Nghiên cứu biến động đƣờng bờ biển phục vụ
quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Bùi Quang Dũng
Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn ThS chuyên ngành: Sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trƣờng
Mã số: 60 85 15
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS Vũ Văn Phái
Năm bảo vệ: 2012 Abstract: Nghiên cứu biến động bờ biển ở trong nƣớc và trên thế giới. Xác định rõ các
nhân tố tự nhiên và xã hội ảnh hƣởng đến biến động bờ biển vùng nghiên cứu. Nghiên
cứu hiện trạng biến động bờ biển các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong khoảng thời gian từ
1965 đến nay. Xác định đƣợc nguyên nhân trực tiếp gây ra và các nhân tố ảnh hƣởng đến
biến động bờ biển vùng nghiên cứu. Đề xuất một số các giải pháp thích hợp nhằm hạn
chế, giảm thiểu tai biến biến động bờ biển khu vực nghiên cứu.
Keywords: Bảo vệ tài nguyên môi trƣờng; Đƣờng bờ biển; Tai biến xói lở; Vũng Tàu Content
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bà Rịa-Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, thuộc vùng Đô thị Thành Phố Hồ Chí Minh. Đây chính là cửa ngõ của các
tỉnh miền Đông Nam Bộ hƣớng ra Biển Đông và cũng là một trong ba cực tam giác tăng trƣởng
kinh tế Nam Bộ với thế mạnh khai thác dầu khí, du lịch, đánh bắt hải sản và giao thông vận tải
đƣờng biển vởi cảng nƣớc sâu Cái Mép ở cửa sông Thị Vải. Với đƣờng bờ biển dài, nhiều bãi
gồm 12km bờ đá và 70km bờ cát chạy dài từ bờ biển xã Bình Châu huyện Xuyên Mộc đến bờ
biển khu vực Núi Lớn thành phố Vũng Tàu.
Nội dung của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, sẽ đƣợc trình
bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về nghiên cứu biến động đƣờng bờ
Chƣơng 2: Nhân tố ảnh hƣởng đến biến động đƣờng bờ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chƣơng 3: Đánh giá khả năng biến động dựa vào chỉ số tổn thƣơng bờ biển phục vụ
quản lý tai biến xói lở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ
1.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Đường bờ biển. Theo quan niệm chung, đƣờng bờ biển là ranh giới tiếp xúc giữa biển và
đất liền.
Đường bờ trong (coastline) là ranh giới tác động cao nhất của sóng trong năm (thƣờng là
sóng bão) với đất liền;
Đường bờ ngoài (shoreline) là ranh giới tác động của sóng vào lúc thủy triều cao trung
bình.
Tính dễ bị tổn thương của bờ biển (coastal vulnerability). Tính dễ bị tổn thƣơng, nói
chung, là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khi đánh giá tai biến hoặc rủi ro. Khi có tai biến hoặc rủi
ro xảy ra, thì một hay nhiều hợp phần nào đó của tự nhiên hay xã hội sẽ có những phản ứng lại
đối với chúng.
