BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
NGUYỄN THANH SANG QUẢN LÝ HỒ SƠ RỦI RO
TRONG THỦ TỤC HẢI QUAN ĐỐI VỚI
HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
THƯƠNG MẠI TẠI CỤC HẢI QUAN
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành : QUẢN TRỊ KINH DOANH
Mã số: 60340102 TP. HỒ CHÍ MINH, tháng 01 năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HCM Cán bộ hướng dẫn khoa học : TS. Nguyễn Hải Quang
Luận văn Thạc sĩ được bảo vệ tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ
TP. HCM ngày 04 tháng 01 năm 2013
Thành phần Hội đồng đánh giá Luận văn Thạc sĩ gồm:
Nội dung: Nghiên cứu, phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về công tác
quản lý hồ sơ rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
thương mại; phân tích thực trạng quản lý hồ sơ rủi ro trong thủ tục hải quan đối với
hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại tại Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng
Tàu; dự báo những thay đổi về môi trường pháp lý, tình hình phát triển kinh tế - xã
hội và đặc điểm rủi ro qua đó kiến nghị giải pháp nâng cao quản lý hồ sơ rủi ro
trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại.
III- Ngày giao nhiệm vụ: 01-06-2012.
IV- Ngày hoàn thành nhiệm vụ: 15/12/2012
V- Cán bộ hướng dẫn: TS. Nguyễn Hải Quang.
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN KHOA QUẢN LÝ CHUYÊN NGÀNH
(Họ tên và chữ ký) (Họ tên và chữ ký)
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Học viên thực hiện Luận văn
(Ký và ghi rõ họ tên)
lý rủi ro.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cám ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,
những người đã luôn đồng hành cùng tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Nguyễn Thanh Sang
iii
TÓM TẮT
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý
hồ sơ rủi ro thông qua việc phân tích những vấn đề chung về quản lý rủi ro, rủi ro
trong lĩnh vực quản lý nhà nước về hải quan, hồ sơ rủi ro để từ đó hệ thống và hình
thành lý luận về quản lý hồ sơ rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu thương mại. Luận văn cũng nghiên cứu đặc điểm và các quy định
về quản lý hồ sơ rủi ro của hải quan Việt Nam để làm căn cứ thực tiễn cho đề tài.
Luận văn đã phân tích thực trạng quản lý hồ sơ rủi ro của Cục Hải quan
tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để thấy được quy trình, các nguồn lực và năng lực chính.
Từ đó rút ra những điểm mạnh cần phát huy, điểm yếu cần cải thiện trong hoạt động
quản lý hồ sơ rủi ro của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Luận văn cũng tiến
hành phân tích và dự báo các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động quản lý hồ
sơ rủi ro của Cục Hải quan tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu để rút ra những cơ hội cần tận
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Tóm tắt iii
Abstract iv
Mục lục v
Danh mục các từ viết tắt viii
Danh mục các bảng ix
Danh mục các hình x
Lời mở đầu 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỒ SƠ RỦI RO TRONG THỦ TỤC HẢI
QUAN HÀNG HÓA XK-NKTM 5
1.1. Rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK-NKTM 5
1.1.1. Khái niệm về rủi ro 5
1.1.2. Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan 7
1.1.3. Phân loại rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan 13
1.2. Quản lý HSRR trong thủ tục hải quan hàng hóa XK-NKTM 18
1.2.1. Khái niệm và vai trò của quản lý HSRR trong quy trình QLRR 18
1.2.2. Quá trình phát triển lý luận về quản lý HSRR của Hải quan Việt Nam . 19
1.3. Xây dựng HSRR trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK-NKTM 20
1.3.1. Nguyên tắc xây dựng 21
1.3.2. Cơ sở pháp lý của việc xây dựng hồ sở QLRR 22
1.3.3. Xây dựng danh mục rủi ro 23
1.3.4. Tổ chức công tác quản lý HSRR theo Danh mục rủi ro 24
1.4. Tóm tắt chương I 33
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỒ SƠ RỦI RO TRONG THỦ TỤC HẢI
QUAN HÀNG HÓA XK-NKTM TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH BR–VT 35
3.3. Nội dung các giải pháp nâng cao hoạt động quản lý HSRR hàng hóa XK-
NKTM 76
3.3.1. Hoàn thiện lý luận nghiệp vụ về công tác quản lý HSRR 76
3.3.2. Tăng cường công tác thu thập, xử lý thông tin nghiệp vụ hải quan 77
vii
3.3.3.Hoàn thiện tổ chức bộ máy và cơ chế hoạt động nhằm nâng cao quản lý
HSRR trong các hoạt động nghiệp vụ hải quan 78
3.3.4. Tăng cường năng lực đánh giá sự tuân thủ của doanh nghiệp 79
3.3.5.Tăng cường sự phối hợp từ các đơn vị trong và ngoài ngành và hợp tác
quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả quản lý HSRR 81
3.3.6. Tăng cường hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra hoạt động quản lý
HSRR 83
3.3.7. Đảm bảo đáp ứng các điều kiện cơ sở hạ tầng, vật chất, tài chính, phục
vụ công tác quản lý HSRR của ngành Hải quan 84
3.3.8. Nâng cao nhận thức, trình độ về công tác quản lý HSRR 85
3.4. Kiến nghị với CHQ tỉnh BR-VT và TCHQ 86
3.5. Tóm tắt chương III 86
Kết luận 88
Tài liệu tham khảo 89
viii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Xác định mức độ rủi ro theo tần suất và hậu quả 27
Bảng 2.1: Tình hình vi phạm thủ tục hải quan 2008-2012 49
Bảng 2.2: Tình hình cập nhật tiêu chí QLRR 53
Bảng 2.3: Số liệu rủi ro qua các năm 54
Bảng 2.4: Tình hình phân luồng dựa theo QLRR 55
Bảng 3.1: Ma trận SWOT 75
phát hiện các trường hợp gian lận và vi phạm pháp luật hải quan.
