ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Bùi Quang Dũng
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ BIỂN PHỤC VỤ QUẢN LÝ
TAI BIẾN XÓI LỞ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội – Năm 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Bùi Quang Dũng
NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG ĐƢỜNG BỜ TỈNH BÀ RỊA –
VŨNG TÀU 26
2.1. CÁC NHÂN TỐ NỘI SINH 27
2.1.1. Cấu trúc địa chất 27
2.1.2. Đặc điểm thạch học 30
2.2.1. Địa hình ban đầu 31
2.2.2. Khí hậu 33
2.2.3. Đặc điểm thủy văn 34
2.2.4. Đặc điểm hải văn 35
2.2.5. Mực nƣớc biển dâng 36
ii
2.2.6. Hoạt động nhân sinh 42
CHƢƠNG 3 44
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG BIẾN ĐỘNG DỰA VÀO CHỈ SỐ TỔN THƢƠNG BỜ
BIỂN PHỤC VỤ QUẢN LÝ TAI BIẾN XÓI LỞ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 44
3.1. PHÂN LOẠI BỜ BIỂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU 45
3.2. HIỆN TRẠNG BIẾN ĐỔI BỜ BIỂN 48
3.3. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ DỄ BỊ TỔN THƢƠNG BỜ BIỂN 51
3.3.1. Quy trình tính toán chỉ số dễ bị tổn thƣơng bờ biển (CVI) 51
3.3.2. Đánh giá khả năng tổn thƣơng bờ biển tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 60
3.4. NGUYÊN NHÂN XÓI LỞ - BỒI TỤ BỜ BIỂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
61
3.4.1. Nguyên nhân trực tiếp 62
3.4.2. Các nguyên nhân gián tiếp 63
3.5 QUẢN LÝ TAI BIẾN DO BIẾN ĐỔI BỜ BIỂN VÙNG NGHIÊN CỨU 68
3.5.1. Quan niệm chung 68
3.5.2. Các giải pháp phi công trình bào vệ bờ 69
3.5.3.Phƣơng án công trình 73
KẾT LUẬN 76
biển dâng 1m
Hình 3.14. Các hợp phần của địa mạo bờ được đưa vào xem xét khi xây dựng quy
hoạch
Hình 3.15. Mô hình quan niệm về các mối quan hệ giữa địa hình và quá trình hình
thành và biến đổi nó với dự án
Hình 3.16: Quá trình xói lở - bồi tụ tại Lộc An
Hình 3.17 : Thực địa thấy hệ thống kè được xây dựng Phước Hải và hệ thống kè đê
bị phá hủy tại Hồ Tràm 2012
Hình 3.18: Xây dựng đê tường biển trong khi xói lở vẫn tiếp tục xảy ra
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1. Một số đặc trưng khí hậu tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bảng 2.2. Các thời kỳ gian băng và băng hà trong kỷ Đệ tứ ở các khu vực khác nhau
trên thế giới
Bảng 2.3. Các kịch bản mực nước biển dâng trong thế kỷ XXI trong vùng nghiên cứu
Bảng 3.2. Bản phân loại và tính điểm trọng số cho độ dốc
Bảng 3.3 Phân loại và tính điểm trọng số cho tốc độ xói lở - bồi tụ
Bảng 3.4. Phân cấp giá trị tổn thương đường bờ tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu
Bảng 3.5. Biến động số lượng bão đổ bộ vào Việt Nam giai đoạn 1961-2009
Bảng 3.6. Mực nước biển dâng (cm) theo các kịch bản phát thải khác nhau
1
MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Bồi tụ và xói lở bờ biển là quá trình địa mạo cơ bản ở đới bờ của quốc gia có
biển. Hai quá trình này luôn có mối quan hệ qua lại chặt chẽ và khăng khít với nhau
theo quy luật của tự nhiên để đạt tới sự cân bằng của địa hình trong mối tƣơng quan
giữa các yếu tố tác động. Nhƣng trong những năm gần đây, trạng thái cân bằng này
đang dần bị phá vỡ, trên khắp thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, hiện tƣợng xói lở bờ biển
đang tăng lên một cách nhanh chóng cả về cƣờng độ và phạm vi tác động, nó đã trở
Mục tiêu chung: Làm sáng tỏ hiện trạng và nguyên nhân biến đổi bờ biển tỉnh
Bà Rịa-Vũng Tàu qua các giai đoạn phục vụ cho quản lý tai biến xói lở khu vực nghiên
cứu.