1.2. CƠ Sở LÝ LUậN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
1.2.1. Cơ sở lý luận: cách tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống là phƣơng pháp luận sử dụng để giải quyết những vấn đề thực tế trên
cơ sở xem xét xử lý đầy đủ các đặc điểm hệ thống của đối tƣợng. Các công cụ chủ yếu của tiếp
cận hệ thống là vận trù học, lý thuyết điều khiển và lý thuyết hệ thống. Khi áp dụng phƣơng pháp
luận hệ thống vào thực tiễn cần chú ý các vấn đề: Tính nhất thể; Tính hướng đích của hệ thống;
Tính trồi; Cấu trúc, hành vi, phân cấp
1.2.2. Các phƣơng pháp nghiên cứu
1.2.2.1. Thiết lập các đƣờng bờ trong lịch sử
3) Phương pháp phân tích hình thái - thạch học
Cơ sở của phƣơng pháp này đƣợc dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữa đặc điểm hình thái
với các tính chất của vật liệu (đất đá gắn kết hay bở rời, kích thƣớc hạt, v.v.) tạo nên chúng. Chẳng
hạn, độ dốc của bãi phụ thuộc rất nhiều vào kích thƣớc hạt. Hạt càng thô, độ dốc của bãi càng lớn
và ngƣợc lại
1.3. TÌNH HÌNH NGHIÊN CứU
1.3.1. Nghiên cứu biến động bờ biển trên thế giới
Biến động bờ biển tự nhiên bao gồm xói lở bãi cũng nhƣ vùng đất ven biển và tích tụ
trầm tích để tạo ra một vùng đất mới là một hiện tƣợng tự nhiên trong quá trình tiến hóa vùng bờ
biển. Nó xảy ra sau những thay đổi về mực nƣớc biển tƣơng đối, khí hậu và các nhân tố khác
trên những quy mô thời gian-không gian khác nhau từ các sự kiện theo thời gian địa chất đến các
hiện tƣợng cực đoan trong khoảng thời gian ngắn. Nó cũng có thể đƣợc làm tăng lên bởi các hoạt
động của con ngƣời hoặc là ngay tại bờ, hoặc trên các lƣu vực sông, đặc biệt trên các lƣu vực
sông lớn vốn có nguồn cung cấp một lƣợng trầm tích to lớn cho bờ biển, nhƣ sông Hoàng Hà,
Trƣờng Giang, Ấn-Hằng, sông Mê Kông và sông Hồng ở Việt Nam.
1.3.2. Nghiên cứu biến động bờ biển ở Việt Nam
Cũng nhƣ trên quy mô toàn cầu, bờ biển Việt Nam bị biến đổi theo những quy luật của tự
nhiên: xói lở và bồi tụ. Đây là hai mặt của một quá trình tiến hóa bờ biển Việt Nam đã đƣợc ghi
nhận trong các văn liệu từ lâu. Tuy nhiên, việc nghiên cứu quá trình này chỉ mới đƣợc bắt đầu
trong khoảng thời gian gần đây.
1.3.3. Nghiên cứu biến động bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Bờ biển Bà Rịa – Vũng Tàu trong những năm gần đây đang bị xói lở nghiêm trọng đặc
biệt trong các đoạn bờ nhƣ Bình Châu, Hồ Tràm, Lộc An, Cửa Lấp. Tuy chƣa có thiệt hại về
ngƣời, nhƣng xói lở bờ biển đã làm mất đất, làm sập đổ các công trình, đe dọa đƣờng giao thông,
v.v. gây ảnh hƣởng đến tâm lý của ngƣời dân. CHƢƠNG 2
NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Bà Rịa - Vũng Tàu là một tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Nam Bộ, tiếp giáp tỉnh Đồng
3
): Phân bố dọc theo dải đồng bằng ven biển nằm ở độ cao 2-4m
thuộc các xã Phƣớc Long Hội, Lộc An, Phƣớc Thuận và thành phố Vũng Tàu. Thành phần trầm
tích gồm: cát thạch anh màu trắng hạt trung đến nhỏ, cát bột sét màu xám. Bề dày 2 - 6m.
4. Trầm tích biển (mQ
2
3)
: Phân bố hầu khắp chiều dài bờ biển vùng nghiên cứu, có
chiều rộng trung bình 500m từ lục địa ra đến vùng biển ven bờ. Thành phần trầm tích gồm: cát
thạch anhm ilmenit, bột, sét, xác sinh vật
2.2. CÁC NHÂN TỐ NGOẠI SINH
2.2.1. Địa hình ban đầu
2.2.1.1. Địa hình lục địa ven biển:
Do nằm ở vị trí tiếp xúc giữa khối cao nguyên Đà Lạt nâng mạnh ở phía Bắc và vùng đáy
biển sụt lún trong giai đoạn Kainozoi (trũng Cửu Long) đồng thời chịu sự chi phối mạnh của hệ
thống sông rạch chằng chịt (sông Dinh, sông Ray, sông Thị Vải, ), nên địa hình lục địa ven biển
khu vực Hồ Tràm - Vũng Tàu chia làm hai dạng điển hình. Dạng 1 là các khối núi thấp ven biển
với độ cao dƣới 300 mét bị phân cắt bóc mòn mạnh. Dạng 2 là đồng bằng lục địa ven biển: bao
gồm các đồng bằng nhỏ trƣớc núi, giữa núi và các đồng bằng tam giác châu thổ.
