Pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự và thực tiễn thi hành tại tỉnh sơn la - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN TRỌNG HẠNH

PHÁP LUẬT KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ
AN NINH TRẬT TỰ VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI TỈNH SƠN LA

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60 38 01 07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Dung

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: luận văn là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung. Các
số liệu, kết luận được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc và
được trích dẫn rõ ràng. Tác giả hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và
nguyên bản của luận văn./.
Xác nhận của Giáo viên hƣớng dẫn

Tác giả

ANTT

: An ninh trật tự

GPKD

: Giấy phép kinh doanh

PCCC

: Phòng cháy chữa cháy


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
BẢNG CÁC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU ..................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ...................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài .................................................................... 2
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ................................................ 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ................................................. 3
5. Cơ sở khoa học và phương pháp nghiên cứu của đề tài ................................ 3
6. Những đóng góp của luận văn ....................................................................... 4
7. Bố cục của đề tài ............................................................................................ 4
CHƢƠNG 1.......................................................................................................... 6
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN
NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN
VỀ AN NINH TRẬT TỰ .................................................................................... 6
1.1.Một số vấn đề lý luận về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự .............. 6

trật tự ở tỉnh Sơn La ......................................................................................... 53
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC THI PHÁP LUẬT KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN NINH
TRẬT TỰ ........................................................................................................... 57
3.1. Nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
ở Việt Nam........................................................................................................ 57
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về điều kiện ANTT để phù hợp với xu hướng đổi
mới về điều kiện kinh doanh được quy định tại Luật Đầu tư 2014 ................... 57
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam
nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư và doanh nghiệp ............... 58
3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt
Nam nhằm thực hiện cải cách thủ tục đầu tư ................................................... 58
3.2. Những đề xuất cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam. 59
3.2.1. Cần thống nhất văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh có điều kiện
về an ninh trật tự .............................................................................................. 59
3.2.2. Đảm bảo tính hợp pháp và sửa đổi nội dung của một số quy định pháp
luật về điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự................................................. 61


3.2.3. Thiết lập cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước về điều
kiện kinh doanh về an ninh trật tự. ................................................................... 62
3.2.4. Xây dựng cơ chế giám sát và kênh thông tin phản hồi phù hợp để kiểm
soát việc thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh. ....................................... 62
3.2.5. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức chấp
hành pháp luật về các điều kiện an ninh trật tự cho các cơ sở kinh doanh và
người dân ......................................................................................................... 64
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................... 66


văn muốn đi sâu phân tích, đánh giá, đề xuất các định hướng cải cách nhằm từng
bước xây dựng một môi trường kinh doanh lành mạnh, minh bạch cho các doanh
1


nghiệp, góp phần xây dựng hệ thống pháp luật về điều kiện an ninh trật tự đối
với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện ở địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng và
cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Đề tài về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự chưa có nhiều công
trình nghiên cứu, đa phần tập trung nghiên cứu về các điều kiện kinh doanh nói
chung hoặc đi vào phân tích điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự với các hoạt
động kinh doanh cụ thể, có thể kể đến một số công trình sau:
i. Pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, Thực trạng và hướng
hoàn thiện. Luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang (2014),
trường Đại học Luật Hà Nội.
ii. Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam. Luận văn
thạc sĩ Luật học, tác giả Vũ Thị Hiền (2014), trường Đại học Luật Hà Nội.
iii. Pháp luật về kinh doanh dịch vụ bảo vệ ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ
Luật học (2015), trường Đại học luật Hà Nội.
iv. Pháp luật về điều kiện kinh doanh và quy định cụ thể đối với hoạt động
kinh doanh karaoke, Khoá luật tốt nghiệp, tác giả Đỗ Thị Nga (2015), trường
Đại học Luật Hà Nội.
v. Thực trạng giấy phép kinh doanh, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, Văn
phòng Quốc hội, số 04 (2013).
vi. Giấy phép và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam - Thực trạng và con
đường phía trước (2006) Báo cáo của nhóm chuyên gia trong ban nghiên cứu
của Chính phủ do TS. Phạm Duy Nghĩa làm trưởng nhóm.
vii. Pháp luật về ngành nghề kinh doanh có điều kiện và kiến nghị hoàn
thiện. Tác giả: TS. Nguyễn Thị Yến, ThS. Trần Bảo Ánh, Tạp chí Luật học Trường Đại học Luật Hà Nội, số 04 (2013).