Nhiệm vụ nghiên cứu
1) Làm sáng tỏ tình hình nghiên cứu biến động bờ biển ở trong nƣớc và trên thế giới.
2) Xác định rõ các nhân tố tự nhiên và xã hội ảnh hƣởng đến biến động bờ biển vùng
nghiên cứu.
3) Làm sáng tỏ hiện trạng biến động bờ biển các tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong khoảng
thời gian từ 1965 đến nay.
4) Xác định đƣợc nguyên nhân trực tiếp gây ra và các nhân tố ảnh hƣởng đến biến
động bờ biển vùng nghiên cứu.
5) Đề xuất một số các giải pháp thích hợp nhằm hạn chế, giảm thiểu tai biến biến động
bờ biển khu vực nghiên cứu.
3. Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu biến động bờ biển
3
Nội dung 2: Phân tích các nhân tố động lực gây biến động bờ biển tỉnh Bà Rịa –
Vũng Tàu
Nội dung 3: Phân tích biến động bờ biển khu vực nghiên cứu
Nội dung 4: Đề xuất và định hƣớng các giải pháp
4. Giới hạn phạm vị nghiên cứu
Luận văn tiến hành thực hiện trên phạm vi 82km bờ Đông tỉnh Bà Rịa - Vũng
Tàu, bao gồm 12km bờ đá và 70km bờ cát chạy dài từ bờ biển xã Bình Châu huyện
Xuyên Mộc đến bờ biển khu vực Núi Lớn thành phố Vũng Tàu.
Nội dung của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, sẽ
đƣợc trình bày trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về nghiên cứu biến động đƣờng bờ
Chƣơng 2: Nhân tố ảnh hƣởng đến biến động đƣờng bờ tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Chƣơng 3: Đánh giá khả năng biến động dựa vào chỉ số tổn thƣơng bờ biển
5
Đường bờ biển. Theo quan niệm chung, đƣờng bờ biển là ranh giới tiếp xúc
giữa biển và đất liền. Đƣờng này luôn dịch chuyển theo sự dao động của mực nƣớc
biển theo chu kỳ ngắn (thủy triều), chu kỳ dài (chu kỳ thiên văn) hoặc không theo chu
kỳ. Trong thực tế, ngƣời ta thƣờng lấy đƣờng bờ biển là mực nƣớc triều trung bình
nhiều năm.
Tuy nhiên để nghiên cứu biến động đƣờng bờ biển cần phải xác định rõ 2 đƣờng
bờ: đƣờng bờ trong và đƣờng bờ ngoài (hình 1.1).
Đường bờ trong (coastline) là ranh giới tác động cao nhất của sóng trong năm
(thƣờng là sóng bão) với đất liền;
Đường bờ ngoài (shoreline) là ranh giới tác động của sóng vào lúc thủy triều
cao trung bình.
Hình 1.1. Sơ đồ biểu diễn các thuật ngữ về bờ biển được sử dụng[19]
6
Khu bờ biển (Coastal area) là đới tƣơng tác giữa 4 quyển trên bề mặt Trái đất là:
thủy quyển, thạch quyển, khí quyển và sinh quyển, trong đó sóng biển đƣợc xem là
nhân tố động lực chủ yếu trong sự hình thành và biến đổi địa hình của nó. Trong thời
đại ngày nay, các hoạt động kinh tế-xã hội của con ngƣời cũng có những tác động to
lớn đến khu bờ biển, thậm chí còn mạnh hơn cả các nhân tố tự nhiên. Giới hạn của khu
bờ biển đƣợc xác định nhƣ sau. Ranh giới phía lục địa đƣợc xác định là đƣờng sóng
sóng leo cao nhất (thƣờng là sóng khi có bão) trong năm; còn ranh gới về phía biển
đƣợc xác định tại độ sâu sóng bắt đầu tác động đến đáy và ngƣợc lại đáy biển cũng ảnh
hƣởng đến sự truyền sóng. Thông thƣờng, độ sâu này đƣợc lấy bằng một nửa chiều dài
(bƣớc) sóng, hoặc đƣợc xác định bằng biểu thức h/H = 0,14, trong đó h là độ cao của
sóng, còn H là độ sâu đáy biển. Khái niệm trên đây đƣợc hiểu là khu bờ biển hiện đại
để phân biệt với khái niệm khu bờ cổ được nâng lên (hiện nay là phần lục địa ven biển)
Xói lở đường bờ (shoreline erosion) là hiện tƣợng dịch chuyển đƣờng bờ biển
một cách liên tục về phía đất liền trong một khoảng thời gian nào đó.
