Nghiên cứu tìm hiểu mô hình MODFLOW phục vụ quản lý nguồn nước lưu vực sông Cả - Pdf 43

Trường ĐH TN & MT HN

1

Ngành : Thủy văn

LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong khoa Khí tượng Thủy văn
– Trường đại học Tài Nguyên và Môi Trường Hà Nội đã truyền thụ kiến thức cho
em suốt quá trình học tập vừa qua, đặc biệt là thầy giáo Th.S Phạm Văn Tuấn, người
đã hướng dẫn và chỉ dạy em tận tình trong suốt thời gian hoàn thành niên luận này.
Xin gửi lời cảm ơn tới những người tân cùng toàn thể các bạn trong lớp đã
chia sẻ, giúp đỡ, động viên và tạo điều kiện để em hoàn thành nhiệm vụ học tập, thu
thập số liệu cần thiết trong suốt quá trình làm niên luận.
Do niên luận được thực hiện trong thời gian có hạn, tài liệu tham khảo và số
liệu còn hạn chế, kinh nghiệm làm việc còn chưa cao nên nội dung của niên luận
còn nhiều thiếu sót . vì vậy em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô và
của toàn bộ các bạn sinh viên để niên luận được hoàn thiện hơn và sẽ phát triển lên
làm đồ án.
Em xin chân thành cảm ơn.

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

2

Ngành : Thủy văn


Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

5

Ngành : Thủy văn

MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống
và môi trường, quyết định sự phát triển của một dân tộc hay một quốc gia. Mặt khác
nước cũng có thể gây tai họa cho con người và môi trường. Tài nguyên nước là tài
nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được nhưng cũng có thể cạn kiệt tùy vào tốc độ
khai thác của con người và khả năng tái tạo của môi trường.
Tài nguyên nước đã trở thành tài nguyên chiến lược thứ hai sau tài nguyên
con người, điều này đã được khẳng định trong rất nhiều các diễn đàn quan trọng
trên thế giới. Tuy nhiên quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh chóng trên
phạm vi toàn cầu đã và đang làm suy thoái nguồn nước. Việc sử dụng, quản lý và
bảo vệ nguồn nước một cách bền vững đòi hỏi cần có sự quan tâm thỏa đáng và
những hành động cụ thể không chỉ của các cơ quan quản lý mà còn của cả người
dân.
Ngày nay, việc sử dụng tài nguyên nước cho mọi hoạt động đã trở nên phổ
biến. Tuy nhiên, việc khai thác sử dụng không có kế hoạch nguồn tài nguyên này đã
gây ra những hậu quả và ảnh hưởng nghiêm trọng. Nguồn nước bị suy giảm nghiêm
trọng đã hủy hoại môi trường sống và đẩy con người đến gần các rủi ro nguy hiểm:
ô nhiễm môi trường, thiếu hụt nước, các mâu thuẫn xung đột từ nguồn nước gây
nên các bất ổn về xã hội,..

Về mùa khô lượng mưa rất nhỏ, lưu lượng dòng chảy rất thấp. Lưu lượng
nhỏ nhất trên dòng chính sông Cả tại Yên Thượng đo được 61,4 m 3/s ngày
13/VIII/1980. Trên sông nhánh Ngàn Phố tại Sơn Diệm là 6,43 m 3/s ngày
12/VIII/1977 và trên sông Ngàn Sâu tại Hoà Duyệt là 8,82 m 3/s ngày 12/VII/1976
nên đã gây ra tình trạng thiếu nước trong mùa cạn làm trở ngại cho việc cấp nước
cho công - nông nghiệp.
Là vùng nằm sát ven biển nên nó bị ảnh hưởng của thuỷ triều và mặn. Về
mùa lũ ở thượng nguồn về lớn gặp lúc triều cường nên việc tiêu thoát nước rất chậm
gây ra ngập lụt lớn kéo dài trong nhiều ngày. Về mùa khô khi nguồn nước ngọt về
nhỏ, thuỷ triều và mặn đã xâm nhập sâu vào trong nội địa gây trở ngại cho việc lấy
nước ngọt ở các cống lấy nước.
Do vậy trong việc lập quy hoạch thuỷ lợi cần có các biện pháp hữu hiệu đề
phòng tránh lũ lụt và đưa ra các biện pháp nâng cao nguồn nước mùa cạn phục vụ
tốt cho việc quá trình nông nghiệp.
Xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn trên, em chọn đề tài: “Nghiên cứu tìm
hiểu mô hình MODFLOW phục vụ quản lý nguồn nước lưu vực sông Cả” với mục
tiêu quản lý nguồn nước một cách hợp lý, từ đó góp phần vào công cuộc quản lý và
sử dụng nguồn tài nguyên nước của sông Cả nói riêng và của Việt Nam nói chung.