2.2.1.2. Địa hình đường bờ:
Đƣờng bờ biển Hồ Tràm - Vũng Tàu đƣợc chia làm 2 phần rõ rệt: từ mũi Hồ Tràm đến
mũi Vũng Tàu đƣờng bờ có hƣớng kéo dài theo phƣơng Đông, Đông Bắc - Tây Nam với hệ số
thẳng của đƣờng bờ đạt khoảng 0,68, bị phân cắt bởi các mũi nhô, đƣợc cấu tạo bởi đá magma
phức hệ Đèo Cả (ở mũi Vũng Tàu) và phun trào hệ tầng Nha Trang ở mũi Kỳ Vân (Long Hải).
Các đoạn bờ tƣơng đối thẳng đƣợc cấu tạo bởi cả trầm tích biển, sông - biển tuổi Holocen lẫn
Pleistocen. Phần còn lại từ mũi Vũng Tàu đến mũi Gành Rái là phần địa hình với đƣờng bờ rất
phức tạp, bị phân cắt mạnh bởi hàng loạt các cửa sông và rạch nhƣ sông Dinh, sông Ray, sông
Thị Vải phần ngoài đƣợc khống chế bởi bán đảo Vũng Tàu tạo nên vũng vịnh. Đây là nơi cƣ
trú rất tốt cho thuyền bè mỗi khi có gió, bão hay biển động.
2.2.2. Khí hậu
2.2.5.1. Thay đổi mực nước biển: quá khứ, hiện tại và tương lai
Các kết quả nghiên cứu địa chất và địa mạo bờ biển đều chỉ ra rằng, mực nƣớc biển dâng
lên, hạ xuống tƣơng đối đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử hình thành và tiến hóa lớp vỏ trên cùng
của bề mặt Trái đất. Các lần mực nƣớc dâng lên (biển tiến) và hạ xuống (biển lùi) trong kỷ Đệ tứ
có mối quan hệ rất mật thiết với những lần tan băng và đóng băng trên các lục địa. Các nhà khoa
học trên thế giới đều cho rằng, trong kỷ Đệ tứ có 4 lần băng hà gây ra biển lùi chính là: Gun,
Midel, Riss và Vuộc và 4 lần gian băng gây ra biển tiến xen kẽ bốn thời kỳ băng hà nêu trên.
Trên thế giới. Từ cuối thế kỷ XX đến nay, hiện tƣợng mực nƣớc biển dâng lên liên quan
tới biến đổi khí hậu toàn cầu là vấn đề nóng bỏng đƣợc nhiều quốc gia, các tổ chức quốc tế và
nhiều nhà khoa học thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm, trƣớc hết là Tổ chức Liên Chính phủ về Biến
đổi Khí hậu (IPCC). Các kết quả quan trắc mực nƣớc tại nhiều nơi trên thế giới cho thấy, trong
thế kỷ XX, mực nƣớc biển dâng trên toàn cầu đạt tốc độ từ 0,8 đến 3,3 mm/năm và giá trị trung
bình là 1,8 mm/năm, còn theo số liệu đo mực nƣớc biển từ vệ tinh, thì trong giai đoạn 1993-
2010, mực nƣớc biển dâng lên với tốc độ 2,9-3,4 ± 0,4-0,6 mm/năm.
Ở Việt Nam. Trong khoảng vài chục năm trở lại đây, việc nghiên cứu thay đổi mực nƣớc
biển đã đƣợng nhiều nhà khoa học quan tâm. Trên cơ sở số liệu đo mực nƣớc biển trong khoảng
thời gian 37 năm (1957-1994) tại 4 trạm Hải văn dọc bờ biển Việt Nam là Hòn Dấu, Đà Nẵng,
Quy Nhơn và Vũng Tàu, tác giả Nguyễn Ngọc Thụy đã tính đƣợc mực nƣớc dâng lên tại các
trạm tƣơng ứng là 2,15; 1,198; 0,957 và 3,203 mm/năm.