Trong hầu hết các trƣờng hợp, xói lở bãi đều kèm theo xói lở đƣờng bờ dẫn đến
hạ thấp bãi và giật lùi đƣờng bờ. Chỉ có một số ít trƣờng hợp xói lở bãi xảy ra nhƣng
không có sự giật lùi đƣờng bờ. Chẳng hạn, tại các vị trí có công trình bảo vệ (nhƣ
tƣờng biển), thì mặc dù có sự hạ thấp của bãi theo thời gian, nhƣng đƣờng bờ tại đây
vẫn giữ nguyên vị trí. Tuy nhiên, cuối cùng, nếu xói lở bãi xảy ra liên tục, thì công
trình bảo vệ sẽ bị sập đổ và đƣờng bờ sẽ bị giật lùi. Trong nghiên cứu xói lở bờ hoặc
bãi biển, ngƣời ta còn phân biệt xói lở thường xuyên (trong thời gian lâu dài) và xói lở
tạm thời (xảy ra trong khoảng thời gian ngắn). Xói lở thƣờng xuyên muốn nói đến xu
thế mở rộng trong khoảng thời gian vài năm (hoặc dài hơn) đƣợc gây ra bởi thiếu hụt
cán cân trầm tích hàng năm hay tốc độ di chuyển dọc bờ tăng lên. Còn xói lở tạm thời
8
xảy ra trong khoảng thời gian ngắn (vài ngày) do các hiện tƣợng cực đoan, nhƣ bão,
triều cƣờng.
Tính dễ bị tổn thương của bờ biển (coastal vulnerability). Tính dễ bị tổn thƣơng,
nói chung, là một thuật ngữ đƣợc sử dụng khi đánh giá tai biến hoặc rủi ro. Khi có tai
biến hoặc rủi ro xảy ra, thì một hay nhiều hợp phần nào đó của tự nhiên hay xã hội sẽ
có những phản ứng lại đối với chúng. Do đó, tính dễ bị tổn thương được hiểu là khả
năng phản ứng lại của một hệ thống nói chung (tự nhiên hay xã hội, từ đơn giản đến
phức tạp, có quy mô không gian và thời gian rất khác nhau) đối với những tác động
không có lợi từ bên ngoài hoặc ngay bên trong nó. Khi sử dụng khái niệm này, bao giờ
cũng kèm theo một mệnh đề để xác định rõ: dễ bị tổn thƣơng đối với cái gì. Chẳng hạn,
tính dễ bị tổn thƣơng chất lƣợng thổ nhƣỡng đối với xói mòn, hay tính dễ bị tổn thƣơng
sức khỏe của con ngƣời đối với lƣợng bụi ngày càng gia tăng, v.v. Nhƣ vậy, khái niệm
tính dễ bị tổn thƣơng đƣợc sử dụng cho nhiều đối tƣợng khác nhau bao gồm cả các hợp
phần tự nhiên (địa hình, nguồn nƣớc, sinh vật, hệ sinh thái, v.v.), cũng nhƣ các hợp
phần kinh tế-xã hội (hạ tầng cơ sở, di sản văn hóa, v.v.) trong hệ thống tự nhiên-xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu tính dễ bị tổn thƣơng từng yếu tố, sẽ tiến hành đánh giá tính dễ
một khu rừng ngập mặn, hay phát triển một khu du lịch hoặc khai thác một mỏ khoáng
sản nào đó ở đới bờ.
