BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
........../...........
BỘ NỘI VỤ
..../.....
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THU HÕA
ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
ĐẮK LẮK - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
........../...........
BỘ NỘI VỤ
..../.....
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THU HÕA
ĐĂNG KÝ KẾT HÔN CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI TỪ THỰC TIỄN TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành Luận
văn.
Cũng bày tỏ lòng biết ơn tới Lãnh đạo và đồng nghiệp Sở Tƣ pháp tỉnh
Lâm Đồng đã tạo điều kiện và cung cấp các số liệu để phục vụ cho Luận văn
của tôi.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Lê Thị Hƣơng
đã dành nhiều thời gian tâm huyết, chỉ bảo, hƣớng dẫn tận tình và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài và hoàn
chỉnh Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Trung tâm tƣ vấn và hỗ trợ hôn
nhân và gia đình có yếu tố nƣớc ngoài, Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Lâm Đồng,
Phòng Tƣ pháp các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng và bạn bè
đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian vừa qua.
Xin chân thành cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 15 tháng 3 năm 2017
Ngƣời viết
Nguyễn Thị Thu Hòa
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
MỞ ĐẦU……………………………………....................................... 1
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI...........................................................................7
1.1. Quan niệm về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài....................................7
2.2.5. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các đoàn thể, các tổ chức
xã hội đối với đoàn viên, hội viên…………………………………………………79
2.2.6. Cải thiện hoạt động của trung tâm hỗ trợ kết hôn tại Việt
Nam.................................................................................................................80
2.2.7. Tăng cường thanh tra, kiểm tra hoạt động đăng ký kết hôn có yếu
tố nước ngoài...................................................................................................83
2.2.8. Giải pháp riêng đối với tỉnh Lâm Đồng......................................85
KẾT LUẬN...........................................................................................89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………..................90
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mỗi một con ngƣời sống trong xã hội đều có một nhu cầu riêng. Một
trong những nhu cầu không thể thiếu của con ngƣời đó là nhu cầu về giao lƣu
tình cảm. Quyền đƣợc mƣu cầu hạnh phúc, trong đó có hạnh phúc lứa đôi là
quyền tự nhiên của mỗi cá nhân đƣợc pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Trong
bản Tuyên ngôn độc lập ngày 02 tháng 9 năm 1945 khai sinh ra nƣớc Việt
Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã viện dẫn Bản tuyên ngôn độc lập
năm 1776 của nƣớc Mỹ để khẳng định một sự thật hiển nhiên: "Tất cả mọi
người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây không chỉ là quyền tự nhiên mà còn là
quyền gắn liền với nhân thân của mỗi con ngƣời hay nói cách khác đó chính
là quyền con ngƣời. Lịch sử loài ngƣời đã trải qua các chế độ Nhà nƣớc khác
nhau (Cộng sản nguyên thủy; chiếm hữu nô lệ; phong kiến; tƣ bản chủ nghĩa
và xã hội xã hội chủ nghĩa) nhƣng mục đích cốt lõi nhất của hôn nhân là tạo
dựng một gia đình hạnh phúc. Mặc dù, pháp luật của mỗi chế độ nhà nƣớc tuy
có khác nhau nhƣng mục đích cuối cùng mà mỗi nhà nƣớc đều hƣớng tới mục
tiêu hết sức nhân văn đó là ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quyền tự do
nhiên, trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính việc đăng ký kết hôn có
yếu tố nƣớc ngoài tại tỉnh Lâm Đồng còn gặp một số khó khăn, vƣớng mắc.