2.2.5.2 Những tác động của thay đổi mực nƣớc biển
Ở quy mô chung nhất, thay đổi mực nƣớc biển gây ra sự dịch chuyển vị trí đƣờng bờ biển
theo chiều nằm ngang hàng chục, thậm chí hàng trăm km, kèm theo đó là hàng chục đến hàng
trăm mét theo chiều thẳng đứng. Khi mực biển hạ xuống, thì diện tích lục địa đƣợc mở rộng.
Đƣờng bờ biển liên tục dịch chuyển ra phía biển vừa do mực nƣớc rút đi, vừa do quá trình tích tụ
chiếm ƣu thế. Ngƣợc lại, khi mực nƣớc biển dâng, dù do bất cứ nguyên nhân nào, cũng gây ra sự
thu hẹp diện tích đất liền và có những tác động mạnh mẽ đến các điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã
hội, hay nói rộng hơn là toàn bộ môi trƣờng bờ biển.
2.2.6. Hoạt động nhân sinh
Con ngươ
̀
Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 UTM năm 1965
Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 vùng nghiên cứu
Bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000 VN2000 năm 2004
Bản đồ độ sâu đáy biển ven bờ (0-30m nƣớc) Việt Nam tỷ lệ 1:200.000 tờ C-48-
XVII. C-48-XVIII, C-49-XIII năm 2001
Bản đồ địa mạo tỷ lệ 1:50.000 vùng nghiên cứu.
Ảnh landsat 1990 chup 12/05/1990
Ảnh quickbird 2010 chụp 04/05/2010
Thực địa 2/2012 tại đƣờng bờ biển tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu
3.1. PHÂN LOạI Bờ BIểN TỉNH BÀ RịA – VŨNG TÀU
1. Bờ đá
Có thể dễ dàng nhận ra hình thái đƣờng bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có các mũi đá
nhô ra biển xen lẫn với các đoạn bờ lõm vào. Bờ đá phát triển tại khu vực Núi Lớn, Núi Nhỏ tạo
ra hình thái điển hình của thành phố Vũng Tàu, các mũi Cơm Thiều, Kỳ Vân, Hồ Tràm, Ba
Kiềm. Phần bờ này là những đoạn vách dốc đứng hoặc những đoạn bờ đá thấp thoải dần ra phía
biển, vật liệu tích tụ dƣới chân thƣờng chỉ là một lớp mỏng hoặc không có, đáy biển phía ngoài
có độ dốc lớn, năng lƣợng sóng tác động rất mạnh, tuy nhiên với đặc điểm thạch học đƣợc cấu
tạo chủ yếu bởi các đá xâm nhập thuộc phức hệ Đèo Cả và đá phun trào thuộc hệ tầng Nha
Trang độ bền vững cao. Biến động đƣờng bờ chủ yếu là hoạt động mài mòn không đáng kể.
2. Bờ cát cao
Xen giữa các đoạn bờ đá là các dải bờ cát cao, loại bờ này chiếm chiều dài lớn nhất trong
vùng nghiên cứu. Đây là các bờ đƣợc cấu tạo bởi cát thuộc các thềm biển có tuổi từ Holocen
giữa đến Pleistocen muộn với độ cao từ 4-6 mét đến 20-50 mét. Tuy đó, phần lớn bờ cát cao đều
đƣợc phát triển trên thềm biển có độ cao 4-6 mét, có tuổi Holocen giữa. Hiện nay, hầu nhƣ toàn
bộ bờ biển loại này đang bị xói lở rất mạnh mẽ. Phần đất liền của các đoạn bờ này khá bằng
phẳng và đƣợc cấu tạo chủ yếu bởi cát, phần lớn là đất trống, quá trình xói mòn và rửa trôi bề
mặt xảy ra tƣơng đối mạnh. Về 3) Bờ cát thấp
Bờ cát thấp cũng đƣợc cấu tạo bởi cát, nhƣng có độ cao thấp hơn (chỉ từ 1,5-2,0m). Loại
bờ này chiếm tỷ lệ không nhiều trong khu vực nghiên cứu, phân bố tại cửa Bình Châu, cửa Lộc
An, cửa Lấp. Thực chất, các đọan bờ này, trƣớc đây cũng có các dải cát cao, nhƣng do xói lở,
km, cắt vuông góc với bờ, từ bờ vào lục địa là 5km và từ bờ hƣớng ra phía biển là 5km.