Quy hoạch bờ biển cũng không nằm ngoài các nội dung nêu trên. Các tài liệu
đƣợc sử dụng để xây dựng quy hoạch bao gồm nhiều thông tin khác nhau cả về điều
kiện tự nhiên lẫn xã hội (kinh tế và văn hóa) với mức độ chính xác và khách quan đảm
bảo. Theo Kay và Elder, có 2 loại quy hoạch bờ biển: Quy hoạch chiến lƣợc (strategic
planning) và quy hoạch hành động (operational planning). Quy hoạch chiến lƣợc là loại
có quy mô lớn nhất theo cả không gian và thời gian nhằm đƣa ra mục tiêu tổng quát
10
cần phải đạt đƣợc và đặt ra các cách tiếp cận để đạt đƣợc mục tiêu này. Còn quy hoạch
hành động ở mức độ thấp hơn nhằm đạt đƣợc những mục tiêu cụ thể, đặt ra phƣơng
hƣớng và các bƣớc thực hiện để đạt đƣợc mục tiêu đó. Quy hoạch hành động có nhiều
lĩnh vực khác nhau nhƣ quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch địa phƣơng, v.v. Chẳng
hạn, quy hoạch phát triển du lịch biển-đảo của tỉnh A, quy hoạch nuôi trồng hải sản,
v.v.
Quản lý bờ biển. Quản lý bờ biển, hay nói cụ thể hơn là quản lý môi trƣờng bờ
biển cũng giống nhƣ quản lý nói chung là một lĩnh vực vừa mang tính khoa học, vừa
mang tính nghệ thuật. Quản lý là một quá trình liên tục tìm kiếm các giải pháp (gồm cả
tổ chức hành động và các công cụ đƣợc sử dụng) thích hợp để đạt đƣợc mục tiêu của
quy hoạch đã đề ra. Do đó, trong quản lý cần ƣu tiên đến tính đặc thù của lãnh thổ,
cũng nhƣ tính đặc thù của các lĩnh vực kinh tế-xã hội.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ
1.2.1. Cơ sở lý luận: cách tiếp cận hệ thống
Theo từ điển bách khoa toàn thƣ mở wikipedia: Hệ thống là tập hợp các phần tử
có quan hệ hữu cơ với nhau, tác động chi phối lẫn nhau theo các quy luật nhất định để
trở thành một chỉnh thể.[36]
Tiếp cận hệ thống là phƣơng pháp luận sử dụng để giải quyết những vấn đề thực
tế trên cơ sở xem xét xử lý đầy đủ các đặc điểm hệ thống của đối tƣợng. Các công cụ
chủ yếu của tiếp cận hệ thống là vận trù học, lý thuyết điều khiển và lý thuyết hệ thống.
kinh nghiệm thực tiễn của chuyên gia, các hiểu biết sâu sắc về đối tƣợng nghiên cứu có
thể đƣợc sáng tỏ, trong khi với các phƣơng pháp khác thì khó đạt tới đƣợc.
Những đặc điểm chính của cách tiếp cận hệ thống đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
12
1. Coi đối tƣợng nghiên cứu là một hệ thống, tức là một tổng thể gồm nhiều yếu
tố (bộ phận) quan hệ và tƣơng tác với nhau và với môi trƣờng xung quanh một cách
phức tạp.
2. Thừa nhận nhiều đối tƣợng phức tạp khác nhau. Do đó có thể nghiên cứu
những tính chất tổng quát, những vấn đề tổng quát, những quy luật vận động tổng quát
của hệ thống phức tạp để vận dụng vào từng hệ thống đặc thù ở những lĩnh vực khác
nhau.
3. Đặt trọng tâm nghiên cứu vào sự vận động của các đối tƣợng: xét mỗi hệ
thống trong quá trình tăng trƣởng, phát triển của nó, nghiên cứu quỹ đạo, xu thế của nó
và tìm ra phƣơng hƣớng tác động vào hệ thống một cách hiệu quả nhất.
4. Thừa nhận tính bất định, tức là trạng thái không đầy đủ của thông tin nhƣ là
một tất yếu khó tránh khỏi trong quá trình điều khiển phức tạp. Do đó phải có phƣơng
pháp nghiên cứu thích hợp để khai thác tốt nhất phần thông tin không đầy đủ đã có
đƣợc.
5. Nhấn mạnh sự cần thiết lựa chọn quyết định trong tập hợp rất nhiều phƣơng
án có thể có. Ở đây phải kết hợp sử dụng các thủ tục phân tích lựa chọn trên mô hình
toán học với các thủ tục phi hình thức để phát hiện hết các giải pháp có thể và đánh giá,
phân tích để chọn ra các giải pháp hợp lý nhất.