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

7

Ngành : Thủy văn


Khoảng (Lào) với đỉnh núi cao như Phu Hoạt với độ cao 2000m.
Phía Tây được án ngữ bởi dãy Trường Sơn với độ cao đỉnh núi trên 2000m
như đỉnh Phi Xai Leng có độ cao 2711m.
Càng dần về phía Nam, Tây Nam đường phân thủy của lưu vực đi trên những
đồi núi thấp có độ cao đỉnh núi từ 1300 đến 1800m chạy dọc theo dãy Trường Sơn
Bắc, đi vào địa phận tỉnh Hà Tĩnh.
Phần thượng nguồn thuộc lãnh thổ Lào độ dốc lòng sông lớn, khi tới Việt
Nam độ dốc giảm nhiều. Độ dốc bình quân lưu vực là 1,8‰, hệ số hình dạng lưu
vực là 0,29, mật độ lưới sông 0,6km/km2.
Độ dốc trung bình đoạn sông từ Cửa Rào là 1,26‰, từ Cửa Rào tới Dừa là
0,76‰, từ Dừa tới Đô Lương là 0,20‰, từ Đô Lương tới Nam Đàn là 0,10‰, từ
Nam Đàn ra biển là 0,09‰.
Phần lớn đất đai trong vùng thuộc dạng đồi núi bị chia cắt mạnh. Sông suối
có độ dốc lớn, vùng trung du nối chuyển tiếp giữa miền núi và đồng bằng ngắn cho
nên khi có mưa lớn, lũ tập trung nhanh, ít bị điều tiết dẫn tới nước lũ tập trung về
đồng bằng rất nhanh gặp mưa lớn ở hạ du và triều cường thường gây lũ lụt trên diện
rộng.

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

10

Ngành : Thủy văn

Bảng 1.1 . Đặc trưng hình thái một số lưu vực sông

(km)

bq

bqlv

km/km2

sông

đối

(m)

(‰)

km/km2

xứng

1
2

Sông Cả
S.Nậm

27.200
3.970

531

15,8
32,5

5

Hiếu
Sông La

3.210

135

362

2,82

46,6

Hệ số
hình
dạng
lưu

-0,14
0,22

vực
0,29
0,27


lớn, đất thường bị xói mòn, rửa trôi mạnh, lớp đất sỏi cát thường bị nước lũ mang
về, bồi lấp diện tích canh tác vùng ven bãi sông gây trở ngại cho sản xuất.

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

11

Ngành : Thủy văn

- Vùng đồng bằng hạ du sông Cả: Vùng này có độ cao mặt đất từ 6 ÷ 8m ở
vùng tiếp giáp với vùng đồi núi thấp, hoặc từ 0,5 ÷ 2,0m ở vùng ven biển. Vùng
đồng bằng thường bị chia cắt bởi hệ thống sông suối hoặc các kênh đào chuyển
nước hoặc giao thông.
- Vùng ven biển: vừa chịu ảnh hưởng lũ lại vừa chịu ảnh hưởng của thuỷ
triều. Khi có mưa lớn ở hạ du gặp lũ ngoài sông chính lớn khả năng tiêu tự chảy
kém. Mặt khác do tác động của thuỷ triều, nhất là thời kỳ triều cường gặp lũ lớn
thời gian tiêu rút ngắn lại gây ngập úng lâu, nhất là vùng Nam Hưng Nghi, 9 xã
Nam Đàn và 6 xã ở Đức Thọ. Về mùa khô do lượng nước thượng nguồn về ít và
mặn xâm nhập vào khá sâu, những năm kiệt độ mặn xâm nhập tới trên Chợ Tràng 1
÷ 2km. Độ mặn đạt tới 2 ÷ 3%o tại cống Đức Xá vào những năm kiệt gây trở ngại
cho các cống lấy nước và các trạm bơm ở hạ du sông Cả.
1.3. Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng
Đặc điểm địa chất trong vùng khá phức tạp. Đới Trường Sơn Bắc, đới Phu
Hoạt trên lưu vực sông Hiếu, đới Sầm Nứa thượng nguồn sông Cả. Do sự nâng lên
và hạ xuống đã tạo nên những nếp đứt gãy phân tầng chạy dọc theo hướng Tây Bắc