Bảng 3.2. Bản phân loại và tính điểm trọng số cho độ dốc
Độ dốc (%)
<0,1
0,1-0,2
0,2-0,3
0,3 – 0,45
>0,45
Điểm trọng số
5
4
3
2
1
c) Tham số mực nước biển dâng (mm/năm). Tốc độ dâng lên trung bình của mực nƣớc
biển đƣợc xác định theo Kịch bản biến đổi khí hậu và mực nƣớc biển dâng cho Việt Nam của Bộ
Tài nguyên và Môi trƣờng năm 2011. Tại vùng nghiên cứu giá trị này đƣợc xác định là
3mm/năm và đƣợc cho 3 điểm trọng số.
d) Tốc độ biến đổi đường bờ biển giai đoạn 1990 - 2010(m/năm). Trong khu vực nghiên
cứu, xói lở chiếm ƣu thế rõ rệt, chi một đoạn bờ nhỏ tại khu vực Cửa Lấp bồi tụ. Xói lở thấp nhất
tại khu vực Núi lớn, 0,44m/năm, cao nhất tại cửa Lộc An, 12,7m/năm và phía Nam mũi Hồ
Tràm, 11,7m/năm, tốc độ xói lở trung bình toàn dải bờ biển vùng nghiên cứu đạt 4m/năm. Trên
cơ sở này giá trị đƣợc cho điểm trọng số nhƣ trong bảng 3.3.
Bảng 3.3 Phân loại và tính điểm trọng số cho tốc độ xói lở - bồi tụ
Tốc độ xói lở - bồi tụ
(m/năm)
Bồi tụ
Xói 0 - 3
Xói 3 - 5
Xói 5 - 7
Trên bản đồ khả năng tổn thƣơng bờ biển từ Bà Rịa – Vũng Tàu cho thấy một cách bao
quát những khu vực có khả năng tổn thƣơng thấp, trung bình, cao và rất cao.
Những đoạn bờ có khả năng tổn thƣơng thấp chỉ xuất hiện tại đoạn bờ đá: Núi Lớn, Núi
nhỏ, mũi Cơm Thiều, mũi Kỳ Vân, mũi Hồ Tràm, mũi Ba Kiềm và một đoạn nhở bờ biển phía
Tây thị trấn Long Hải huyện Long Điền. Đây là những đoạn bờ đƣợc cấu tạo bởi đá magma xâm
nhập thuộc phức hệ Đèo Cả và một số ít đá phun trào hệ tầng Nha Trang, có cấu tạo thạch học
rắn chắc, độ dốc trung bình cao, giá trị tính toán CVI nằm trong khoảng 3-5,7.
Những đoạn bờ có mức độ tổn thƣơng trung bình là những đoạn bờ đƣợc cấu tạo bở các
bờ cát cao 4- 6m, những đoạn bờ này phân bố gần những đoạn bờ có khả năng tổn thƣơng thấp,
có thể nhận thấy các đoạn bờ này tuy cấu tạo thạch học không rắn chắc bằng, nhƣng độ dốc vẫn
tƣơng đối lớn, giá trị CVI dao động từ 5,7 đến 9. Tuy nhiên tại những đoạn bờ này tình trạng xói
lở bờ biển hiện vẫn tiếp diễn và chƣa có dấu hiệu dừng lại.
Những đoạn bờ biển có khả năng tổn thƣơng cao là những khu vực mà bờ biển cấu tạo
bởi bờ cát trầm tích bở rời, đây là những đoạn bờ rất nhạy cảm với biến đổi khí hậu, mực nƣớc
biển dâng cao giúp sóng dễ dàng phá vỡ các liên kết và mang vật liệu đi ra xa ngoài khơi. Giá trị
CVI của các đoạn bờ này này trong khhoảng 9-12,7. .