Trước yêu cầu hội nhập quốc tế và việc triển khai thực hiện Luật Hải quan,
cơ quan hải quan phải tăng cường hơn nữa năng lực kiểm tra, kiểm soát thông qua
việc xây dựng, phát triển phương pháp quản lý hải quan hiện đại – phương pháp
quản lý dựa trên kỹ thuật quản lý rủi ro (QLRR). Do đó, Ngành Hải quan cần
tổ chức tốt công tác quản lý hồ sơ rủi ro (HSRR) làm nền tảng cho hoạt động nghiệp
vụ hải quan nói chung, cho QLRR trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất
khẩu, nhập khẩu thương mại (XK-NKTM) nói riêng.
Hiện nay, Cục Hải quan (CHQ) tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (BR-VT) đã và đang
áp dụng quản lý HSRR trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK-NKTM.
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa như mong muốn như:
- Không đủ nhân lực để triển khai các chương trình, kế hoạch công tác quản
lý HSRR, cả về số lượng và chất lượng.
- Chưa thực hiện tốt một số nhiệm vụ quan trọng như thu thập thông tin,
cập nhật thông tin doanh nghiệp, theo dõi đánh giá sự tuân thủ của doanh nghiệp.
- Công tác thu thập thông tin về doanh nghiệp, phân tích rủi ro, áp dụng các
tiêu chí đánh giá mức độ rủi ro tại các Chi cục Hải quan (CCHQ) chưa được
quan tâm đúng mức.
- Chưa phát hiện được nhiều vi phạm đối với các trường hợp được xác định
có rủi ro cao.
2
Do vậy, nâng cao quản lý HSRR trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa
XK-NKTM là yêu cầu cấp thiết, có tính thời sự, phù hợp với thực tiễn tại CHQ
tỉnh BR-VT.
2. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích những vấn đề lý luận về rủi ro và
- Về không gian: CHQ tỉnh BR-VT.
- Về thời gian: Từ năm 2008 tới tháng 6 năm 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng
để luận cứ cho các nội dung nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dung phương pháp nghiên cứu
định tính làm chủ đạo và kết hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
thông qua phân tích đánh giá khảo sát thực tiễn.
Dữ liệu phân tích bao gồm dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Nguồn dữ liệu
thứ cấp được thu thập các tài liệu, báo cáo khoa học về công tác xây dựng và
quản lý HSRR nói chung và tại CHQ Tỉnh BR-VT nói riêng. Nguồn dữ liệu sơ cấp
được thu thập từ việc quan sát, hội thảo, lấy ý kiến chuyên gia.
Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích thông qua các phương pháp như
thống kê, mô tả; phân tích lịch sử, so sánh, hệ thống, tổng hợp…
5. Những đóng góp của luận văn
Luận văn có giá trị ứng dụng trong thực tiễn áp dụng quản lý HSRR trong
thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK-NKTM tại CHQ tỉnh BR-VT và có thể
áp dụng cho cả ngành Hải quan; góp phần quan trọng trong việc nâng cao
chất lượng đánh giá và kiểm soát rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa
XK-NKTM.
Với ý nghĩa lý luận và thực tiễn như nêu trên, đề tài có thể được dùng làm
tài liệu tham khảo khi học tập, nghiên cứu về hoạt động nghiệp vụ hải quan.