Vì vậy, đề tài “Đăng ký Kết hôn có yếu tố nước ngoài - từ thực tiễn tỉnh Lâm
Đồng” đƣợc tác giả lựa chọn làm luận văn tốt nghiệp chuyên ngành Luật
Hiến pháp và luật Hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, vấn đề về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài đã đƣợc nhiều nhà
nghiên cứu quan tâm, nhiều sách báo, tạp chí, bài tham luận viết về vấn đề
2
này nhƣ: Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài những vấn đề lý
luận và thực tiễn của tác giả Nông Quốc Bình và Nguyễn Hồng Bắc; Hỏi đáp
pháp luật về hôn nhân gia đình có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam và văn bản
mới hướng dẫn thi hành của tác giả Hoàng Anh...Giải pháp nào để tránh việc
lợi dụng trong đăng ký kết hôn với người nước ngoài hiện nay của Nguyễn
Văn Thắng; Bài học kinh nghiệm từ một số cuộc hôn nhân thất bại của tác giả
các cô dâu Việt lấy chồng Đài Loan và Hàn Quốc của tác giả Vũ Thị Thanh
Nhàn; Đăng ký kết hôn, nhận cha, mẹ, con có yếu tố nƣớc ngoài: Luật thoáng
- Thực tế vƣớng! của tác giả Hoà Trang; Giải pháp để tránh rủi ro khi việc kết
hôn với ngƣời nƣớc ngoài gia tăng của Hoàng Huy Trƣờng; Hoàn thiện pháp
luật về quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài của tác giả Trần Văn Duy; Kết
hôn giả tạo và hƣớng xử lý trong giai đoạn chuyển tiếp giữa luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 với luật hôn nhân và gia đình năm 2014 của tác giả Huỳnh
Thị Trúc Giang; Môi giới hôn nhân trái phép và vấn đề bất cân xứng thông tin
trong hôn nhân xuyên quốc gia Đài Loan và Việt Nam của Dƣơng Hiền Hạnh;
Những điểm mới của pháp luật Việt Nam điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia
đình có yếu tố nƣớc ngoài của tác giả Nguyễn Hồng Bắc; Quản lý vấn đề hôn
nhân xuyên biên giới ở Việt Nam hiện nay: Chính sách và thực tiễn của các
tác giả Nguyễn Hữu Minh, Đặng Thị Hoa và Trần Thị Hồng; Thấy gì qua
cả nƣớc trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ: Để đạt đƣợc mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần phải
giải quyết những nhiệm vụ cụ thể sau:
+ Làm rõ cơ sở lý luận và pháp lý về đăng ký kết hôn có yếu tố nƣớc
ngoài trên cơ sở là một quyền của con ngƣời nhƣ khái niệm, đặc điểm,
nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền... đăng ký kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
4
+ Phân tích thực trạng đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với
ngƣời nƣớc ngoài tại tỉnh Lâm Đồng, nêu lên một số hạn chế, bất cập và
nguyên nhân.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt hơn việc đăng
ký kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài ở Việt Nam hiện nay.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: đăng ký kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
- Phạm vi nghiên cứu: đăng ký kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài tại tỉnh
Lâm Đồng từ năm 2011 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: Lấy lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tƣ tƣởng
Hồ Chí Minh cũng nhƣ quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc Việt
Nam về quyền kết hôn nói chung và kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài nói riêng.
- Phương pháp nghiên cứu: Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp những
tài liệu, phƣơng pháp trích dẫn, phƣơng pháp thống kê…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với tính cách là một trong những công trình khoa học thuộc chuyên
ngành luật Hiến pháp - Hành chính nghiên cứu một cách có hệ thống các vấn
đề về cơ sở lý luận và thực tiễn về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài, kết quả
nghiên cứu của đề tài sẽ mang lại những đóng góp nhƣ sau:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ĐĂNG KÝ KẾT HÔN
CÓ YẾU TỐ NƢỚC NGOÀI
1.1. Quan niệm về kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
1.1.1. Khái niệm kết hôn
Kết hôn là một quyền tự nhiên của con ngƣời đƣợc Nhà nƣớc ghi nhận
bằng các văn bản quy phạm pháp luật và đƣợc Nhà nƣớc bảo vệ. Kết hôn giữa
nam và nữ là cơ sở để tạo dựng gia đình, góp phần duy trì và thúc đẩy xã hội
phát triển.
