BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THU HƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC
CẤP PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
HÀ NỘI, NĂM 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THU HƯƠNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC
CẤP PHƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN TRỊ KINH DOANH
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Chu Thị Kim Loan,
người đã trực tiếp hướng dẫn tôi rất tận tình, chu đáo trong suốt quá trình nghiên cứu
và thực hiện luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo Khoa Kế toán và quản
trị kinh doanh, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dành nhiều tâm huyết để
truyền đạt những kiến thức quí báu về chuyên ngành Quản trị kinh doanh cho
chúng tôi.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể cán bộ, chuyên viên Phòng nội vụ,
Phòng Thống kê; Phòng tài nguyên môi trường, phòng kinh tế, trung tâm
dân số KHHGĐ, Trung tâm y tế Quận Long Biên, UBND các phường đã tạo
mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình khảo sát, thu thập và xử lý số liệu, tài
liệu liên quan để xây dựng luận văn.
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những người
đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại Học
viện Nông nghiệp Việt Nam.
Hà Nội, ngày
tháng
năm 2015
Tác giả luận văn
Lê Thu Hương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
phương trong nước: ........................................................................................... 36
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
2.2.2 Bài học cho quận Long Biên trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ công
chức phường ...................................................................................................... 39
2.2.3 Những nghiên cứu liên quan đến đề tài: .................................................... 41
3. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...................... 43
3.1 Khái quát đặc điểm cơ bản về Quận Long Biên ........................................... 43
3.1.1 Điều kiện tự nhiên .................................................................................... 43
3.1.2 Kết quả phát triển kinh tế Quận Long Biên .............................................. 50
3.1.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Quận Long Biên. .............. 53
3.2 Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 55
3.2.1 Phương pháp thu thập thông tin ................................................................ 55
3.2.2 Phương pháp tính toán và tổng hợp số liệu................................................ 57
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu ................................................................. 57
3.2.4 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu về công chức cấp phường ..................... 58
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .............................................. 60
4.1 Thực trạng chất lương công chức cấp phường Quận Long Biên ................... 60
4.1.1 Đặc điểm cơ bản của đội ngũ cán bộ công chức cấp phường trên địa bàn
Quận Long Biên, thành phố Hà Nôi................................................................... 60
4.1.2 Chất lượng công chức cấp phường trên điạ bàn Quận Long Biên .............. 64
4.1.3 Đánh giá của người dân và lãnh đạo về chất lượng công chức phường .............. 74
4.1.4 Đánh giá chung ........................................................................................ 79
4.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ công chức cấp phường
thuộc Quân Long Biên ....................................................................................... 83
4.2.1 Điều kiện làm việc, công tác cán bộ và chính sách .................................... 83
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCH
: Ban chấp hành
BNV
: Bộ nội vụ
CP
: Chính phủ
CTr
: Chương trình
CBCC
: Cán bộ công chức
CNXH
: Chủ nghĩa xã hội
CNCS
: Chủ nghĩa cộng sản
: Kế hoạch hóa giá đình
LLLĐ
: Lực lượng lao động
NĐ
: Nghị định
QU
: Quận ủy
QĐ
: Quyết định
QLNN
: Quản lý nhà nước
UB MTTQ
: Ủy ban mặt trận tổ quốc
UBND
: Ủy ban nhân dân
4.11 Đánh giá của người dân về khả năng giải quyết công việc của công
chức phương thuộc Quận Long Biên ........................................................ 75
4.12 Đánh giá của người dân về tinh thần thái độ phục vụ của công chức
phường thuộc Quận Long Biên ................................................................ 75
4.13 Đánh giá của lãnh đạo Quận về chất lượng công chức phường Quận
Long Biên ................................................................................................ 79
4.14 Nhận xét và đánh giá của cán bộ Quận về điều kiện làm việc, công tác
cán bộ và chính sách đối với công chức phường....................................... 84
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC BIỂU
STT
Tên biểu
Trang
3.1 Mật độ dân số Long Biên so với các quận nội thành ........................... 48
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong
xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động thi
hành nhiệm vụ, công vụ. Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy chính quyền cấp xã
nói riêng và hệ thống chính trị nói chung, xét đến cùng được quyết định bởi
phẩm chất, năng lực và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ, công chức cở
sở. Có thể nói, đây là vấn đề đặc biệt quan trọng đã được Đảng và Nhà
nước quan tâm trong suốt quá trình từ khi xây dựng Nhà nước dân chủ
nhân dân đến nay. Cán bộ nói chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở
nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở… Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay
yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã,
phường, thị trấn.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
Cán bộ, công chức cấp xã góp phần quyết định sự thành bại của chủ
trương, đường lối và nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước. Không có
đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở vững mạnh thì dù đường lối, chủ trương
chính trị có đúng đắn cũng khó biến thành hiện thực. Cán bộ, công chức
cấp xã vừa là người trực tiếp đem các chủ trương, chính sách của Đảng và
pháp luật Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành, vừa là
người phản ánh nguyện vọng của quần chúng nhân dân đến với Đảng và
Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho đúng và phù hợp với
thực tiễn. Ở khía cạnh này, họ có vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước
với quần chúng nhân dân.