Những đoạn bờ biển có khả năng tổn thƣơng rất cao là những đoạn bờ có giá trị CVI nằm
trong khoảng từ 12,7 đến 23,7. Trên bản đồ khả năn tổn thƣơng bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
có thể quan sát thấy bờ biển này phân bố chủ yếu tại các bờ cát thấp, độ dốc thấp, trầm tích
không gắn kết làm khu vực này biến động bờ biển rất mạnh mẽ. Tại thành phố Vũng Tàu có tới 3
đoạn bờ có khả năng tổn thƣơng rất cao: đoạn bờ phía Bắc phƣờng 2, các đoạn bờ phía nam Cửa
Lấp đây là những đoạn bờ biển có những khu du lịch biển rất lớn, thuộc thành phố Vũng Tàu nơi
dân cƣ tập trung đông đúc.
3.4. NGUYÊN NHÂN XÓI LỞ - BỒI TỤ BỜ BIỂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
3.4.1. Nguyên nhân trực tiếp
Cả lý thuyết và thực tiễn nghiên cứu địa mạo bờ biển đều thừa nhận rằng, sóng và các
loại dòng chảy do nó sinh ra là nhân tố động lực giữ vai trò chủ đạo và trực tiếp trong quá trình
hình thành và làm thay đổi địa hình bờ biển. Do đó, nguyên nhân trực tiếp làm biến động địa
hình bờ biển ở đây trong khoảng thời gian qua, đặc biệt từ năm 1990 đến này chính là sự gia tăng
năng lƣợng sóng tác động tới địa hình bờ biển. Có nhiều minh chứng để khẳng định cho nhận
hoạch đã đặt ra. Trong quá trình quản lý, nếu thấy cần thiết, thì có thể đề xuất điều chỉnh mục
tiêu quy hoạch cho phù hợp.
3.5.2. Các giải pháp phi công trình bào vệ bờ
1) Trong số các giải pháp phi công trình, thì quy hoạch phát triển bờ biển đƣợc xem là
quan trọng nhất nhằm giảm thiểu tai biến xảy ra và các rủi ro đi kèm. Địa hình và các quá trình
địa mạo là nguồn tài nguyên quan trọng làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng lãnh thổ một cách hợp
lý, trong đó chú ý tới: quá trình, địa hình và vật chất cấu tạo nên địa hình (cát-sỏi hay bùn sét,
hay còn đƣợc gọi là nguyên liệu thô)
2) Giải pháp phi công trình thứ hai là trồng rừng phòng hộ bao gồm cả ngập mặn và rừng
chắn cát (phi lao và các loại cây chịu hạn khác). Rừng phòng hộ có tác dụng rất lớn để giữ lại vật
liệu trầm tích và làm giảm năng lƣợng tác động của các yếu tố động lực sóng và gió.
Cho đến nay, cả trồng rừng ngập mặn và trồng rừng chắn cát còn rất hạn chế ở bờ biển
của các tỉnh trong vùng nghiên cứu.
3) Giải pháp phi công trình thứ ba là nuôi bãi. Theo các chuyên gia về lĩnh vực bảo vệ bờ
biển, thì giải pháp nuôi bãi mang lại hiệu quả khá tốt. Nuôi bãi nghĩa là bổ sung thêm nguồn vật
liệu trầm tích cho bãi nhằm tạo ra cán cân trầm tích dƣơng cho bãi. Lƣợng vật liệu bổ sung này
cũng phải có những tính chất chung giống nhƣ vật liệu đang hiện có trên bãi. Nguồn vật liệu bổ
sung có thể đƣợc hút lên từ đáy biển hoặc mang đến từ trong đất liền.