Mỗi cá nhân đều có quyền tự do kết hôn. Từ khi xã hội loài ngƣời có
nhà nƣớc, để quản lý xã hội thì mỗi nhà nƣớc đều có pháp luật để điều chỉnh
các hành vi của các cá nhân trong xã hội. Các cá nhân khi thực hiện quyền tự
do kết hôn cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật. Mỗi cá nhân trong
khi thực hiện quyền kết hôn của bản thân mình thì phải tôn trọng quyền của
ngƣời khác, không vì thực hiện quyền kết hôn của mình mà ảnh hƣởng tới
quyền của ngƣời khác. Ngƣời thực hiện việc kết hôn không chỉ bảo vệ lợi ích
của bản thân mình mà còn phải tôn trọng lợi ích của ngƣời khác. Vì vậy, bản
thân ngƣời kết hôn khi kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kết
hôn. Trên cơ sở căn cứ vào các quy định của pháp luật, ngƣời kết hôn biết
mình đƣợc phép và không đƣợc phép làm gì khi kết hôn. Ví dụ nhƣ nam, nữ
muốn kết hôn thì trên cơ sở căn cứ vào các văn bản pháp luật, họ biết rằng
mình đã đủ tuổi kết hôn hay chƣa hoặc nếu muốn kết hôn thì ngoài điều kiện
về tuổi kết hôn thì mình còn phải đáp ứng các điều kiện nào khác nữa nhƣ
điều kiện về sự tự nguyện, phải có năng lực hành vi dân sự... Đồng thời, các
cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền cũng căn cứ vào các văn bản pháp
luật để có các quyết định để công nhận, bảo vệ quyền kết hôn của cá nhân.
Ngoài ra, các cơ quan Nhà nƣớc cũng có các biện pháp xử lý các hành vi vi
7
phạm pháp luật về kết hôn của nam, nữ hoặc của các cá nhân khác nếu vi
việc cƣới “trang trọng - lành mạnh - tiết kiệm”.
Vì kết hôn là một sự kiện xã hội nên đƣợc luật tục (dƣới xã hội nguyên
thủy) và luật pháp (đối với các xã hội đã có văn tự và có nhà nƣớc) quy định
rất chặt chẽ. Ai vi phạm sẽ bị xử lí nghiêm khắc. Theo Luật hôn nhân và gia
đình 1986 của Việt Nam, nam từ 20 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên mới đƣợc kết
hôn. Việc kết hôn do nam nữ tự nguyện quyết định, dựa trên cơ sở tình yêu và
phải đƣợc Ủy ban nhân dân (xã, phƣờng, thị trấn) nơi thƣờng trú của một
trong 2 ngƣời kết hôn công nhận và ghi vào sổ kết hôn theo nghi thức do nhà
nƣớc quy định. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nƣớc ngoài
do cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam công nhận. Mọi nghi thức kết
hôn khác đều không có giá trị pháp lí. Việc kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài
đƣợc Nhà nƣớc Việt Nam quy định trong Pháp lệnh “hôn nhân và gia đình
giữa công dân Việt Nam với ngƣời nƣớc ngoài” ban hành ngày 2.12.1993
(gồm 4 chƣơng, 24 điều) [17, tr.476].
Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
thì “Kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy
định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”.
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu: Kết hôn là việc hai người
nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định về điều kiện kết
hôn và đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của hai người
khác giới tính.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm kết hôn có yếu tố nước ngoài
1.1.2.1. Khái niệm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
2014 quy định: “Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan
hệ hôn nhân và gia đình mà ít nhất một bên tham gia là người nước ngoài,
9
người Việt Nam định cư ở nước ngoài; quan hệ hôn nhân và gia đình giữa
Ngƣời nƣớc ngoài đang cƣ trú, sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Họ đăng ký
kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì quan hệ kết hôn của họ là
quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài.
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân
Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Trƣờng hợp này, hai bên nam và nữ đều là công dân Việt Nam nhƣng
việc kết hôn của họ vẫn đƣợc coi là có yếu tố nƣớc ngoài. Dấu hiệu để xác
định yếu tố nƣớc ngoài trong quan hệ kết hôn là nơi cƣ trú. Khoản 3 Điều 3
Luật Quốc tịch quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân
Việt Nam và ngƣời gốc Việt Nam cƣ trú, sinh sống lâu dài ở nƣớc ngoài”.
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau.
Trong trƣờng hợp này, việc kết hôn xảy ra tại nƣớc ngoài, theo pháp luật nƣớc
ngoài làm phát sinh quan hệ vợ chồng giữa hai công dân Việt Nam với nhau.
- Kết hôn giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài
với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.
