CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO
1.1. TỔNG QUAN VỀ ĐÓI NGHÈO
1.1.1. Khái niệm về đói nghèo
Tình trạng đói nghèo ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau về cấp độ và số
lượng, thay đổi theo thời gian. Người nghèo của quốc gia này có thể có mức
sống cao hơn mức sống trung bình của quốc gia khác. Bởi vậy, để nhìn nhận và
đánh giá được tình trạng đói nghèo của một quốc gia, một vùng và nhận dạng
được hộ đói nghèo, để từ đó có giải pháp phù hợp để XĐGN, đòi hỏi chúng ta
phải có sự thống nhất về khái niệm và các tiêu chí để đánh giá đói nghèo tại
từng thời điểm.
Ở nước ta trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng ta
khởi xướng và lãnh đạo, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng
kể. Tuy nhiên, bên cạnh sự tăng thu nhập và nâng cao đời sống của số đông dân
chúng, vẫn còn tồn tại một bộ phận dân chúng sống nghèo khổ, đặc biệt là
những hộ nông dân nghèo sống tập trung ở các vùng nông thôn, miền núi, hải
đảo, vùng sâu, vùng xa…Chính vì vậy, trong xã hội sự phân hoá giàu nghèo
đang diễn ra ngày một sâu sắc, khoảng cách giàu, nghèo ngày càng rộng. Đây là
một thách thức lớn đặt ra đòi hỏi phải có những chính sách và giải pháp phù
hợp, đi đôi với phát triển kinh tế - xã hội phải thực hiện thành công chương
trình, mục tiêu quốc gia về XĐGN. Muốn XĐGN bền vững, thì điều đầu tiên là
phải trả lời được câu hỏi: Quan niệm thế nào là nghèo, người nghèo là ai và vì
sao họ nghèo? Để trả lời được các câu hỏi này chính xác, phải hiểu rõ được bản
chất và nội dung của đói nghèo.
Phải khẳng định rằng không có định nghĩa duy nhất về đói, nghèo. Đói
nghèo là tình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh, từ thu nhập hạn chế đến
tính dễ bị tổn thương khi gặp phải những tai ương bất ngờ và ít có khả năng
tham gia vào quá trình ra quyết định chung. Việt Nam thừa nhận định nghĩa
chung về đói nghèo tại Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là
tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoã mãn các nhu cầu cơ
là “ngưỡng đói nghèo”. Các yếu tố đáp ứng nhu cầu căn bản thay đổi theo thời
gian và xã hội. Do đó, ngưỡng đói nghèo khác nhau theo thời gian và địa điểm
và mỗi quốc gia sử dụng các ngưỡng thích hợp với mức độ phát triển, chuẩn
mực và giá trị xã hội của mình. Để tổng hợp và so sánh toàn cầu, Ngân hàng thế
giới sử dụng ngưỡng tham chiếu $1 và $2/ngày trong thuật ngữ “sức mua tương
đương” (PPP) 1993 (PPP đo lường sức mua tương đối của đồng tiền các quốc
gia).
Trong quá trình nghiên cứu đói nghèo và thực hiện chương trình XĐGN
ở Việt Nam, WB đã đưa ra hai mức chuẩn nghèo đối với Việt Nam:
Thứ nhất, là số tiền cần thiết để mua một số lương thực, thực phẩm đáp
ứng nhu cầu dinh dưỡng với lượng 2.100 calo/người/ngày, gọi là chuẩn nghèo
về lương thực, thực phẩm;
Thứ hai, là số tiền cần thiết bao gồm cả chi tiêu cho lương thực, thực
phẩm và chi tiêu cho các nhu cầu cần thiết khác, gọi là chuẩn nghèo chung.
Tại Việt Nam hiện nay đang sử dụng một loạt các chỉ tiêu đánh giá về
nghèo đói và phát triển xã hội: Bộ LĐ- TB&XH (cơ quan thường trực của
Chính phủ trong tổ chức, triển khai, thực hiện XĐGN) dùng phương pháp dựa
trên thu nhập của hộ gia đình tuỳ theo từng thời gian. Các hộ được xếp vào diện
nghèo, nếu thu nhập đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định. Mức
này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi. Tỷ lệ nghèo được xác
định bằng tỷ lệ giữa dân số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo so với tổng dân số
trong cùng một thời điểm.
Năm 1997, chuẩn nghèo đói thuộc phạm vi của chương trình quốc gia
(chuẩn nghèo cũ) để áp dụng cho thời kỳ từ năm 1996 - 2000 như sau:
Hộ đói là hộ có thu nhập dưới 13 kg gạo/người/tháng (tương đương
45.000 đồng cho tất cả các vùng).