3.5.3.Phƣơng án công trình
Hiện nay bờ biển tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu đã có một số các giải pháp công trình, các
phƣơng pháp này hiện đang có hiệu quả khá tích cực:
Công nghệ Stabiplage bảo vệ bờ biển Lộc An. Đây là một giải pháp công nghệ sử dung
vải địa kỹ thuật may thành bao rồi đổ đầy cát vào trong, sau đó đặt vuông góc (theo kiểu kè mỏ)
hoặc song song với bờ (dƣới dạng kè chắn sóng-nếu đặt trong đới sóng vỡ ; hoặc dƣới dạng kè
lát mái-nếu đặt ngay tại đƣờng bờ biển). Công trình này đƣợc hoàn thành vào năm 2005. Chiều
dài đƣợc bảo vệ bằng công nghệ Stabiplage là 500 mét. Trên đoạn bờ này, theo nhiều nguồn tin,
hiện tƣợng bồi tụ đã xảy ra. Tuy nhiên, các đoạn bờ bên cạnh vẫn bị xói lở khá mạnh thông tin từ
nghiên cứu tại vị trí có công trình, bờ biển không bị xói lở. Nhƣng cách đó không xa, theo hƣớng
của dòng chảy ven bờ, hoạt động xói lở diễn ra khá mạnh (hình 3.14).
Tường biển tại Phước Tỉnh (2004) và Phước Hải (2010). Đây là các công trình cứng
Tiếng Việt
1. Bộ tài nguyên và môi trƣờng (2011), “Kịch bản nƣớc biển dâng cho Việt Nam đến năm 2100”
2. Nguyễn Mạnh Hùng, Phạm Văn Ninh (2005), Hiện trạng nghiên cứu xói lở bờ biển huyện Hải
Hậu. Trong “Tài nguyên và Môi trƣờng biển”, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trg. 200-211
3. Nguyễn Kỳ Phùng (chủ trì), 2010. Nghiên cứu quá trình tƣơng tác biển-lục địa và ảnh hƣởng của
chúng đến các hệ sinh thái ven bờ Đông và bờ Tây Nam Bộ. Báo cáo tổng kết đề tài cấp Nhà
nƣớc, Mã số: KC.09-12/06-10, TP HCM, 311 trg. (Lƣu trữ tại Bộ Khoa học và Công nghệ)
4. Vũ Văn Phái (chủ trì), 2012. Nghiên cứu biến động bờ biển trong mối quan hệ với mực nƣớc
biển dâng phục vụ quy hoạch và quản lý môi trƣờng đới bờ biển các tỉnh cực Nam Trung Bộ -
Đông Nam Bộ. Báo cáo tổng kết Đề tài cấp Đại học Quốc gia, Mã số: QGTĐ-10-08, Hà Nội,
180tr
5. Vũ Văn Phái (2009), Xói lở bờ biển Việt Nam và biến đổi khí hậu toàn cầu, Môi trường và phát
triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu, tr233-240.
6. Trần Đức Thạnh, Đinh Văn Huy (2001), “Tổng quan về tai biến sa bồi và xói lở bờ biển Việt
Nam”, Tạp chí Hoạt động khoa học, 2, tr 6-9.
7. Tập bản đồ hành chính 64 tỉnh, thành phố Việt Nam (2005), Nhà xuất bản Bản đồ, 121tr
8. Viện Khoa học Khí tƣợng, Thủy văn và Môi trƣờng, (2010). Biến đổi khí hậu và tác động ở Việt
Nam. Những ngƣời thực hiện: Nguyễn Văn Thằng, Nguyễn Trọng Hiệu, Trần Thục, Phạm Thị
Thanh Hƣơng, Nguyễn Thị Lan và Vũ Văn Thắng. Nxb KH&KT, Hà Nội, 260 trg.
Tiếng anh
9. Bird E., 2008. Coastal geomorphology: An introduction. John Wiley&Sons Ltd., Chichester,
UK, 411 pp (Second Edition)
10. Badgley P.C et all (1982), Oceans from Space. Gulf Publishing. Houston. USA. 233pp.
11. IPCC, 2007. Climate change 2007: Physical Science Basic. Cambridge University Press
12. Kaiser G., 2007. Coastal vulnerability to climate change and natural hazards.
(http://www.cedim.de/download/39_kaiser.pdf)
13. Panizza M., 1996. Environmental geomorphology. Elsevier, Amsterdam, The Netherland, 268 p
14. Slaymaker O., Spencer T. and Embleton-Hamann C. (Eds), 2009. Geomorphology and global
environmental change. Cambridge University Press, UK, 434 pp.
15. Stattegger K., 2008. Holocene evolution and actual geologic processes in coastal zone of South