Với chính sách ngƣời Việt Nam đƣợc mang hai quốc tịch đó là quốc
tịch Việt Nam và quốc tịch nƣớc ngoài, họ có thể kết hôn với công dân Việt
Nam hoặc với ngƣời nƣớc ngoài. Dấu hiệu để xác định yếu tố nƣớc ngoài
trong quan hệ kết hôn là yếu tố quốc tịch.
1.1.2.2. Đặc điểm kết hôn có yếu tố nước ngoài
Kết hôn là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Theo
quy định của pháp luật, việc kết hôn là căn cứ để Nhà nƣớc bảo vệ quyền và
lợi ích của ngƣời kết hôn. Việc nam, nữ chỉ đƣợc coi là đã kết hôn khi đăng
ký tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Sự thừa nhận của nhà nƣớc là một
bảo đảm về pháp lý để bảo vệ quyền lợi của ngƣời kết hôn trên cơ sở quy
định của pháp luật.
11
Theo quy định tại Khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm
nƣớc ngoài sẽ đƣợc pháp luật của nƣớc mà họ mang quốc tịch bảo hộ. Nhƣ
vậy, khi đăng ký kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài mà trong đó một trong các bên
hoặc cả hai bên chủ thể là ngƣời có quốc tịch nƣớc ngoài thì vấn đề áp dụng
pháp luật nƣớc ngoài đƣợc đặt ra.
Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với ngƣời nƣớc
ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nƣớc mình về điều kiện kết hôn;
nếu việc kết hôn đƣợc tiến hành tại cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền của Việt
Nam thì ngƣời nƣớc ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về
điều kiện kết hôn.
Việc kết hôn giữa những ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú ở Việt Nam tại
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật
này về điều kiện kết hôn [30, Điều 126].
- Chủ thể tham gia quan hệ là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác
lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại
nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài
Theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008:
Ngƣời có quốc tịch Việt Nam là công dân Việt Nam.
Hai công dân Việt Nam đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp
luật Việt Nam nhƣng kết hôn với nhau tại nƣớc ngoài. Hành vi kết hôn của
hai bên nam, nữ đã làm phát sinh quan hệ vợ chồng và việc xác định tính hợp
pháp của quan hệ vợ chồng không chỉ dựa trên cơ sở điều kiện kết hôn theo
quy định của pháp luật Việt Nam mà còn dựa trên cơ sở pháp luật của nƣớc
nơi mà nam, nữ tiến hành kết hôn.
1.1.3. Điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài
Điều kiện là cái cần phải có để cho một cái khác có thể có
hoặc có thể xảy ra [36 , tr.434].
13
Điều kiện do pháp luật quy định mà các bên nam, nữ cần phải
Nam thì ngƣời nƣớc ngoài còn phải tuân theo các quy định của Luật này về
điều kiện kết hôn.
Việc kết hôn giữa những ngƣời nƣớc ngoài thƣờng trú ở Việt Nam tại
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của Luật
này về điều kiện kết hôn [30, Điều 126].
Nhƣ vậy, khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nƣớc có
thẩm quyền của Việt Nam thì ngƣời nƣớc ngoài đáp ứng đồng thời điều kiện
kết hôn theo pháp luật của nƣớc mà họ mang quốc tịch hoặc nơi cƣ trú và điều
kiện kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam. Các điều kiện kết hôn
theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam đƣợc áp dụng cho bên
nam hoặc nữ là công dân Việt Nam hoặc khi việc kết hôn có yếu tố nƣớc
ngoài tiến hành tại Việt Nam. Theo đó, hai bên nam nữ muốn kết hôn với
nhau phải đáp ứng các điều kiện sau đây:
1.1.3.1. Điều kiện về tuổi kết hôn
Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 quy định: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên được
phép kết hôn”.
Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” quy định
tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình là trƣờng hợp nam
đã đủ hai mƣơi tuổi, nữ đã đủ mƣời tám tuổi trở lên và đƣợc xác định theo
ngày, tháng, năm sinh.