4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Tác giả tập trung nghiên cứu và làm rõ các quy
định của pháp luật Việt Nam về các điều kiện an ninh trật tự đối với các ngành
nghề kinh doanh có điều kiện, từ đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị để hoàn
thiện các quy định đó.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Đề tài nghiên cứu hoạt động kinh doanh
có điều kiện về an ninh trật tự nói chung và trên địa bàn tỉnh Sơn La nói riêng
trong những năm vừa qua.
5. Cơ sở khoa học và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên nền tảng lý luận của các nguyên tắc,
phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh;
3


những quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình xây dựng và phát
triển nền kinh tế.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả có kết hợp sử dụng các
phương pháp nghiên cứu chủ yếu như: duy vật biện chứng, duy vật lịch sử;
phương pháp phân tích, đối chiếu, so sánh, tổng hợp, thống kê, khái quát hoá để
giải quyết nội dung khoa học của đề tài. Đặc biệt, tác giả luận văn rất chú trọng
phương pháp so sánh Luật, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để làm nổi bật
những ưu điểm và hạn chế của các quy định đó.
6. Những đóng góp của luận văn
Trên cơ sở kế thừa những thành tựu, kết quả nghiên cứu của các công
trình khoa học liên quan đã được công bố, luận văn tiếp tục nghiên cứu sâu
thêm về hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh các ngành nghề có điều
kiện về an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Sơn La, luận văn dự kiến khi hoàn thành
sẽ có một số đóng góp mới như:
Hệ thống hoá, kế thừa và phát triển các luận cứ khoa học về cơ sở lý luận
của pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự thông qua việc

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN VỀ AN
NINH TRẬT TỰ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN
VỀ AN NINH TRẬT TỰ
1.1.Một số vấn đề lý luận về kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
1.1.1. Khái niệm kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
Điều kiện kinh doanh là một trong những vấn đề pháp lý quan trọng mà
pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định, bởi nội dung
của điều kiện kinh doanh sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh
cũng như sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia đó.
Với các góc độ nghiên cứu khác nhau thì điều kiện kinh doanh được hiểu
theo các nghĩa khác nhau. Cụ thể:
Theo từ điển Tiếng Việt, “điều kiện” có thể được hiểu là cái cần phải có
để cho một cái khác có thể có hoặc có thể xảy ra. Nếu hiểu theo nghĩa khác,
“điều kiện” còn là điều nêu ra như một đòi hỏi trước khi thực hiện một công
việc nào đó1. Như vậy, theo cách hiểu thông thường, điều kiện kinh doanh là
những yêu cầu, đòi hỏi mà chủ thể kinh doanh phải có hay phải thực hiện trước
khi tiến hành các hoạt động kinh doanh nhất định như sản xuất, phân phối, buôn
bán, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận.
Theo OECD, điều kiện kinh doanh nói chung là tập hợp đa dạng các công
cụ mà Chính phủ sử dụng để đặt ra các yêu cầu đối với công dân và doanh
nghiệp2.
Trong khoa học pháp lý, khái niệm về điều kiện kinh doanh tương đối
thống nhất. Theo quan điểm của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa: “Điều kiện kinh
doanh là mọi sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh doanh
của người dân, thường được cụ thể hoá bằng những hành vi của nhânviên hành
chính có quyền chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng ký hoặc tổ chức
những hoạt động kinh doanh cụ thể3”. Trong đó, hành vi hành chính có thể biểu
1

GS. Hoàng Phê và đ.t.g (2003), Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr22)

Thứ nhất, phạm vi và đối tượng áp dụng của điều kiện kinh doanh về an
ninh trật tự
Trong nền kinh tế thị trường, quyền tự do kinh doanh của công dân trong
đó có quyền tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh được ghi nhận và khuyến
khích. Xuất phát từ chức năng quản lý kinh tế - xã hội, Nhà nước chỉ đặt ra các
điều kiện kinh doanh trong một số ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định
nhằm mục tiêu bảo vệ lợi ích công cộng nhất định. Vì thế, điều kiện kinh doanh
chỉ áp dụng trong phạm vi một số ngành nghề nhất định mà không đặt ra với tất
cả các ngành nghề kinh doanh và được quy định trong chính văn bản pháp luật
quy định về ngành nghề kinh doanh có điều kiện (ví dụ ngành nghề: kinh doanh
khắc dấu, công cụ hỗ trợ…)