Hộ nghèo là hộ có thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức tương ứng như
nhau:
- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo dưới 15 kg gạo/người/tháng (tương
đương 55.000 đồng).
- Đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là những hộ gia đình có mức thu
nhập bình quân đầu người 1 tháng dưới 200.000 đồng.
Theo tiêu chí cũ về hộ nghèo, thì đến năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo của Việt
Nam còn 7%, còn theo tiêu chí mới tỷ lệ hộ nghèo tới 22%.
Phương pháp xác định đói nghèo do Bộ LĐ- TB&XH nêu trên có những
ưu điểm nhất định: Dễ hiểu, dễ tính toán, dễ điều tra.
Việc đưa ra giới hạn đói nghèo của Bộ LĐ- TB&XH là phù hợp với điều
kiện của Việt Nam, tiện lợi cho việc Nhà nước có một bức tranh tổng quát về
đói nghèo, đặc biệt là vùng nông thôn và miền núi để có thể đưa ra các giải pháp
XĐGN trong cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện việc bình xét hộ
nghèo tại một số địa phương (xóm, bản, xã, phường) đã không thực hiện đúng
theo hướng dẫn của Bộ LĐ- TB&XH về các tiêu chí đánh giá hộ nghèo, cho nên
đã dẫn đến tình trạng số hộ nghèo thực tế lớn hơn số hộ nghèo được cấp thẻ (hộ
nghèo trong danh sách) tại từng thời điểm (vấn đề này chúng tôi sẽ đề cập cụ thể
ở phần sau).
Tổng cục Thống kê thì dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người để
tính tỷ lệ nghèo. Tổng cục Thống kê xác định ngưỡng nghèo dựa trên chi phí
cho một giỏ tiêu dùng, bao gồm lương thực và phi lương thực; trong đó, chi tiêu
cho lương thực phải đủ đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho 1 người. Các hộ được
coi là thuộc diện nghèo, nếu mức thu nhập và chi tiêu không đảm bảo giỏ tiêu
dùng này.
Phương pháp đo lường đói nghèo bằng chi tiêu tỏ ra là một phương pháp
tốt. Tuy nhiên, một trong những hạn chế của phương pháp này là nó đòi hỏi rất
nhiều số liệu, chi phí điều tra cao, thời gian dài.
1.1.3. Nguyên nhân đói nghèo
Đói nghèo là hậu quả đan xen của nhiều nguyên nhân nằm trong các
nhóm nguyên nhân. Nhóm nguyên nhân khách quan, do môi trường tự nhiên (vị
trí, khí hậu, đất đai); kinh tế - xã hội (trình độ dân trí thấp, yếu tố tập quán của
từng dân tộc, từng vùng miền, chính sách của Nhà nước) và nhóm nguyên nhân
do bản thân người nghèo; đi vào phân tích các nguyên nhân như sau:
khó khăn chưa có đường dân sinh đến trung tâm xã; 40% số xã chưa đủ phòng
học; 5% số xã chưa có trạm y tế; 55% số xã chưa có nước sạch; 40% số xã chưa
có đường điện đến trung tâm xã; 50% số xã chưa đủ công trình thủy lợi nhỏ;
20% số xã chưa có chợ xã hoặc cụm xã. Bên cạnh đó, do điều kiện thiên nhiên
không thuận lợi, số người dân thuộc diện cứu trợ đột xuất hàng năm khá cao,
khoảng 1- 1,5 triệu người. Hàng năm số hộ tái đói nghèo trong tổng số hộ vừa
thoát khỏi đói nghèo còn lớn” [4, trang 19].
Đói nghèo trong khu vực thành thị: Đa số người nghèo đô thị làm việc
trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định, thu nhập thấp và
bấp bênh. Một số lao động mất việc làm do chuyển đổi cơ cấu kinh tế và chủ sở
hữu trong khu vực Nhà nước, dẫn đến điều kiện sống của họ càng khó khăn,
một số người thất nghiệp. Các hộ nghèo thường có ít đất đai và tình trạng không
có đất đang có xu hướng tăng lên tại một số nơi. Thiếu đất đai ảnh hưởng đến
việc bảo đảm an ninh lương thực của người nghèo, cũng như khả năng đa dạng
hóa sản xuất để hướng tới sản xuất các loại cây trồng với giá trị cao.