4
Công chức thực thi có thể tham khảo kết quả nghiên cứu của luận văn để vận dụng
vào thực tiễn hoạt động kiểm tra, kiểm soát hải quan.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HỒ SƠ RỦI RO TRONG THỦ TỤC
HẢI QUAN HÀNG HÓA XK-NKTM
1.1. Rủi ro trong thủ tục hải quan đối với hàng hóa XK-NKTM
1.1.1. Khái niệm về rủi ro
Rủi ro là một hiện tượng khá phổ biến, có thể xảy ra trong mọi lĩnh vực nên
tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu và đặc trưng riêng của từng ngành mà các nhà
khoa học đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro. Cho đến nay, vẫn chưa có
một định nghĩa thống nhất về rủi ro; tuy nhiên, tựu trung lại ta có thể chia các
định nghĩa khác nhau về rủi ro thành hai nhóm chủ yếu, phản ánh hai quan điểm,
hai góc độ tiếp cận khác nhau đó là quan điểm truyền thống và quan điểm hiện đại.
1.1.1.1. Quan điểm truyền thống
Theo quan điểm truyền thống có nhiều khái niệm về rủi ro. Dưới đây là một
vài khái niệm.
“Rủi ro là điều không lành, không tốt, bất ngờ xảy đến” (Từ điển Tiếng Việt
1995)
“Rủi ro là sự không may” (GS.Nguyên Lân, Từ điển Từ và ngữ Việt Nam
1998)
“Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại” (Từ điển
Oxford – English for Advanced Learners)
“Rủi ro là sự không chắc chắn có liên quan đến một tổn thất, mất mát có thể
xảy ra” (Risk ís the uncertainly concerning o possible los, Dorfman 2002)
Khi nghiên cứu rủi ro trong kinh doanh tác giả Đoàn Thị Hồng Vân cho rằng
rủi ro trong kinh doanh là sự tổn thất về tài sản các nguồn lực, sự sụt giảm về
lợi nhuận hay những yếu tố xảy ra ngoài ý muốn tác động xấu đến hoạt động
sản xuất kinh doanh và quá trình tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.
6
7
nội hàm của rủi ro giúp cho việc làm rõ nguồn gốc, nguyên nhân, điều kiện và
đối tượng làm nảy sinh rủi ro.
Rủi ro chính là sự kết hợp giữa mức độ nguy hiểm và tần xuất xảy ra hoặc có
thể xảy ra.
Rủi ro = [Mức độ nguy hiểm] x [Tần xuất có thể xảy ra]
Ngoại diện của rủi ro là các hiện tượng, dấu hiệu biểu hiện bên ngoài của
rủi ro. Mỗi rủi ro bao giờ cũng được biểu hiện ra bên ngoài bằng các đặc điểm,
đặc trưng thông qua các hiện tượng, dấu vết … Việc nghiên cứu ngoại diện rủi ro
giúp cho việc nhận biết rủi ro và phân biệt giữa các rủi ro.
Nghiên cứu về rủi ro, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những thuộc tính của
rủi ro như sau:
Thứ nhất, rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn không mang tính chắc chắn. Đó có thể là
một sự việc, một hành động hoặc một hiện tượng… có thể xảy ra và gây ra những
thiệt hại tuỳ thuộc vào các yếu tố làm nảy sinh, tác động đến nó.
Thứ hai, rủi ro được cấu thành bởi hai yếu tố: tần suất xuất hiện rủi ro và
hậu quả của nó. Việc đánh giá rủi ro được xem xét dựa trên mức độ của hai yếu tố
này để xác định mức độ nghiêm trọng của rủi ro; hay nói cách khác con người có
thể đo lường được rủi ro thông qua kết quả phân tích về tần suất và hậu quả của nó.
Thứ ba, rủi ro có tính chất động, luôn thay đổi theo môi trường và các yếu tố
tác động liên quan. Để QLRR, chúng ta phải thường xuyên theo dõi, cập nhật thông
tin đầy đủ về rủi ro.
Mục tiêu của cơ quan Hải quan là chỉ tập trung nguồn lực để kiểm tra các
lô hàng được xác định là có khả năng xảy ra vi phạm pháp luật. Do đó khái niệm
“Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ở những kết quả” (theo William &Michael Smith,
1995, Risk Management and Insurance) được dùng cho nghiên cứu này.
1.1.2. Đặc điểm của rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan
vi phạm pháp luật hải quan. Nguy cơ tiềm ẩn vi phạm được xem xét dựa trên hai
yếu tố chủ yếu là tần suất và hậu quả của vi phạm pháp luật hải quan có thể xảy ra.