7


Điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự áp dụng đối với các chủ thể có
đăng ký kinh doanh và hoạt động trong phạm vi ngành nghề kinh doanh có điều
kiện về an ninh trật tự. Các chủ thể kinh doanh bao gồm các cá nhân, tổ chức,
pháp nhân, tổ hợp tác, hộ gia đình có đăng ký kinh doanh, thực hiện hoạt động
kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự
Thứ hai, về hình thức của điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự.
Điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự được thể hiện bằng những hình
thức cụ thể, bao gồm:
i. Giấy phép kinh doanh (GPKD).
ii. Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
iii. Chứng chỉ hành nghề (CCHN).
iv. Chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp.
v. Xác nhận vốn pháp định.
vi. Chấp thuận khác của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
vii. Các yêu cầu khác mà doanh nghiệp phải thực hiện hoặc phải có mới

quản lý nền kinh tế
Ở bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới, trong bất kỳ giai đoạn lịch sử
nào, sự quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế luôn luôn là cần thiết. Nhà
nước cần phải can thiệp vào các hoạt động của thị trường với các hình thức,
mức độ khác nhau nhằm tạo ra một môi trường pháp lý trong đó các quy tắc
ứng xử phù hợp với các nguyên tắc thị trường được thiết lập. Một trong các
công cụ để nhà nước quản lý hữu hiệu nền kinh tế chính là điều kiện kinh
doanh.Vai trò của các điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự được thể hiện ở
các phương diện như sau:
Thứ nhất, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự góp phần giúp Nhà
nước thực hiện việc điều tiết thị trường
Cơ chế kinh tế thị trường đã phát huy quyền tự chủ, sáng tạo trong kinh
doanh của người dân, thúc đẩy sản xuất phát triển. Tuy nhiên, bất kỳ nền kinh tế
thị trường ở nước nào cũng tồn tại những mặt trái, mặt hạn chế. Sự mở rộng các
ngành nghề kinh doanh, trong đó có những ngành nghề ảnh hưởng trực tiếp đến
vấn đề an ninh, trật tự xã hội, môi trường, đạo đức, thuần phong mỹ tục... Đòi
hỏi Nhà nước phải có những biện pháp quản lý phù hợp. Do đó, điều kiện kinh
doanh được đặt ra sẽ có vai trò điều tiết và quản lý số lượng các ngành nghề
này, không để nó phát triển một cách tràn lan.
Không những vậy, trong hoạt động kinh doanh, vấn đề lợi nhuận luôn
được đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, trên thực tế có rất nhiều chủ thể kinh doanh
chạy theo lợi nhuận mà có thể vượt qua những giới hạn về đạo đức kinh doanh,
9


vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích, trật tự công cộng.
Lúc này, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự sẽ góp phần định hướng và
thanh lọc các doanh nghiệp muốn kinh doanh trên thị trường. Để được kinh
doanh những ngành nghề này thì doanh nghiệp phải đáp ứng được các điều kiện
về an ninh trật tự. Đây là những điều kiện rất quan trọng để chủ thể kinh doanh

các doanh nghiệp, lành mạnh hoá hoạt động kinh doanh. Nhờ đó, tạo ra sự ổn
định cho nền kinh tế.
Thứ ba, điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự góp phần quyết định cơ
cấu ngành nghề kinh doanh.
Điều kiện kinh doanh là do nhà nước đặt ra để điều chỉnh những mối
quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh cần sự kiểm soát. Nội dung của
điều kiện kinh doanh vì thế cũng sẽ thay đổi theo từng giai đoạn, phụ thuộc vào
quan điểm, tư duy quản lý của các cơ quan có thẩm quyền. Nếu muốn hạn chế số
lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động trong nền kinh tế, nhà nước chỉ cần tăng
“độ khó” của điều kiện kinh doanh. Ngược lại, nếu muốn thu hút nhiều chủ thể
tham gia vào hoạt động kinh doanh thì phải tạo ra sự thông thoáng trong quy định
của điều kiện kinh doanh. Việc Nhà nước đặt ra những điều kiện kinh doanh
thống nhất, áp dụng cho mọi nhà đầu tư, hay là có những quy định khác biệt đối
với mỗi loại nhà đầu tư, chẳng hạn nhà đầu tư trong nước phải đáp ứng một hệ
thống điều kiện kinh doanh này, trong khi nhà đầu tư nước ngoài lại phải đáp ứng
các điều kiện kinh doanh khác sẽ ảnh hưởng trược tiếp đến môi trường kinh
doanh và môi trường đầu tư trong nước.
1.2. Tổng quan pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự
1.2.1. Sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về kinh
doanh có điều kiện về an ninh trật tự ở Việt Nam
Pháp luật về kinh doanh ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự là
tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành,
điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhằm
thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh ngành nghề có điều
kiện về an ninh trật tự.
Quá trình hình thành và phát triển của điều kiện kinh doanh về an ninh
trật tự có thể chia thành các giai đoạn khác nhau với nội dung, đặc điểm riêng
gắn liền với điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của đất nước.
Thứ nhất, giai đoạn trƣớc năm 1999
11

của doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty. Lúc này, ĐKKD mới trở
thành công cụ cần thiết mà nhà nước quan tâm đến trong việc quản lý doanh
nghiệp. Pháp luật về ĐKKD nói chung và ĐKKD về an ninh trật tự lúc này mới
được xây dựng và hoàn thiện qua nhiều giai đoạn.
12