66,02% tổng diện tích rừng, rừng trồng có 108122ha, chiếm 33,98%. Độ che phủ
rừng đạt 50,16%.
Rừng tự nhiên thường gặp là rừng nhiệt đới, vừng núi cao có thể gặp các lá
kim á nhiệt đới. Rừng trồng phần lớn là thông nhựa hiện có trên 18000ha trong đó
có trên 7000ha có khả năng khai thác.
Thảm phủ thực vật lưu vực sông cả rất đa dạng, có trên 86 họ và 500 loài cây
gỗ, trong đó có nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, đinh…và nhiều loại thú quý
hiếm như hổ, báo và các loài bò sát khác.

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

13

Ngành : Thủy văn

CHƯƠNG 2 : ĐẶC ĐIỂM KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN LƯU VỰC SÔNG CẢ
2.1. Đặc điểm khí tượng
Lưu vực sông Cả nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa, trong năm chịu
ảnh hưởng của các hoàn lưu khí quyển sau:
- Khối không khí cực đới lục địa Châu á. Khối không khí này biến tính mạnh
khi di chuyển từ Bắc về phía Nam bán cầu. Hoạt động của khối không khí này từ
tháng XI tới tháng III gây nên thời tiết lạnh và khô vào các tháng mùa đông và có
mưa phùn vào các tháng cuối mùa đông.
- Khối không khí xích đạo Thái Bình Dương với hướng gió Đông Nam hoạt
động mạnh từ tháng V tới tháng X và mạnh nhất vào tháng IX, X. Đặc điểm của

vào tháng I, về phía Nam của lưu vực ảnh hưởng của các hoàn lưu phương Bắc yếu
hơn, nhiệt độ tăng dần, mùa mưa đến chậm hơn và kết thúc sớm. Lượng mưa tháng
lớn nhất xảy ra vào tháng IX, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là VIII, IX, X. Những
vùng được bao bọc bởi các dãy núi, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc và gió mùa
Tây Nam ít hơn dần. Lượng mưa năm khá nhỏ như vùng Mường Xén, Cửa Rào,
Khe Bố có năm lượng mưa chỉ đạt từ 500 ÷ 700mm.
Những vùng có điều kiện địa hình thuận lợi cho việc đón gió (dạng phễu) đã
tạo nên những tâm mưa lớn trên lưu vực như vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, sông
Giăng với lượng mưa năm trung bình đạt 2.000 ÷ 2.400mm.
Do sự lệch pha về chế độ mưa cho nên chế độ dòng chảy trên dòng chính ở
thượng nguồn và hạ du cũng không xuất hiện đồng nhất. Giữa sông nhánh và sông
chính cũng khác nhau. Điều này cũng phần nào giảm mức độ căng thẳng về lũ lụt ở
hạ du sông Cả nhất là những trận lũ lớn.
2.1.1. Chế độ nhiệt
Mùa đông từ tháng XII tới tháng II và lạnh nhất là tháng I. Thời kỳ này lưu
vực ảnh hưởng chủ yếu của khối không khí cực đới lục địa Châu Á. Tuỳ theo sự ảnh
hưởng của khối không khí này tới các vùng trên lưu vực mà cho chế độ nhiệt về
mùa đông khác nhau. Vùng đồng bằng nhiệt độ trung bình cao hơn ở miền núi.
Nhiệt độ trung bình năm đạt 23,8 0C tại Vinh, 23,60C ở Cửa Rào, 23,00C ở Tây Hiếu.
Nhiệt độ trung bình tháng I tại đồng bằng cao hơn ở vùng núi thượng nguồn sông
Hiếu. Nhưng ở vùng thung lũng Mường Xén, Cửa Rào nhiệt độ tháng I, II lại cao
hơn ở đồng bằng. Nguyên nhân chính là do vùng này được bao bọc bởi các dãy núi
cao làm hạn chế sự xâm nhập của gió mùa Đông Bắc, mùa đông trở nên ấm hơn.
Nhiệt độ tối thấp đạt 40C ở Vinh (tháng I/1914), -0,5 0C ở Quỳ Châu ( I/1974), 1,7 0C
ở Cửa Rào tháng I/1974.
Mùa nóng từ tháng V tới tháng VIII với nhiệt độ trung bình tháng đạt từ 27 ÷
290C. Tháng nóng nhất là tháng VII do hoạt động mạnh của gió Lào. Nhiệt độ trung
bình tháng VII đạt 29,60C ở Vinh, 24,80C ở Tây Hiếu, 27,90C ở Cửa Rào. Nhiệt độ