Cán bộ, công chức cấp xã có vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức
công việc của chính quyền cơ sở. Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ
nhân dân” (Văn kiện ĐH X tr.136). Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
của Đảng nhấn mạnh cần phải “xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong
sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới” (Văn kiện ĐH XI
tr.252). Qua đó cần phải “rà soát, bổ sung, hoàn thiện quy chế quản lý cán
bộ, công chức; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cả về bản
lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực điều hành, quản lý nhà nước”.
Có như thế mới tạo ra được một đội ngũ cán bộ, công chức “vừa hồng, vừa
chuyên” đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới.
Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có đủ trình độ chuyên
môn, nghiệp vụ, có năng lực tổ chức, điều hành, công tâm, thạo việc, tận
tụy với dân, biết phát huy sức mạnh tổng hợp của nhân dân, thực hiện tốt
quy chế dân chủ ở cơ sở, nâng cao trách nhiệm công tác, có bản lĩnh chính
trị vững vàng, có ý thức tổ chức kỷ luật và đạo đức trong thực thi nhiệm vụ,
công vụ nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc, góp phần vào sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh, chính trị và quốc phòng
trên địa bàn xã.
Cán bộ và công tác cán bộ luôn là “khâu then chốt trong vấn đề then
chốt” của toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng. Do vậy, xây dựng đội
ngũ cán bộ, công chức nhà nước nói chung, cán bộ, công chức cấp xã nói
riêng vững mạnh là công việc hết sức quan trọng và đòi hỏi phải làm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
thường xuyên, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước hiện nay. Đảng ta cũng đã khẳng định: “Xây dựng đội ngũ
cán bộ ngang tầm nhiệm vụ, có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất cách mạng,
có năng lực trí tuệ và tổ chức thực tiễn là việc làm vừa cơ bản, vừa cấp
tạo ra một sự chuyển biến về chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu Đảng bộ,
chính quyền quận Long Biên trở thành nhiệm vụ cấp thiết.
Với ý nghĩa trên, tôi xin chọn đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng
công chức cấp phường trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội"
làm luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung:
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng chất lượng công chức cấp phường
trên địa bàn Quận Long Biên, tìm ra những tồn tại hạn chế và nguyên nhân,
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức cấp
phường trên địa bàn Quận Long Biên.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng công chức
cấp phường.
- Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp phường trên
địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội; đánh giá ưu điểm, nhược điểm
và rút ra nguyên nhân ảnh hưởng tới chất lượng công chức cấp phường ở
địa bàn làm nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp
phường trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Chất lượng công chức cấp phường trên địa bàn quận Long Biên, thành
phố Hà Nội.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu về công chức phường trên địa bàn quận
Long Biên, thành phố Hà Nội giai đoạn 2012 - 2014.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
dân được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một
công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài
nước, đã được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.
Trên thực tế, mỗi quốc gia cũng có quan niệm khác nhau về công chức:
Ở Pháp, công chức bao gồm những người được tuyển dụng, bổ
nhiệm vào chính ngạch, làm việc thường xuyên ở các công sở, trong đó có
các cơ quan công quyền và các tổ chức sự nghiệp công, do Chính phủ trung
ương thống nhất quản lý, không tính các công chức thuộc chính quyền địa
phương; sĩ quan quân đội và những người phục vụ trong quân đội không
phải là công chức.