Trƣờng hợp không xác định đƣợc ngày sinh, tháng sinh thì thực hiện
nhƣ sau:
a) Nếu xác định đƣợc năm sinh nhƣng không xác định đƣợc tháng sinh
thì tháng sinh đƣợc xác định là tháng một của năm sinh;
15
b) Nếu xác định đƣợc năm sinh, tháng sinh nhƣng không xác định đƣợc
với nhau, cùng nhau chung sống suốt đời. Hành vi kết hôn giả tạo, cƣỡng ép
hay lừa dối để kết hôn, cản trở hôn nhân tiến bộ đều bị coi là vi phạm sự tự
nguyện của hai bên nam, nữ khi kết hôn [40, tr.22-23].
Để đảm bảo cho việc kết hôn giữa hai bên nam nữ là trên cơ sở tự
nguyện, pháp luật đã có những quy định và bắt buộc tiến hành khi các đối
tƣợng này có nguyện vọng tiến tới hôn nhân. Ví dụ nhƣ khi đăng ký kết hôn
phải có mặt của cả hai bên nam, nữ và không cho phép bất cứ bên nào vắng
mặt khi nhận Giấy chứng nhận kết hôn. Trƣờng hợp một hoặc hai bên nam,
nữ không thể có mặt để nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì theo đề nghị bằng
văn bản của họ, Phòng Tƣ pháp gia hạn thời gian trao Giấy chứng nhận kết
hôn nhƣng không quá 60 ngày, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp
huyện ký Giấy chứng nhận kết hôn. Hết 60 ngày mà hai bên nam, nữ không
đến nhận Giấy chứng nhận kết hôn thì Phòng Tƣ pháp báo cáo Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp huyện hủy Giấy chứng nhận kết hôn đã ký. Nếu sau đó hai
bên nam, nữ vẫn muốn kết hôn với nhau thì phải tiến hành thủ tục đăng ký kết
hôn từ đầu.
1.1.3.3. Các bên không bị mất năng lực hành vi dân sự
Điểm c Khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
quy định hai bên nam, nữ tại thời điểm đăng kí kết hôn phải không bị mất
năng lực hành vi dân sự. Có nghĩa là những ngƣời bị mất năng lực hành vi
dân sự thì không đủ điều kiện để kết hôn. Trƣờng hợp này cũng áp dụng đối
với các quan hệ kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài [40, tr. 25].
Theo quy định tại Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015 thì “Năng lực
hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình
xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự”.
17
Khi một ngƣời do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà
của họ; ảnh hƣởng trực tiếp tới chất lƣợng của cuộc sống gia đình. Vì vậy,
pháp luật quy định ngƣời mất năng lực hành vi dân sự không đƣợc kết hôn.
Do đó, khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài, một trong
những thành phần hồ sơ phải nộp là Giấy xác nhận của tổ chức y tế có thẩm
quyền của Việt Nam hoặc nƣớc ngoài xác nhận các bên kết hôn không mắc
bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà không có khả năng nhận thức, làm chủ
đƣợc hành vi của mình. Giấy xác nhận này có giá trị trong thời hạn 06 tháng,
kể từ ngày cấp.
1.1.3.4. Các trường hợp cấm kết hôn
Thứ nhất, kết hôn giả tạo.
Khoản 11 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định: “Kết
hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập
quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà
nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia
đình”.
Kết hôn giả tạo đƣợc hiểu là hành vi của hai bên nam, nữ
đồng ý kết hôn với nhau nhƣng không phải xác lập hôn nhân trên cơ sở tình
yêu và nhằm xây dựng tổ ấm gia đình; mà việc kết hôn của hai bên để thực
hiện theo những hợp đồng và thỏa thuận ngầm hoặc trái quy định của pháp
luật. Kết hôn giả tạo có thể đƣợc dàn xếp cho lợi ích cá nhân nhƣ kinh tế, địa
vị xã hội, vấn đề cƣ trú, nhập cảnh,… hoặc với mục đích chính trị. Vì hành vi
kết hôn giả tạo vi phạm sự tự nguyện của hai bên khi xác lập quan hệ vợ
chồng nên pháp luật hôn nhân và gia đình cấm điều này. Hiện nay, việc vi
phạm sự tự nguyện do kết hôn giả tạo là hành vi phổ biến trong đời sống hôn
nhân và gia đình. Đối với kết hôn có yếu tố nƣớc ngoài thì hành vi này trở lên
phổ biến hơn. Nhiều trƣờng hợp kết hôn giả tạo là hành vi trá hình của việc
19