SV: Nguyễn Hải Hà

2.1.4. Gió, bão
Về mùa đông hướng gió thịnh hành là gió mùa Đông Bắc, mùa hè là gió mùa
Tây Nam. Tốc độ gió trung bình trong các tháng mùa đông đạt 1,3 ÷ 2,0m/s và
trong các tháng mùa hè là 1,5 ÷ 3,0m/s. Vùng ven biển do ảnh hưởng mạnh của gió
mùa Đông Bắc và gió do bão gây ra. Tốc độ gió bão lớn nhất đạt 37m/s tại Vinh
ngày 18/VIII/1965.
Từ tháng IV tới tháng VII không khí ẩm Vịnh Belgan tràn sang khi vượt qua
dãy Trường Sơn tràn vào lưu vực, phần lớn lượng hơi ẩm đã mất đi khi

tới lưu

vực, gió trở nên khô nóng. Những đợt gió này thường kéo dài từ 5 ÷ 7 ngày, hàng

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

16

Ngành : Thủy văn

năm có từ 5 tới 7 đợt. ảnh hưởng gió Tây khô nóng đã tạo nên một thời tiết khắc
nghiệt ở vùng nghiên cứu. Nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất tăng lên vào tháng
VI, VII. Bốc hơi mạnh, tổn thất dòng chảy lớn, hoa mày cây cối bị mất hơi nước
mạnh trở nên khô, héo, tổn thất về của cải rất lớn. Hàng năm số ngày có gió Tây
khô nóng (gió Lào) có thể đạt từ 30 ÷ 35ngày.
Vùng nằm sát ven biển trong hạ du sông Cả chịu ảnh hưởng mùa mưa bão

17

Ngành : Thủy văn

Dạng hình thế thời tiết gây mưa tạo nên lũ lớn ở hạ du sông Cả. Có thể tóm
tắt một số dạng như sau:
- Bão liên tiếp đổ bộ vào trong thời gian ngắn.
- Bão tan thành áp thấp nhiệt đới gây mưa lớn trên diện rộng.
- Áp thấp nhiệt đới di chuyển lên phía Bắc Tây Bắc gặp không khí lạnh tăng
cường gây mưa lớn trên diện rộng gây lũ lớn.
Những hình thế thời tiết hoặc xuất hiện độc lập hoặc tổ hợp nhiều hình thế
thời tiết gây mưa đã xuất hiện trên lưu vực, gây lũ lớn hoặc đặc biệt lớn ở hạ du
sông Cả. Hậu quả của nó là những trận lũ lụt nghiêm trọng vào tháng IX/1978,
X/1988, IX/1964 v.v.
2.1.5. Chế độ mưa
Lượng mưa năm trung bình nhiều năm trên lưu vực sông Cả biến động khá
mạnh mẽ ở các vùng nó dao động từ 1.122 ÷ 1.700mm ở vùng ít mưa như khu vực
Khe Bố, Mường Xén, Cửa Rào, hạ sông Hiếu và từ 1.800 ÷ 2.500mm ở vùng mưa
vừa và lớn như ở thượng nguồn sông Hiếu 2.000 ÷ 2.100mm, vùng sông Giăng, khu
giữa từ Cửa Rào - Nghĩa Khánh tới Dừa, lượng mưa năm trung bình từ 1.800 ÷
2.100mm. Vùng sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu lượng mưa năm trung bình đạt 2.200 ÷
2.400mm. Vùng đồng bằng ven biển lượng mưa năm đạt 1.800 ÷ 1.900mm. Trên
lưu vực xuất hiện vùng tâm mưa lớn nhất như tâm mưa thượng nguồn sông Hiếu,
thượng nguồn sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu.
Vùng ít mưa xuất hiện ở những thung lũng kín, khuất gió như dọc theo thung
lũng Mường Xén - Cửa Rào, Cửa Rào - Khe Bố lượng mưa năm chỉ đạt từ 1.200 ÷
1.300. Có năm tại Khe Bố lượng mưa năm chỉ đạt 511mm năm 1984, Cửa Rào đạt
773mm năm 1977.
Mùa mưa thay đổi theo từng vị trí của lưu vực. Vùng thượng nguồn sông Cả,
sông Hiếu mùa mưa từ tháng V và kết thúc vào tháng X. Lượng mưa tháng lớn nhất

giảm nhỏ chỉ đạt 5 ÷ 10% lượng mưa năm.
Sang tháng VIII, IX, X dải hội tụ nhiệt đới dịch chuyển dần về phía Nam kết
hợp với các loại hình thế thời tiết gây mưa lớn như áp thấp nhiệt đới, bão đã tạo ra
những trận mưa lớn kéo dài từ 3 ÷ 10 ngày gây lũ lớn trên các triền sông.
Lượng mưa hai tháng IX, X đạt tới 40% lượng mưa năm. Lượng mưa tháng
IX, X phân bố không đều trên lưu vực. Vùng đồng bằng chịu ảnh hưởng của mưa
do bão gây ra, lượng mưa hai tháng đạt 1.000 ÷ 1.100mm. Càng về phía thượng lưu
dòng chính lượng mưa hai tháng giảm dần do ảnh hưởng ít của bão chỉ đạt 500 ÷
800mm.
Lượng mưa cực tiểu tháng II vùng Mường Xén, Cửa Rào, thượng nguồn
sông Hiếu chỉ đạt từ 6 ÷ 12mm vào tháng này. Các tháng khác đạt từ 6 ÷ 12mm,

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

19

Ngành : Thủy văn

lượng mưa tháng II chỉ chiếm 1 ÷ 2% lượng mưa năm. Tổng lượng mưa 5 tháng
mùa khô từ tháng XII tới tháng IV chỉ chiếm 10 ÷ 20% lượng mưa năm.
Biến động lượng mưa theo thời gian khá mạnh mẽ. Lượng mưa năm lớn nhất
đạt 3.520mm năm 1989 tại Vinh, 3.670mm năm 1989 tại Hoà Duyệt, 3.470mm năm
1978 tại Đô Lương và từ 2.500 ÷ 2.700mm tại các vùng thượng sông Cả, sông Hiếu.
Lượng mưa năm nhỏ nhất biến động tuỳ theo các vùng, vùng ít mưa như Khe Bố,
Mường Xén, Cửa Rào có năm lượng mưa chỉ đạt 500 ÷ 700mm. Vùng mưa nhiều


Ngành : Thủy văn

m3/s, Mo = 62,1 l/s.km2. Phần dòng chảy phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam là
17,7.109m3, phần dòng chảy thuộc địa phận Lào (F = 9.470km2) là 5,8.109m3.
- Biến đổi dòng chảy năm theo không gian:
Thượng nguồn sông Cả tại Cửa Rào khống chế diện tích 12.800km 2, lưu
lượng trung bình nhiều năm đạt 213 m3/s tương ứng với mô đun dòng chảy 16,61
l/s.km2. Sông Nậm Mô tại Mường Xén có F = 2.620km 2, mô số dòng chảy năm
trung bình là 24,8 l/s.km2. Trên sông Hiếu tại Quỳ Châu, do có lượng mưa năm
trung bình lớn 2.100mm, mô đun dòng chảy năm trung bình đạt 52,7 l/s.km 2. Tại
Nghĩa Khánh trên sông Hiếu lượng dòng chảy năm chỉ đạt 4,13.10 9 m3, tương ứng
với Qo = 131 m3/s, Mo = 32,7 l/s.km2.
Tại Dừa do có sự tham gia dòng chảy bên sông Hiếu có mô đun dòng chảy
lớn đổ vào, mô đun dòng chảy năm trung bình đạt 20,4 l/s.km 2, Qo = 424 m3/s, Wo
= 13,4.109 m3.
Tại Cửa Rào F = 12.800km2, chiếm 55,6% F tại Yên Thượng, nhưng dòng
chảy năm trung bình đạt 6,72.109m3 chiếm 42% tổng lượng dòng chảy tại Yên
Thượng.
Sông Hiếu có F = 5.340km2, chiếm 17,47% diện tích tại yên Thượng nhưng
lượng dòng chảy năm trung bình đạt 5,34.109m3 chiếm 33,4% lượng dòng chảy tại
Yên Thượng.
Từ Dừa tới Yên Thượng diện tích khu giữa là 2.200km 2, chiếm 9,56% diện
tích tại Yên Thượng nhưng lượng dòng chảy năm đạt 2,6.106m3 chiếm 16,25%
lượng dòng chảy tại Yên Thượng. Đoạn khu giữa này có sự gia nhập dòng chảy
năm của sông Giăng có mô đun dòng chảy lớn đạt 37,3 l/s.km 2, dòng chảy năm tại
Yên Thượng đạt 16,02.109m3, mô đun dòng chảy 22,0 l/s.km2.
Hạ du sông Cả có sông La có diện tích 3.210km 2 đổ vào tại Chợ Tràng. Sông
La là hợp lưu của hai sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu. Hai sông này bắt nguồn từ vùng
núi cao có lượng mưa năm trung bình 2.300mm. Tại Hoà Duyệt trên sông Ngàn

55,6

Wo.1

Qo

Mo

Yo

(m3/s)

l/s.km2

(mm)

213

16,6

525

% Yên

Cửa Rào

Cả

(km2)
12.800

100,0

16,00

100

508

22,1

695

Mường Xén

Nậm Mô

2.620

11,4

2,05

13,0

65,0

24,8

782


79,1

52,7

1660

Nghĩa Khánh

Hiếu

4.020

17,5

4,13

25,8

132

32,6

1027

Cửa sông

Hiếu

5.340


Cửa sông

Giăng

1.050

4,57

1,49

9,31

47,2

44,9

1419

Sơn Diệm

Ngàn Phố

790

3,43

1,60

10,0


8,17

3,88

24,3

123

65,4

2063

Cửa sông

Cửa sông

3.210

14,00

6,29

39,3

199

62,0

1960



Năm nhiều nước do ảnh hưởng của mưa bão, lượng dòng chảy năm rất lớn
có thể gấp 3 ÷ 4 lần năm ít nước. Những năm nước lớn như các năm 1973 - 1974,
1964 - 1965 tại thượng nguồn sông Cả, 1978 - 1979 tại hạ du sông Cả, sông Hiếu,
năm 1964 - 1965, 1960 - 1961 tại các sông trên lưu vực sông La.
Trước hoặc sau năm lũ là những năm có dòng chảy năm hoặc dòng chảy mùa
kiệt khá nhỏ như các 1979 - 1980 tại Cửa Rào, 1977 - 1978 tại Dừa, Yên Thượng,
1976 - 1977 tại Quỳ Châu, Nghĩa Đàn, 1977 - 1978 tại Sơn Diệm, 1975 - 1976 tại
Hoà Duyệt.
Trong phạm vi biến đổi tần suất từ 5 ÷10% thì có thể chọn mô hình các năm
nước lớn như 1964 - 1965, 1973 -1974, 1978 - 1979, 1960 - 1961.
Các năm nước kiệt tần suất từ 75 - 90% có thể chọn các thủy văn 1969 1970, 1968 - 1969, 1976 - 1977, 1977 - 1978.
Bảng 2.2: Tần suất dòng chảy năm
Trạm

Sông

Thời kỳ

Mường Xén
Cửa Rào
Dừa
Yên Thượng
Cốc Nà
Quỳ Châu
Nghĩa

Nậm Mô
Cả
Cả


Cv

Cs

65
213
424
508
11,8
79,1
131

0,26
0,27
0,28
0,33
0,37
0,30
0,38

36,4
50,6
123
6,95

0,38
0,26
0,28
0,44

111
198

50
64,3
210
416
489
11,3
76,7
125

75
53,1
173
340
387
8,70
62,1
95,2

85
47,4
154
302
339
7,5
55,1
81,4


2.2.2. Phân phối dòng chảy trong năm
Phụ thuộc vào chế độ mưa, chế độ dòng chảy trong năm phân thành hai mùa
rõ rệt: mùa cạn và mùa lũ. Song ngay trong mùa lũ cũng có thể xảy ra kiệt do ảnh

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

23

Ngành : Thủy văn

hưởng của gió Tây khô nóng. Trên toàn lưu vực thời gian bắt đầu và kết thúc mùa
lũ, mùa kiệt cũng khác nhau.
Thượng nguồn sông Cả thời gian mùa lũ bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào
tháng X, càng về hạ du thời gian mùa lũ chậm hơn bắt đầu từ tháng VII kết thúc vào
tháng XI. Vùng lưu vực sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu mùa lũ rút ngắn lại chỉ còn 3
tháng, bắt đầu từ tháng IX kết thúc vào tháng XI. Trên dòng chính sông Cả lượng
nước mùa lũ chiếm 70 ÷ 75% lượng nước năm, mùa cạn từ 25 ÷ 30% lượng nước
năm. Trên các sông suối vừa và nhỏ, lượng nước mùa lũ biến đổi 65 ÷ 70% lượng
nước năm, còn lại là mùa kiệt. Hai tháng có lượng nước lớn nhất IX, X có tổng
lượng nước chiếm 40% tổng lượng nước năm. Tháng III trên dòng chính sông Cả,
sông Hiếu có lượng nước trung bình nhỏ nhất. Tháng IV trên hệ thống sông La có
lượng dòng chảy nhỏ nhất năm.
Do xu hướng mưa muộn dần từ Bắc vào Nam nên tỷ lệ dòng chảy tháng VII,
IX, X cũng có sự thay đổi đáng kể. Tại Cửa Rào tỷ lệ dòng chảy tháng VIII đạt
19,6% lượng dòng chảy năm, tỷ lệ này chỉ đạt 15,7% ở Dừa, 14,7% ở Yên Thượng,

Rào, 5,9 l/s.km2 tại Dừa, 6,2 l/s.km2 tại Yên Thượng, 21 l/s.km2 tại Quỳ Châu, 11,3
l/s.km2 tại Nghĩa Khánh, 20,2 l/s.km 2 tại Thác Muối. Trên sông La, tháng IV có
dòng chảy nhỏ nhất đạt mô đun dòng chảy 27,8 l/s.km 2 tại Sơn Diệm trên sông
Ngàn Phố, 23,8 l/s.km2 trên sông Ngàn Sâu tại Hoà Duyệt.
2.2.3. Mạng lưới sông suối

Hình 2.1. Bản đồ mạng lưới sông lưu vực sông Cả
Hệ thống sông Cả có mật độ lưới sông 0,6km/km 2. Những vùng mưa lớn như
sông Hiếu, sông La, sông Giăng mật độ lưới sông cao hơn đạt từ 0,7 ÷ 0,9 km/km2.
Các sông suối ngắn và dốc đổ vào dòng chính sông Cả với tổng số 44 sông nhánh
cấp I, có diện tích nhỏ nhất như Khe Trò là 20km 2 và diện tích lớn nhất là
sông Hiếu đạt tới 5.340km2.

SV: Nguyễn Hải Hà

Lớp: ĐH3T


Trường ĐH TN & MT HN

25

Ngành : Thủy văn

Dòng chính sông Cả bắt nguồn từ dãy núi cao thuộc tỉnh Xiêm Khoảng bên
Lào có độ cao đỉnh núi 2.000m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam vào Việt
Nam, cách cửa biển 40km chảy theo hướng Đông Nam đổ ra biển tại Cửa Hội. Sông
Cả không có phân lưu, toàn bộ lượng nước về mùa lũ và mùa kiệt đều được chảy ra
biển tại Cửa Hội.
Các sông nhánh lớn như sông Hiếu, sông Giăng, sông La đều đổ vào đoạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status