Ở Nhật Bản, công chức được phân thành hai loại chính, gồm công
chức nhà nước và công chức địa phương: “Công chức nhà nước gồm những
người được nhậm chức trong bộ máy của Chính phủ trung ương, ngành tư
pháp, quốc hội, quân đội, trường công và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và
đơn vị sự nghiệp quốc doanh được lĩnh lương của ngân sách nhà nước.
Công chức địa phương gồm những người làm việc và lĩnh lương từ tài
chính địa phương”.
Ở Trung Quốc, từ năm 1989 đã tổng kết từ những kinh nghiệm thất
bại của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, đồng thời đã nghiên cứu về
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
nguồn gốc của chế độ công chức, coi đó là một khoa học trong quản lý của
Nhà nước hiện đại khi tồn tại cơ chế thị trường.
Khái niệm công chức ở Trung Quốc được hiểu là: "Công chức nhà
nước là những người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp,
trừ nhân viên phục vụ. Công chức gồm hai loại:
chịu sự điều hành của Luật công chức.
Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính định nghĩa công chức là:
“Người được tuyển dụng và bổ nhiệm vào làm việc trong một cơ quan của
Nhà nước ở trung ương hay ở địa phương, làm việc thường xuyên, toàn bộ
thời gian, được xếp vào ngạch của hệ thống ngạch bậc, được hưởng lương từ
ngân sách Nhà nước, có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ của Nhà nước”.
Định nghĩa này bao quát được các điều kiện để trở thành công chức là:
- Được tuyển dụng và bổ nhiệm để làm việc thường xuyên;
- Làm việc trong công sở;
- Được xếp vào một ngạch của hệ thống ngạch bậc;
- Được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước;
- Có tư cách pháp lý khi thi hành công vụ.
2.1.2 Khái niệm và chức trách nhiệm vụ của công chức phường ở Việt Nam
2.1.2.1 Khái niệm về công chức
Ở Việt Nam do lịch sử hình thành đội ngũ cán bộ - công chức có đặc
điểm khác với các nước trên thế giới, những người làm việc ở các cơ quan
nhà nước, cơ quan đảng, toàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống
chính trị do Đảng lãnh đạo, vì vậy phạm vi khái niệm công chức có thể mở
rộng hơn so với các nước khác.
Thời kỳ trước đây ở nước ta không có khái niệm công chức mà chỉ
có một nhóm gọi chung là “cán bộ, công chức, viên chức”. Khái niệm công
chức bắt đầu được đề cập, quan tâm đến từ năm 1991. Tuy nhiên đến năm
1998 chúng ta mới có Pháp lệnh Cán bộ, công chức và đến năm 2008 Luật
Cán bộ, công chức được thông qua và có hiệu lực từ 01/01/2010.
Ở nước ta, ngay từ ngày đầu thành lập nước, công chức đã được coi
là những người được tuyển dụng vào bộ máy nhà nước phục vụ nhân dân
và quốc gia. Họ là những “công bộc” của nhân dân. Theo Sắc lệnh số
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
người từ vấn đắc lực và những người tổ chức giỏi để tham gia vào những
quyết định và thực hiện những quyết định của bộ máy nhà nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ nước ta chuyển
đổi nền kinh tế (1986) và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
(CNH, HĐH), nhằm xây dựng và hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức,
trong văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam ngày 25-8-1995 về việc xây dựng Dự thảo Pháp lệnh
cán bộ, công chức đã nêu: "Ở nước ta, sự hình thành đội ngũ cán bộ, công
chức có đặc điểm khác các nước. Cán bộ, công chức làm việc trong các cơ
quan Nhà nước, Đảng, đoàn thể là một khối thống nhất trong hệ thống
chính trị do Đảng lãnh đạo. Bởi vậy cần có một Pháp lệnh có phạm vi điều
chỉnh chung đối với cán bộ, công chức trong toàn bộ hệ thống chính trị, bao
gồm: Công chức nhà nước (trong đó công chức làm việc ở cơ quan quân
đội, cảnh sát, an ninh...), cán bộ làm việc chuyên trách ở các cơ quan Đảng,
đoàn thể”. Ngày 26-12-1998, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành
Pháp lệnh cán bộ, công chức, gồm 7 chương, 48 điều. Trước yêu cầu củng
cố và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức nhằm đáp ứng yêu cầu thời
kỳ mới, cho đến nay Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đã 2 lần sửa đổi, bổ sung
một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Lần thứ nhất vào ngày 28-42000; Lần thứ 2, thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), Chính phủ
đã đề nghị Uỷ ban Thường vụ Quốc hội điều chỉnh, bổ sung một số điều
của Pháp lệnh cán bộ, công chức và thông qua ngày 29-4-2003. Pháp lệnh
cán bộ, công chức (2003) là sự điều chỉnh chung đối với cả cán bộ, công
chức làm trong các cơ quan Đảng, đoàn thể; công chức trong các cơ quan
HCNN; công chức xã, phường; thị trấn; viên chức trong các đơn vị sự
quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm
việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định
06/2010/NĐ-CP”.
2.1.2.2 Khái niệm về công chức cấp phường
Hiện nay thuật ngữ CBCC cấp phường hay gọi chung là CBCC cấp
cơ sở được hiểu theo hai nghĩa:
Theo nghĩa rộng, CBCC cấp phường là những người làm việc của
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
nhà nước ở cấp phường được nhà nước trả một khoản nhất định liên quan
đến phụ cấp làm việc; chế độ lương, bảo hiểm. Với nghĩa này, ở cấp
phường có rất nhiều người và bình quân một phường (xã, phường, thị trấn)
có khoảng 40 người. Đó là những người làm việc cho chính quyền cấp
phường đến những người tham gia các hoạt động mang tính thường xuyên
và không thường xuyên. Phụ cấp của họ lấy từ ngân sách nhà nước hoặc có
nguồn gốc từ ngân sách nhà nước. Bao gồm các đối tượng:
- Cán bộ cấp phường;
- Công chức cấp phường;
- Những người hoạt động không chuyên trách.
Theo nghĩa hẹp, đó là thuật ngữ để chỉ những người làm việc cho các
cơ quan quản lí nhà nước ở cấp phường. Theo quy định của Nghị định
92/2009/NĐ-CP, đối tượng này được quy định không quá 21- 25 người tùy
từng loại cấp phường.
2.1.2.3. Hệ thống chức danh cán bộ, công chức cấp phường
Theo quy định tại Điều 4 Luật cán bộ, công chức (2008), Điều 3
Nghị định 92/2009/NĐ-CP thì:
6.
Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân
7.
Chủ tịch UBMTTQ
8.
Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
9.
Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam
10.
Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam
11.
Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam
Công chức cấp xã, phường là công dân Việt Nam được tuyển dụng
giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã,
phường trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Bao gồm:
07 chức danh, cụ thể như sau:
1.
này, tác giả tiếp cận theo nghĩa hẹp của khái niệm CBCC cấp phường.
Điều cần thống nhất xuyên suốt là CBCC cấp phường cũng là người lao
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
động làm việc cho nhà nước, có thẩm quyền, chức năng do nhà nước phân
công, phân nhiệm và chịu sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật nhà
nước có liên quan đến người lao động nói chung và CBCC nói riêng.
2.1.2.4 Chức trách, nhiệm vụ của công chức cấp phường
Hiện tại, chức trách, nhiệm vụ của công chức cấp xã, phường tại
Quyết định số 04/2004/QĐ-BNV ngày 16 tháng 01 năm 2004 của Bộ
trưởng Bộ Nội vụ như sau:
Công chức làm công tác chuyên môn thuộc UBND cấp xã, phường;
có trách nhiệm giúp UBND cấp xã, phường quản lý Nhà nước về lĩnh vực
công tác (Tài chính, Tư pháp, Địa chính, Văn phòng, Văn hoá -Xã hội,
Công an, Quân sự) và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp
xã, phường giao.
- Đối với công chức Tài chính Kế toán:
+ Xây dựng dự toán thu chi ngân sách trình cấp có thẩm quyền phê
duyệt, giúp UBND trong việc tổ chức thực hiện dự toán thu, chi ngân sách,
quyết toán ngân sách, kiểm tra hoạt động tài chính khác của xã, phường.
+ Thực hiện quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tài sản công
tại xã, phường, thị trấn theo quy định.
+ Tham mưu cho UBND trong khai thác nguồn thu, thực hiện các
hoạt động tài chính ngân sách đúng quy định của pháp luật.
+ Kiểm tra các hoạt động tài chính, ngân sách theo đúng quy định,
tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của cơ quan tài chính cấp trên.
+ Thực hiện chi tiền theo lệnh chuẩn chi; thực hiện theo quy định về