6. Nhấn mạnh tính liên ngành và sự cần thiết phải sử dụng nhiều kiến thức khoa
học của các lĩnh vực khác nhau để nghiên cứu vấn đề phức tạp.
Tất cả các hiện tƣợng tự nhiên hay xã hội, hoặc các hiện tƣợng tự nhiên-xã hội
đều diễn ra trong một tổ chức đƣợc gọi là hệ thống. Khi sử dụng cách tiếp cận này, bờ
biển được xem là một hệ mở nằm trong khoa học hệ thống Trái đất (Earth Systematic
Science-ESS)-có sự trao đổi vật chất và năng lƣợng với các hệ khác (môi trƣờng bên
ngoài) trên đất liền cũng nhƣ ngoài đại dƣơng hoặc vùng biển bên cạnh (hình 1.2).
địa mạo, biến động đƣờng bờ, độ nghiêng của bờ, thay đổi mực nƣớc biển tƣơng đối,
độ cao sóng có ý nghĩa và độ lớn thủy triều. Những biến số này đƣợc xem là quan
trọng nhất quyết định tính nhạy cảm của đƣờng bờ đối với sự dâng lên của mực nƣớc
biển (Thieler và Hammar-Klose, 1999). CVI đƣợc tính nhƣ sau:
CVI =
6
***** fedcba
ở đây a là địa mạo, b là tốc độ biến động đƣờng bờ, c là độ nghiêng của bờ, d là thay
đổi mực nƣớc biển tƣơng đối, e là độ cao sóng có ý nghĩa trung bình và f là độ cao
trung bình của thủy triều.
15
Tiếp theo, bằng phƣơng pháp chuyên gia, giá trị của các biến trên đƣợc chia
thành các khoảng khác nhau và cho điểm trọng số từ 1 đến 5 (5 cấp). Chẳng hạn, ở bờ
Thái Bình dƣơng của Hoa Kỳ, biến độ nghiêng của bờ đƣợc chia thành 5 cấp với các
khoảng giá trị nhƣ sau: cấp 1 > 1,9; cấp 2 = 1,3-1,9; cấp 3 = 0,9-1,3; cấp 4 = 0,6-0,9 và
cấp 5 < 0,6. Cấp càng cao, thì mức độ tổn thƣơng bờ biển càng lớn đối với mực nƣớc
biển dâng.
Sau khi có giá trị cho từng trắc diện, tiến hành tính các tham số khác nhƣ: giá trị
trung bình, độ lệch chuẩn, các giá trị ứng với 25%, 50% và 75% cho toàn bộ đoạn bờ
nghiên cứu. Trên cơ sở giá trị tích lũy ứng với các phần trăm nêu trên, tiến hành đánh
giá mức độ rủi ro là: thấp ứng với giá trị < 25%, trung bình ứng với giá trị từ 25-50%,
cao ứng với các giá trị từ 50-75% và rất cao ứng với các giá trị > 75%. Kết quả cuối
cùng là xây dựng bản đồ rủi ro cho đoạn bờ biển nghiên cứu.
CVI cung cấp một cơ sở toán học tƣơng đối đơn giản để sắp xếp các đoạn
đƣờng bờ theo mức độ tiềm ẩn biến động của chúng và có thể đƣợc các nhà quản lý sử
dụng để nhận ra các khu vực có thể có rủi ro tƣơng đối cao. Các kết quả CVI đƣợc biểu
diễn trên bản đồ đối với những khu vực nổi bật nhất, mà ở đó các nhân tố đóng góp cho
biến động đƣờng bờ có thể có tiềm ẩn lớn nhất. Một ƣu điểm khác của phƣơng pháp
- Về trắc lượng hình thái, khác với địa hình trên đất liền bị chia cắt mạnh dƣới
tác động của mƣa và dòng chảy mặt, nên có độ nghiêng khá lớn, thƣờng có thể tính
bằng độ, trong khi địa hình bờ và bãi biển bị chia cắt rất yếu, nên độ nghiêng rất nhỏ,
nên thƣờng đƣợc tính bằng %. Dựa vào độ nghiêng của bãi biển, có thể chia ra các mức
độ sau:
17
Nghiêng: khi tgα > 0,01;
Nghiêng thoải: khi tgα = 0,01-0,001;
Hơi nghiêng: khi tgα = 0,001-0,0001
Gần nằm ngang: khi tgα < 0,0001
3) Phương pháp phân tích hình thái - thạch học
Cơ sở của phƣơng pháp này đƣợc dựa trên mối liên quan chặt chẽ giữa đặc điểm
hình thái với các tính chất của vật liệu (đất đá gắn kết hay bở rời, kích thƣớc hạt, v.v.)