LDN tư nhân năm 1990 và Luật Công ty năm 1990 đều đề cập đến những
ĐKKD cơ bản. Các văn bản này chủ yếu tập trung quy định về điều kiện để thành
lập doanh nghiệp tư nhân, công ty. Theo đó, nhà đầu tư phải đáp ứng được yêu
cầu về vốn pháp định; yêu cầu về chuyên môn đối với người quản lý hoặc người
được thuê quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty; chủ thể kinh doanh
phải xin giấy phép thành lập ở UBND có thẩm quyền cấp phép theo quy định của
Hội đồng bộ trưởng; đối với một số ngành nghề, chủ thể kinh doanh phải được sự
cho phép của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng, như: Khai thác các loại khoáng sản
quý; sản xuất và cung ứng điện, nước có quy mô lớn; sản xuất các phương tiện
phát sóng truyền tin; dịch vụ bưu chính viễn thông, truyền thanh, truyền hình,
xuất bản; vận tải viễn dương và vận tải hàng không; chuyên kinh doanh xuất
khẩu, nhập khẩu; du lịch quốc tế.
Riêng đối với điều kiện kinh doanh về an ninh trật tự, pháp luật bắt đầu có
những quy định để tạo hành lang pháp lý điều chỉnh riêng đối với nhóm ngành
nghề này. Cụ thể: Nghị định 17- CP ngày 23 tháng 12 năm 1992 của Chính phủ
về việc quản lý các nghề kinh doanh đặc biệt; Thông tư số 03/TT-BNV ngày 27
tháng 3 năm 1993 của Bộ nội vụ hướng dẫn thi hành Nghị định 17-CP; Quyết
định 446/QĐ-BNV(C13) ngày 25 tháng 11 năm 1993 của Bộ trưởng Bộ nội vụ
ban hành thể lệ quản lý về an ninh trật tự đối với các ngành nghề kinh doanh đặc
biệt. Nhìn chung các văn bản này điều chỉnh về điều kiện kinh doanh đối với
những ngành nghề đặc biệt là những nghề mà trong hoạt động kinh doanh có các
điều kiện phương tiện liên quan nhiều đến bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an
toàn xã hội. Thời kỳ này, pháp luật mới chỉ quy định có 06( sáu) ngành nghề

Để khắc phục hạn chế của Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật
doanh nghiệp năm 1999 được ban hànhđã tạo bước ngoặt lớn trong việc cải cách
khung pháp luật về các loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam, trong đó có các quy
định về kinh doanh các ngành nghề có điều kiện về an ninh trật tự. Khoản 2 Điều
17 của Luật doanh nghiệp 1999 quy định: “Doanh nghiệp có quyền hoạt động
kinh doanh kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Đối với
những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thì doanh nghiệp được quyền kinh
doanh các ngành, nghề đó kể từ ngày được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
GPKD hoặc có đủ ĐKKD theo quy định”. Nghị định 03/2000/NĐ - CP hướng dẫn
chi tiết một số điều của LDN năm 1999 đã khẳng định rõ ĐKKD được thể hiện
dưới hai hình thức: GPKD do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp; và các
ĐKKD không cần giấy phép: các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh môi trường, vệ
sinh an toàn thực phẩm; quy định về phòng cháy, chữa cháy, trật tự xã hội, an
toàn giao thông và quy định về các yêu cầu khác đối với hoạt động kinh doanh.
14


Như vậy, với những ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự thì
không cần giấy phép, tuy nhiên vẫn phải đáp ứng các điều kiện và thủ tục quy
định tại Nghị định số 08/2001/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2001 của Chính phủ
quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có
điều kiện; Thông tư số 02/2001/TT-BCA ngày 04 tháng 5 năm 2001 của Bộ công
an hướng dẫn thi thành NĐ 08/2001/NĐ-CP. Theo đó, những ngành nghề kinh
doanh có điều kiện về an ninh trật tự phải được cấp Giấy xác nhận đủ điều kiện về
an ninh trật tự hoặc cam kết thực hiện điều kiện về an ninh trật tự. Như vậy, so
với thời kỳ trước, giai đoạn này pháp luật đã mở rộng về phạm vi các ngành nghề
kinh doanh có điều kiện về ANTT. Cụ thể, Thông tư số 02/2001/TT-BCA đã
nâng số ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT từ 06 ngành lên thành 13
ngành. Theo đó: nhóm những ngành, nghề kinh doanh có Giấy xác nhận đủ điều
kiện về ANTT bao gồm 07 ngành là: nghề khắc dấu; nghề sản xuất, kinh doanh,

