngày
21/4/1993, Nghị định số 30/CP ngày 02/6/1993 “về tổ chức, nhiệm vụ,
quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ
quan thi hành án dân sự và chấp hành viên”, Nghị định số 69/CP ngày
18/10/1993 “quy định thủ tục thi hành án dân sự”, Thông tư liên ngành
số 981/TTLN ngày 21/9/1993 của Bộ Tư pháp, Toà án nhân dân tối
cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “hướng dẫn thực hiện một số quy
định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự”… là cơ sở pháp lý quan trọng
để giải quyết việc thi hành án dân sự. Đứng trước yêu cầu đổi với và
cải cách tư pháp, Bộ Tư pháp đã đẩy nhanh tiến độ soạn thảo để trình
các cơ quan có thẩm quyền xem xét, ban hành Pháp lệnh Thi hành án
dân sự thay thế Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 1993. Ngày
14/1/2004, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thông qua Pháp lệnh Thi hành
án dân sự, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004.
Pháp lệnh THADS năm 2004 sau gần năm năm thực hiện đã thu được
những kết quả nhất định tuy nhiên cũng bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế,