Pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai và thực tiễn thi hành trên địa bàn quận long biên, thành phố hà nội (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO
DỤC
VÀThành
ĐÀO TẠO
địa bàn Quận
Long
Biên,
phố Hà NộiBỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------

NGUYỄN THỊ HẰNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ
PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN
LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Hà Nội - 2017

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
--------------------



LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn
sâu sắc đến:
Ban giám hiệu trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa sau đại học đã tạo mọi
điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứ tại trường.
Các thầy giáo, cô giáo trong khoa Pháp luật kinh tế trường Đại học Luật Hà
Nội đã tận tình chỉ bảo cho tôi suốt quá trình học tập, nghiên cứ tại trường.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Hồng Nhung, là người
trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành luận
văn này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo của Ủy ban nhân dân quận Long
Biên, Phòng hành chính tư pháp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và cung cấp đầy đủ
các thông tin, số liệu, tư liệu bản đồ trong quá trình nghiên cứu luận văn này.
Cuối cùng tôi xin trân trọng cảm ơn Ban cán sự lớp cùng toàn thể các bạn
học trong lớp CH23UD kinh tế đã giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập,
nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Tác giả Luận văn

Nguyễn Thị Hằng


MỤC LỤC
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ....................................................................................2
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ......................................3
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn...................................4
5. Các phương pháp nghiên cứu sử dụng để thực hiện luận văn ................................5
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ...........................................................5
7. Bố cục của luận văn ................................................................................................6

Long Biên, thành phố Hà Nội ...................................................................................43
2.3.1. Những kết quả đạt được ..................................................................................43
2.3.2. Những hạn chế bất cập và nguyên nhân .........................................................47
Kết luận chương 2.....................................................................................................50
Chƣơng 3. CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI TỪ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ
NỘI ...........................................................................................................................58
3.1. Các yêu cầu đặt ra cho việc hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật hòa giải
tranh chấp đất đai ......................................................................................................58
3.2. Các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật hòa giải tranh
chấp đất đai từ thực tiễn tại địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội…………61
3.2.1. Kiến nghị về xây dựng pháp luật ....................................................................61
3.2.2. Kiến nghị về thực hiện pháp luật ....................................................................65
Kết luận chương 3 .....................................................................................................71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
PHỤ LỤC 4


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về
quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai.
Tranh chấp đất đai thể hiện dấu ấn mạnh mẽ trong các thời kỳ lịch sử khác nhau của

trong nhiều năm, khiếu kiện kéo dài và làm giảm lòng tin của người dân đối với
đường lối, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Do đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về
hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết đất đai thông qua
hòa giải, trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm
quyền và lợi ích cho công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và
thực tiễn hiện nay. Với nhận thức đó cùng với thực tiễn nghiên cứu, tìm hiểu các vụ
việc hòa giải tranh chấp đất đai đã, đang được cấp cơ sở tại địa bàn quận Long Biên
tiếp nhận và giải quyết, học viên đã lựa chọn vấn đề "Pháp luật về hòa giải tranh
chấp đất đai và thực tiễn thi hành trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà
Nội" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tranh chấp đất đai và giải quyết tranh chấp về đất đai thông qua con đường
hòa giải tiếp cận dưới góc độ pháp lý là một vấn đề không mới ở nước ta. Thời gian
qua đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề này được công bố.
Ở cấp độ khóa luận tốt nghiệp, nội dung hòa giải tranh chấp đất đai được một
số cử nhân tiếp cận như: Nguyễn Đức Anh với đề tài “Hoạt động giải quyết tranh
chấp đất đai tại tỉnh Nghệ An”; Tăng Xuân Thu với đề tài “Tranh chấp đất đai và
giải quyết tranh chấp đất đai”; Phạm Thị Nguyên Anh với đề tài “Tìm hiểu các quy
định của Luật đất đai 2003 về giải quyết tranh chấp đất đai”;...
Ở cấp độ luận văn và các bài viết chuyên sâu có thể kể đến một số công trình
nghiên cứu tiêu biểu sau: Bài viết của Trương Thế Côn trên Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật số 3/2012 “Những bất cập trong quy định của pháp luật về tranh chấp và
giải quyết tranh chấp đất đai”; “Tranh chấp đất đai: nhìn nhận qua một đợt khảo
sát thực tế” của Phạm Hữu Nghị trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 2/2010;
Luận văn thạc sĩ luật học “Giải quyết tranh chấp đất đai qua thực tiễn ở Hà Nội”
của Hồ Xuân Hương; Tài liệu Hội thảo khoa học: Cải cách pháp luật và cải cách tư


3

4

Đánh giá về việc thực hiện pháp luật trong công tác hòa giải tại UBND
phường trên địa bàn quận Long Biên giai đoạn từ 2014- 2016. Một số nội dung số
liệu cập nhật đến hết quý II/2017.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: trong địa giới hành chính của quận Long Biên, thành phố Hà
Nội.
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu được thực hiện trên các nguồn số liệu được tổng
hợp từ năm 2014 đến hết quý II/2017 của quận Long Biên.
- Phạm vi về nội dung: Hòa giải bao gồm hòa giải trong tố tụng và hòa giải ngoài tố
tụng, hòa giải ngoài tố tụng được phân loại thành nhiều nhánh nhỏ khác nhau. Với
dung lượng hạn chế của một luận văn thạc sỹ, tác giải tập trung nghiên cứu Hòa giải
tại Ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp đối với các tranh chấp
về đất đai theo quy định của Luật đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐCP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
đất đai.
4. Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài mà tác giả đã lựa chọn, mục tiêu tổng quát của luận văn là hướng
tới việc nhìn nhận đánh giá một cách khách quan và toàn diện hiệu quả của việc
thực hiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai trên thực tế địa bàn quận Long
Biên, thành phố Hà Nội. Qua đó hoàn thiện chính sách pháp luật về đất đai, giúp
giảm tải cho các cơ quan tố tụng trong quy trình tố tụng tranh chấp về đất đai.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:
- Lý giải những vấn đề lý luận chung về hòa giải tranh chấp đất đai và thực
hiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai.
- Đánh giá các quy định của pháp luật thông qua việc tìm hiểu, phân tích các
quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng các quy định về hòa giải tranh chấp
đất đai tại địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

Ở một mức độ nhất định, luận văn này có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho một số cơ quan khi xây dựng, hoạch định chính sách và pháp luật về
hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã, phường, thị trấn. Kết quả nghiên cứu cũng có


6

thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy tại các trường
học và cho các tổ chức, cá nhân muốn tìm hiểu, quan tâm đến lĩnh vực pháp luật về
hòa giải tranh chấp đất đai nói chung và hòa giải tranh chấp đất đai tại cấp xã,
phường, thị trấn nói riêng.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật hòa giải tranh chấp đất đai và
thực hiện pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về hòa giải
tranh chấp đất đai trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật
về hòa giải tranh chấp đất đai từ thực tiễn thi hành tại quận Long Biên, thành phố
Hà Nội.


7

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT HÒA GIẢI TRANH
CHẤP ĐẤT ĐAI VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI
TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI
1.1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật hòa giải tranh chấp đất đai

Tranh chấp đất đai biểu hiện ở các dạng khác nhau (Tranh chấp đất đường đi,
ngõ xóm, ranh giới đất ở, đất vườn, đất sản xuất thuộc quyền sử dụng của các hộ gia
đình, các tranh chấp còn liên quan đến những vùng đất bãi ven sông, ven biển có
khả năng khai thác các nguồn lợi thuỷ sản; tranh chấp về hợp đồng chuyển quyền sử
dụng đất khi các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thực hiện các giao dịch chuyển quyền
sử dụng đất cho nhau; tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất; tranh chấp liên
quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất...). Mục đích
và tính chất của mỗi tranh chấp cũng không giống nhau song chúng đều bắt nguồn
từ những bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan
hệ đất đai. Và mâu thuẫn, bất đồng của các chủ thể đó của các bên hoặc nhiều bên
không thể tự mình điều hòa được thì tranh chấp nảy sinh và phải cần đến sự can
thiệp của Nhà nước, cộng đồng và xã hội. Theo đó, tranh chấp đất đai được hiểu là:
Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng
đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai [Khoản 24 Điều 3 Luật đất đai
năm 2013]
Các tranh chấp đất đai có những đặc điểm chính sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của tranh chấp đất đai không có quyền sở hữu đối với đất
đai mà chỉ là chủ thể quản lý và sử dụng đất bao gồm hai hoặc nhiều bên trong quan
hệ đất đai. Nguyên nhân do chế độ sở hữu đất đai ở nước ta mang tính đặc thù: Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu; các tổ chức trong nước,
tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, hộ gia đình, cá
nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo với tư cách là chủ thể sử dụng đất được Nhà
nước xác lập quyền sử dụng đất thông qua các hình thức giao đất, cho thuê đất,
nhận quyền sử dụng đất và công nhận quyền sử dụng đất, do vậy mà chủ thể tranh
chấp đất đai không có quyền sở hữu đất đai.
Thứ hai, đối tượng của tranh chấp đất đai không phải là đất đai (vật) mà là
các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất (quyền và nghĩa vụ sử dụng vật). Đối


9


10

Về bản chất của hòa giải, theo Từ điển Luật học “Hòa giải là tự chấm dứt
việc xích mích, tranh chấp giữa các bên bằng sự thương lượng với nhau hoặc qua
sự trung gian của một người khác. Hòa giải thành thì giữ gìn được sự đoàn kết giữa
các bên, tranh được việc kiện tụng kéo dài, tốn kém và những trường hợp chỉ vì
mâu thuẫn nhỏ mà biến thành việc hình sự” [1].
Trong Từ điển Pháp lý của Rothenberg, hòa giải là hành vi thỏa hiệp giữa
các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít. Còn Từ điển Luật học của
Black cho rằng hòa giải là sự can thiệp; sự làm trung gian hòa giải; hành vi của
người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục dàn xếp hoặc
tranh chấp giữa họ. Định nghĩa của Rothenberg đã nêu được bản chất của hòa giải
nhưng chưa nêu được hành vi, vai trò trung gian của bên thứ ba trong hòa giải. Điều
này đã khắc phục được trong Từ điển Luật học của Black.
Từ những phân tích trên cho thấy hòa giải có ba yếu tố: thứ nhất, phải có
tranh chấp giữa hai bên; thứ hai, có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết
tranh chấp thông qua việc nhượng bộ của mỗi bên; thứ ba, trong quá trình hòa giải
phải có sự tham gia của bên thứ ba trung lập cho ý kiến tư vấn đồng thời công nhận
thủ tục hòa giải thành giữa các bên trong tranh chấp. Nếu không có sự tham gia của
bên thứ ba thì quá trình này không được gọi là hòa giải mà đó chỉ được coi là biện
pháp thương lượng giữa các bên.
Như vậy, hòa giải tranh chấp đất đai là biện pháp pháp lý giải quyết các
tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất, theo đó bên thứ ba độc lập giữ vai trò
trung gian trong việc giúp các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích
hợp cho việc giải quyết các tranh chấp về quyền, lợi ích liên quan đến quyền sử
dụng đất và thương lượng với nhau về việc giải quyết quyền lợi của mình.
Hòa giải tranh chấp đất đai có các đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, có thể nói, tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp
dân sự, do có đối tượng của tranh chấp là quyền sử dụng đất. Do vậy, bên cạnh

người dân trong cùng một địa phương nên để việc hòa giải có hiệu quả thì tùy theo
trường hợp mà hòa giải có thể được trao cho cộng đồng, chính quyền địa phương
hoặc cơ quan tư pháp. Vấn đề quan trọng là cần phải thiết lập được cơ chế chuyển
hóa giữa kết quả hòa giải cơ sở, chính quyền địa phương và quyết định tư pháp do
Tòa án thực hiện có giá trị cưỡng chế thi hành.


12

Khi tranh chấp đất đai xảy ra, cách thức xử lý đầu tiên mà các bên phải sử
dụng là tự hòa giải hay còn gọi là thương lượng. Thực chất đây là việc các bên
tranh chấp tiến hành gặp gỡ, trao đổi, thỏa thuận với nhau để đạt được tiếng nói
chung, xóa bỏ bất đồng, xung đột về lợi ích nhằm giải quyết ổn thỏa vụ việc. Điểm
đặc biệt của hình thức này là chưa có sự tham gia của người thứ ba nên chỉ mang
tính chất nội bộ. Nhà nước cũng không có sự can thiệp nào ở giai đoạn này, chính vì
vậy, tự hòa giải chỉ thành công khi các bên thực sự có thiện chí, thông cảm và tôn
trọng lẫn nhau. Đây là hình thức để phát huy truyền thống đoàn kết, tinh thần tương
thân tương ái, xây dựng nếp sống văn hóa ở khu dân cư, đảm bảo cho các hình thức
giải quyết tranh chấp khác phát huy hiệu quả và giảm tải cho các cơ quan có thẩm
quyền thì tự hòa giải là một biện pháp luôn luôn được Nhà nước khuyến khích thực
hiện. Nếu các bên không tự thỏa thuận được thì việc giải quyết tranh chấp đất đai có
thể được thực hiện thông qua hòa giải tại tổ hòa giải cơ sở.
Hòa giải ở tổ hòa giải cơ sở thực chất là hình thức hòa giải của đại diện
cộng đồng dân cư, theo đó hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục các bên
tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những tranh chấp
nhằm phát huy những tình cảm, đạo lý tốt đẹp trong gia đình và cộng đồng. Hình
thức hòa giải ở cơ sở này được thực hiện thông qua hoạt động của tổ hòa giải hoặc
bằng sự tham gia của các tổ chức xã hội khác và được Nhà nước tạo điều kiện và
khuyến khích thực hiện, nhằm đảm bảo phát huy tối đa ưu thế và hiệu quả của hoạt
động này.

xã, phường, thị trấn thực hiện nói trên thể hiện tập trung ở các khía cạnh sau:
- Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn
có thể được coi là một trong những điều kiện để Tòa án có thẩm quyền xem xét thụ
lý, giải quyết tranh chấp đất đai.
- Giá trị pháp lý của hòa giải tranh chấp đất đai thực hiện tại Ủy ban nhân
dân cấp xã, phường, thị trấn biểu hiện ở chỗ cơ quan nhà nước có thẩm quyền có sự
công nhận đối với kết quả hòa giải tranh chấp. Trong đó điểm đặc biệt là đối với
trường hợp hòa giải thành mà có thay đổi hiện trạng về ranh giới, chủ sử dụng đất thì
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn gửi biên bản hòa giải đến Phòng Tài nguyên
và Môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường để các cơ quan này trình Ủy ban nhân
dân cùng cấp quyết định việc công nhận thay đổi ranh giới thửa đất và cấp mới giấy


14

chứng nhận quyền sử dụng đất.
Cần phải nhấn mạnh rằng, việc hòa giải tranh chấp đất đai như trên thực
hiện không phải là việc giải quyết tranh chấp đất đai của các cơ quan có thẩm
quyền. Ở đây cấp xã, phường, thị trấn không phải là một cấp giải quyết tranh
chấp đất đai, mà chỉ đóng vai trò trung gian hòa giải, giúp đỡ, hướng dẫn các bên
tranh chấp đạt được thỏa thuận, xử lý giải quyết ổn thỏa tranh chấp.
Do đó, cần tránh khuynh hướng coi hòa giải tranh chấp đất đai của Ủy ban
nhân dân cấp xã như là một cấp giải quyết tranh chấp, để từ đó coi nhẹ trách nhiệm
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, cũng như khiến
cho việc hòa giải đó không đạt hiệu quả như mong muốn.
Có thể thấy việc tổ chức hòa giải tại cơ sở, tại Ủy ban nhân dân xã, phường
hay hòa giải trong tố tụng có những điểm khác biệt nhất định. Cụ thể:
Tiêu chí

Hòa giải cơ sở


kiện: Như đòi hủy

tranh chấp về quyền sở

Hợp đồng chuyển

hữu, nghĩa vụ dân sự,

nhượng

hợp đồng dân sự, thừa

tranh chấp về thừa

kế, quyền sử dụng đất;

kế, lối đi riêng, bồi

tranh chấp phát sinh từ

thường

quan hệ hôn nhân và

ngoài hợp đồng, ....