Như vậy cần có sự phân biệt giữa khái niệm rủi ro và vi phạm pháp luật hải quan:
- Vi phạm pháp luật hải quan là những hành vi phạm cụ thể đã được
phát hiện và xác lập bằng biên bản vi phạm về hành chính hoặc bị khởi tố về các
tội danh có liên quan lĩnh vực quản lý hải quan. Cơ quan Hải quan tiến hành
9
điều tra, xác minh để làm rõ hành vi, chủ thể, động cơ vi phạm cũng như khách thể
bị xâm hại để làm căn cứ cho việc xử lý đối với vi phạm đó.
- Khác với vi phạm pháp luật hải quan, rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn xảy ra
vi phạm. Do vậy yêu cầu đặt ra là làm thế nào để nhận biết và đánh giá được những
tiềm ẩn đó. Để đạt được điều này, cơ quan Hải quan tiến hành thu thập thông tin để
làm rõ về dấu hiệu, mức độ và hậu quả của nguy cơ vi phạm để chủ động tìm cách
đối phó, ngăn chặn hoặc giảm thiểu tác hại của chúng.
Việc nghiên cứu các đặc điểm nêu trên của rủi ro có ý nghĩa về phương pháp
luận, chỉ ra cách thức xác định rủi ro thông qua quá trình rà soát, phân tích, đánh giá
các vi phạm pháp luật hải quan.
Thứ hai, rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn nên có tính chất dự báo về nguy cơ
vi phạm. Nguy cơ vi phạm có thể là những yếu tố có thực ẩn chứa trong các
đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh nhất định hoặc chưa có thực nhưng tại một thời
điểm trong tương lai, do sự thay đổi của môi trường hoạt động hải quan, sẽ hình
thành các đối tượng, điều kiện, hoàn cảnh làm nảy sinh rủi ro. Loại rủi ro này
thường liên quan đến những thay đổi về chính sách quản lý đối với hàng hoá XK,
NK, phương tiện xuất, NC, những thay đổi trong tổ chức bộ máy, quy trình thủ tục
hải quan… Trong giai đoạn chuẩn bị cho việc thay đổi thì hầu hết những rủi ro này
đều có tính dự báo.
Thứ ba, rủi ro là nguy cơ tiềm ẩn vi phạm. Bên cạnh những vi phạm được
Trong quá trình thực hiện quản lý HSRR, cơ quan Hải quan tiến hành nghiên
cứu các yếu tố khách quan và chủ quan giúp cho việc xác định các đối tượng rủi ro
cũng như dấu hiệu để nhận biết rủi ro.
Thứ năm, nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh, tồn tại rủi ro trong
hoạt động nghiệp vụ hải quan.
Hầu hết các vi phạm pháp luật hải quan đều từ hành vi của con người gây ra.
Các hành vi này được bắt nguồn từ những động cơ, mục đích không phù hợp với
chuẩn mực xã hội. Do nhu cầu thoả mãn các lợi ích vật chất hoặc tinh thần ở mỗi
con người đã hình thành nên hệ thống động cơ, hành vi để sẵn sàng thoả mãn
nhu cầu, lợi ích đó khi có điều kiện thuận lợi. Chính những động cơ này là
nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật hải quan, hay nói cách khác là
nguồn gốc rủi ro.
11
Động cơ vi phạm pháp luật hải quan không phải tự nhiên sinh ra mà nó được
hình thành qua một quá trình, dưới sự tác động của môi trường, nhân cách của
đối tượng có thể sẽ bị biến dạng. Những hoàn cảnh, điều kiện môi trường hoạt động
hải quan chính là tác nhân thúc đẩy hành vi vi phạm. Tuy vậy, điều đó chỉ xảy ra
khi có những yếu tố tạo thuận lợi (điều kiện) thúc đẩy hành vi vi phạm pháp luật
hải quan xảy ra.
Phân tích trên cho thấy rằng, nguyên nhân làm nảy sinh, tồn tại rủi ro trong
hoạt động hải quan là những đặc điểm tâm lý xã hội hình thành nên động cơ
thúc đẩy người tham gia hoạt động hải quan thực hiện hành vi vi phạm. Điều kiện là
những yếu tố tham gia vào môi trường hoạt động hải quan làm hình thành nhu cầu
lợi ích và tạo thuận lợi cho hành vi vi phạm được thực hiện. Những yếu tố dưới đây
là nguyên nhân, điều kiện chủ yếu làm nảy sinh, tồn tại rủi ro trong hoạt động
nghiệp vụ hải quan:
Một là, lợi ích thương mại là yếu tố phổ biến và dễ nhận thấy trong các