- Điều kiện kinh tế - xã hội
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh
khó khăn đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp, ít có cơ hội kiếm được việc
làm tốt, ổn định. Mức thu nhập của họ hầu như chỉ đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng
tối thiểu và do vậy, không có đủ điều kiện nâng cao trình độ của mình trong
tương lai, để thoát khỏi cảnh đói nghèo. Bên cạnh đó, trình độ học vấn thấp ảnh
hưởng đến các quyết định có liên quan đến giáo dục, sinh đẻ, nuôi dưỡng con
cái… Những ảnh hưởng này tác động không những đối với thế hệ hiện tại, mà
cả đối với các thế hệ tương lai. Suy dinh dưỡng ở trẻ em và trẻ sơ sinh là nhân
tố ảnh hưởng đến khả năng đến trường của con em các gia đình nghèo nhất và
sẽ làm cho việc thoát nghèo thông qua giáo dục, trở nên khó khăn hơn. Số liệu
thống kê về trình độ học vấn của người nghèo cho thấy, khoảng 90% người
nghèo chỉ có trình độ phổ thông cơ sở hoặc thấp hơn. Kết quả điều tra mức sống
cho thấy, trong số người nghèo, tỷ lệ số người chưa bao giờ đi học chiếm 12%,
tốt nghiệp tiểu học chiếm 39%; Trung học cơ sở chiếm 37%. Chi phí cho giáo
cũng là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo. Một số vùng đồng bào dân tộc hiện
nay vẫn còn những hủ tục lạc hậu, như người ốm không đưa đến các trạm y tế
để chữa bệnh mà mời thầy cúng đến làm lễ để cúng “con ma” ám vào người
bệnh (họ cho rằng người ốm là do ma ám). Làm lễ cúng như thế, bệnh của
người ốm ngày càng nặng thêm và rất tốn kém về kinh tế, dẫn đến gia đình
nghèo càng nghèo thêm.
- Chính sách nhà nước
Do cơ chế chính sách Nhà nước thiếu hoặc không đồng bộ về chính sách
đầu tư xây dựng, kết cấu hạ tầng cho từng vùng nghèo, chính sách khuyến khích
sản xuất, chính sách tín dụng, chính sách giáo dục đào tạo, y tế, chính sách đất
đai…đã ảnh hưởng đến kết quả XĐGN.
Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định trong thời gian qua là một
trong những nhân tố ảnh hưởng lớn đến mức giảm nghèo. Việt Nam đã có
những thành tích giảm đói nghèo rất đa dạng và trên diện rộng. Tuy nhiên, quá
trình phát triển và mở cửa nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực đến
người nghèo:
Cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, tỷ lệ đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn
còn thấp, chủ yếu mới tập trung cho thuỷ lợi, các trục công nghiệp chính, chú
trọng nhiều vào đầu tư thay thế nhập khẩu, vẫn chưa chú trọng đầu tư các ngành
công nghiệp thu hút nhiều lao động, chưa chú trọng khuyến khích kịp thời phát
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhiều chính sách trợ cấp như lãi suất tín dụng,
trợ giá, trợ cước… không đúng đối tượng, làm ảnh hưởng xấu đến sự hình thành
thị trường nông thôn, thị trường ở những vùng sâu, vùng xa.
Cải cách doanh nghiệp Nhà nước và những khó khăn về tài chính của các
doanh nghiệp nhà nước đã dẫn tới việc mất đi gần 800.000 việc làm trong giai
đoạn đầu tiến hành cải cách doanh nghiệp. Nhiều công nhân bị mất việc đã gặp
rất nhiều khó khăn trong tìm việc làm mới và bị rơi vào nghèo đói. Phần lớn số
người này là phụ nữ, người có trình độ học vấn thấp và người lớn tuổi.
Chính sách cải cách nền kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tự
do hoá thương mại tạo ra được những động lực tốt cho nền kinh tế, khuyến
năng làm ăn, tư liệu sản xuất: Đất sản xuất, công cụ lao động, sức kéo…); trong
đó, thiếu khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng để SXKD là một lực cản lớn
nhất trong việc thoát khỏi đói nghèo. Người nghèo thường không đủ điều kiện
để vay được nhiều vốn, trong khi nguồn vốn tự có khiêm tốn hoặc không có.