gia đình; vi phạm pháp

- Chỉ diễn ra trong


thực hiện. Hội đồng và do cơ quan tư

việc

hòa giải tranh chấp pháp tiến hành. Cụ

giải

hòa

đất đai thực hiện. Cơ thể là Thẩm phán và
cấu thành phần Hội thư ký thụ lý hồ sơ
đồng gồm: Chủ tịch khởi kiện.
hoặc Phó Chủ tịch
UBND là Chủ tịch
Hội đồng; đại diện
Ủy ban MTTQ xã,
phường, thị trấn; tổ
trưởng tổ dân phố đối
với khu vực đô thị;
trưởng thôn, ấp đối
với khu vực nông
thôn; đại diện của
một số hộ dân sinh
sống lâu đời tại xã,
phường, thị trấn biết


16


bên có thể thỏa thuận tranh chấp đất đai lập thành biên bản.
lập văn bản hòa giải phải được lập thành - Kết quả hòa giải
thành; nếu hòa giải biên bản. Biên bản thành được Tòa án
không thành thì các bên hòa giải phải có chữ ghi nhận có giá trị
có quyền yêu cầu cơ ký của Chủ tịch Hội thi hành theo thủ tục
quan, tổ chức có thẩm đồng, các bên tranh thi hành án dân sự.
quyền giải quyết theo chấp có mặt tại buổi
quy định của pháp luật.

hòa giải, các thành
viên tham gia hòa
giải và phải đóng dấu
của UBND cấp xã;
đồng thời phải được
gửi ngay cho các bên
tranh chấp và lưu tại
UBND cấp xã.


17

Thứ năm, hòa giải tranh chấp đất đai được coi là một thủ tục tố tụng bắt
buộc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án
Hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai của Tòa án phải tuân theo những
nguyên tắc do pháp luật tố tụng dân sự quy định. Tại Chương II Những nguyên tắc
cơ bản của Bộ luật tố tụng dân sự có quy định về hòa giải trong tố tụng dân sự.
Theo đó hòa giải là trách nhiệm của Tòa án nhằm giúp đỡ đương sự thỏa thuận với
nhau.
Theo truyền thống tố tụng dân sự ở Việt Nam thì hòa giải có tính bắt buộc

việc giải quyết vụ án.
Thứ sáu, hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành trên cơ sở tôn trọng
quyền định đoạt của các đương sự có tranh chấp
Mặc dù hòa giải tranh chấp đất đai là một hoạt động do tổ hòa giải hoặc
chính quyền cơ sở hoặc Tòa án tiến hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa
thuận của các đương sự. Chỉ có các đương sự có tranh chấp mới có quyền thỏa
thuận, thương lượng với nhau về tất cả những vấn đề đang cần giải quyết trong vụ
án, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Họ
là người hiểu rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ.
Khi tham gia vào quá trình hòa giải tranh chấp đất đai, các đương sự có
quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bất đồng về quyền lợi
của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện ý chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên
ngoài trái với ý muốn của các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được
công nhận. Tổ hòa giải, chính quyền cơ sở hoặc Tòa án không được cưỡng ép, bắt
buộc đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa
họ.
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của hòa giải tranh chấp đất đai
Hòa giải tranh chấp đất đai là một biện pháp mềm dẻo, linh hoạt và hiệu
quả nhằm giúp cho các bên tranh chấp tìm ra một giải pháp thống nhất để tháo gỡ
những mâu thuẫn, bất đồng trong tranh chấp đất đai trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa
thuận.
Trong hoạt động giải quyết tranh chấp đất đai nói riêng, hòa giải có tầm
quan trọng đặc biệt. Nếu hòa giải thành, có nghĩa là tranh chấp sẽ kết thúc, không


19

những hạn chế được sự phiền hà, tốn kém cho các bên đương sự mà còn giảm bớt
được công việc đối với Tòa án, phù hợp với đạo lý tương thân, tương ái của dân tộc,
giữ được tình làng, nghĩa xóm, đảm bảo đoàn kết trong nội bộ nhân dân. Đồng thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status