mát ở rất nhiều văn bản khác nhau. Chẳng hạn như đối với hoạt động kinh doanh
lữ hành nội địa cần phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh lữ hành nội
địa quy định ở Luật du lịch; đối với hoạt động khai thác và sử dụng nước biển cần
phải có Giấy phép khai thác, sử dụng nước biển quy định tại Luật tài nguyên
nước; đối với việc thành lập và hoạt động ngân hàng thương mại cổ phần cần
Giấy phép quy định tại Luật ngân hàng nhà nước... Chính điều đó dẫn đến thực tế
là có khoảng 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định phân tán
tại 391 văn bản pháp luật, bao gồm 56 luật, 8 Pháp lệnh, 115 Nghị định, 176
Thông tư, 26 Quyết định của các Bộ trưởng và 2 văn bản của Bộ. Các điều kiện
kinh doanh được thể hiện đa dạng dưới nhiều hình thức như giấy phép, giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp
định, giấy đăng ký, chấp thuận... Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy
định dưới hình thức giấy phép hoặc giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh.
Cụ thể: (1) Có 110 ngành nghề yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171
loại giấy phép kinh doanh; (2) Có 83 ngành nghề yêu cầu phải có giấy chứng
nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy chứng nhận; (3) Có 44 loại ngành
nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng chỉ hành nghề; (4) Có 11
ngành nghề yêu cầu vốn pháp định; (5) Có 345 ngành nghề yêu cầu phải có chấp
thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền4. Đây là loại điều kiện kinh doanh
dễ phát sinh tiêu cực trong quá trình xin cấp phép, cấp chứng nhận.
Đối với những ngành nghề kinh doanh có điều kiều về ANTT, nhằm triển
khai các quy định của LDN năm 2005 và khắc phục những hạn chế của các văn
4

http://tcdcpl.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/phap-luat-kinh-te.aspx?ItemID=68

16


bản pháp luật quy định về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật



gồm 267 ngành nghề (có danh mục cụ thể quy định tại phụ lục 2 của Luật).
Theo những quy định mới này, nhiều ngành nghề trước đây bị cấm kinh doanh
thì nay được quy định tại danh mục ngành nghề kinh doanh có điều kiện (ví dụ:
kinh doanh pháo, quân trang, quân dụng…), tức là được kinh doanh khi đáp ứng
được các điều kiện pháp luật quy định. Để tránh nguy cơ tuỳ tiện đặt ra điều
kiện kinh doanh mới cho những ngành nghề kinh doanh, Luật Đầu tư 2014 cũng
quy định rõ thẩm quyền quy định về ngành nghề kinh doanh có điểu kiện tại
Điều 7 - Luật Đầu tư 2014: “Điều kiện đầu tư kinh doanh … được quy định tại
các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân
dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được ban hành quy định về
điều kiện đầu tư kinh doanh”. “Căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu
quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, Chính phủ rà soát các ngành, nghề cấm đầu
tư kinh doanh, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và trình
Quốc hội sửa đổi, bổ sung” (Điều 8 - Luật Đầu tư 2014. Điều kiện đầu tư kinh
doanh được quy định phải bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, tiết kiệm
thời gian, chi phí tuân thủ của nhà đầu tư. Chính phủ quy định chi tiết việc công
bố và kiểm soát điều kiện đầu tư kinh doanh.
Những quy định này đã hiện thực hoá quyền tự do kinh doanh tất cả ngành
nghề mà pháp luật không cấm theo quy định tại Hiến pháp 2013, song cũng
đang đặt ra những nhiệm vụ mới cho việc hoàn thiện pháp luật về kinh doanh
ngành nghề có điều kiện ở Việt Nam hiện nay.
1.2.2. Nội dung tổng quát của pháp luật về kinh doanh có điều kiện về an
ninh trật tự
Với tư cách là một bộ phận của pháp luật về doanh nghiệp, pháp luật về
kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự có nhiệm vụ là phải điều chỉnh một
cách đầy đủ, toàn diện các mối quan hệ phát sinh trong quá trình thành lập, hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp khi doanh nghiệp đó kinh doanh ngành nghề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status