Thiếu vốn là một trong những nguyên nhân trì hoãn khả năng đổi mới sản xuất,
áp dụng khoa học công nghệ, giống mới…Mặc dù trong khuôn khổ của dự án
tín dụng cho người nghèo thuộc chương trình XĐGN quốc gia, khả năng tiếp
cận tín dụng đã tăng lên rất nhiều. Song vẫn còn khá nhiều người nghèo, đặc
biệt là người rất nghèo không có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng. Một
mặt, không có tài sản thế chấp, những người nghèo phải dựa vào tín chấp với
các khoản vay nhỏ, hiệu quả thấp đã làm giảm khả năng hoàn vốn. Mặt khác, đa
số người nghèo không có kế hoạch sản xuất cụ thể, hoặc sử dụng các nguồn vốn
vay không đúng mục đích, do vậy họ khó có điều kiện tiếp cận các nguồn vốn
và cuối cùng sẽ làm cho họ càng nghèo hơn. Người nghèo, đồng bào dân tộc ít
người và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt thường có trình độ học vấn thấp,
nên không có khả năng tự giải quyết các vấn đề vướng mắc liên quan đến pháp
luật. Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế thực hiện phức tạp, người nghèo khó
khăn nắm bắt, mạng lưới các dịch vụ pháp lý, số lượng các luật gia, luật sư hạn
chế, phân bố không đều, chủ yếu ở các vùng thành phố, thị xã… Nên người
nghèo khó tiếp cận; hơn nữa phí dịch vụ pháp lý còn cao so với khả năng tài
chính của họ.
Hộ nghèo thường gặp khó khăn và thiếu tự tin trong việc giải quyết các
vấn đề của chính bản thân mình. Về giao tiếp xã hội, người nghèo thường quan
hệ với những người nghèo như mình, hoặc nghèo hơn mình. Không muốn quan
hệ với những người khá giả hơn mình. Từ đó, càng làm hạn chế về khả năng
tiếp cận tư duy mới, cũng như kinh nghiệm làm kinh tế giỏi. Đây là một cản trở
lớn trong công cuộc XĐGN.
Đại đa số hộ nghèo kiến thức và kỹ năng về sản xuất yếu, phương pháp
canh tác cổ truyền đã ăn sâu vào tiềm thức. Sản xuất tự cung, tự cấp là chính,
chưa có khái niệm về sản xuất hàng hoá. Kiến thức về marketting không có; bán
Hộ nghèo do có người không chịu làm việc, hoặc hay uống rượu, hoặc
chơi cờ bạc.
1.1.4. Sự cần thiết phải đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo
1.1.4.1. Đói nghèo là nguyên nhân gây mất ổn định xã hội, phá hoại
môi trường và cản trở nâng cao dân trí
Đa số người nghèo hiện sống tại khu vực nông thôn. Sự chênh lệch ngày
càng tăng giữa nông thôn và thành thị là nguyên nhân chính gây nên các vấn đề
xã hội. Ở nông thôn đất sản xuất có hạn và ngày càng bị thu hẹp; ngành nghề
phụ một số nơi không phát triển và có thu nhập thấp hoặc không có ngành nghề
phụ dẫn đến thời gian nông nhàn nhiều, hậu quả góp phần làm nảy sinh các tệ
nạn xã hội như cờ bạc, trộm cắp, nghiện hút. Các nguồn tài nguyên xuống cấp
và cạn kiệt, đánh bắt cá quá mức và các môi trường tự nhiên biển bị phá hủy;
môi trường tự nhiên ở vùng đất mặn và ven biển bị mất đi; mất đất rừng tự
nhiên ở các vùng núi, cùng với sự phá hoại hệ sinh thái đa dạng; các vùng đất có
vấn đề ngày càng lan rộng do sử dụng đất kém và không đúng cách, ô nhiễm
nước mặn, đất và nguồn nước khu vực nông thôn. Những mất mát đi kèm với
việc các hộ nghèo buộc phải bán đất, di dân tự do ra thành thị và ven đô, nơi họ
sinh sống thiếu hoặc không có những dịch vụ cơ bản, một bộ phận con cái họ dễ
trở thành nạn nhân của tội phạm (trộm cắp, buôn bán hàng cấm, gái mại dâm…)
và sự xuống cấp của môi trường xung quanh tăng ở mức ngoài tầm kiểm soát…
Nhiều hộ cả vợ chồng bỏ ra thành phố làm ăn, một năm về nhà vài lần, ở nhà
các con tự nuôi nhau hoặc ở nhà với ông bà già, các con thiếu sự quản lý, thiếu
tình thương bố mẹ, nhiều trường hợp học hành giảm sút bị bỏ dở, tham gia trộm
cắp…Tại thành phố sự chênh lệch giàu nghèo rõ nét, thiếu việc làm, không có
đất để sản xuất dẫn đến một số người làm ăn phi pháp, tệ nghiện hút ở thanh
niên ngày càng gia tăng…