tạo nên chúng. Chẳng hạn, độ dốc của bãi phụ thuộc rất nhiều vào kích thƣớc hạt. Hạt
càng thô, độ dốc của bãi càng lớn và ngƣợc lại. Cụ thể nhƣ sau:
- Độ dốc 2
o
tƣơng ứng với đƣờng kính trung bình Md = 0,12 mm
- Độ dốc 8
o
tƣơng ứng với đƣờng kính trung bình Md = 0,5 mm
- Độ dốc 12
o
tƣơng ứng với đƣờng kính trung bình Md = 2 mm
- Độ dốc 15
o
tƣơng ứng với đƣờng kính trung bình Md = 5 mm
- Độ dốc ≥ 20
o
cộng đồng dân cƣ và các hệ sinh thái ven bờ trên toàn thế giới. Nghiên cứu biến động
địa hình bờ biển, thực chất, là nghiên cứu các quá trình địa mạo bờ nhằm tìm ra những
đặc điểm hình thái và động lực hiện nay, lịch sử tiến hóa trong quá khứ và dự báo xu
hƣớng phát triển của nó trong tƣơng lai. Cũng nhƣ trên đất liền, hoạt động của các quá
trình địa mạo ở bờ biển đƣợc biểu hiện cụ thể ở sự hình thành một dạng địa hình nào
đó (quá trình xây dựng-tích tụ) hoặc ở sự phá hủy một thành tạo địa hình khác đang
tồn tại (quá trình phá hủy-xói lở) dƣới tác động của rất nhiều nhân tố động lực khác
nhau từ phía biển cũng nhƣ từ phía lục địa, cả các nhân tố tự nhiên cũng nhƣ các tác
19
động của con ngƣời. Xói lở và bồi tụ là hai mặt đối lập trong một quá trình địa mạo
(hay là 2 quá trình địa mạo đối lập nhau) gây nên tình trạng biến đổi hình thái bờ biển. Hình 1.3. Xói lở bờ biển ở Alaska (Hoa Kỳ) và ở North Norfolk thuộc bờ đông nước
Anh (từ Internet)
Ngay từ cuối thế kỷ 20, trong quá trình thu thập các bằng chứng về biến đổi
đƣờng bờ biển, các nhà khoa học đã nhận ra rằng xói lở bãi đã trở nên quá trình phổ
biến rộng rãi trên thế giới. Giờ đây, hiện tượng xói lở bờ biển đã trở thành vấn đề rất
nghiêm trọng và chiếm ƣu thế hơn hẳn so với bồi tụ và đƣợc các quốc gia có biển đƣợc
các tổ chức khoa học và nhiều nhà khoa học quan tâm. Ƣớc tính, hiện nay có khoảng
trên 70% đƣờng bờ cấu tạo bởi các vật liệu bở rời trên toàn thế giới đang bị xói lở
nghiêm trọng, trong đó tỷ lệ này ở Hoa Kỳ là 90%. Hay ở Trung Quốc, xói lở bờ biển
cũng chiếm gần 50% chiều dài đƣờng bờ, trong đó biển Bột Hải là 46%, Hoàng Hải:
49%, Biển Đông Trung Quốc: 44%, Biển Đông Việt Nam (cả đảo Hải Nam): 21% . Bờ
biển của các nƣớc trong Cộng đồng Châu Âu cũng bị xói lở ở nhiều nơi. Theo báo cáo
của Ủy ban Châu Âu, tính đến năm 2001, tổng chiều dài đƣờng bờ biển bị xói lở là
19.732 km, trong tổng số chiều dài là 100.925 km. Chẳng hạn, tại Hà Lan, hàng năm
bờ biển của nƣớc này mất đi khỏng 1 triệu m
3