1. Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền nông nghiệp thế giới, trang trại (mà chủ yếu là trang trại gia
đình) là một hình thức tổ chức sản xuất có vai trò hết sức quan trọng trong hệ
thống nông nghiệp của mỗi nớc. ở các nớc phát triển, trang trại gia đình
có vai trò to lớn và có ý nghĩa quyết định trong sản xuất nông nghiệp, sản
xuất ra tuyệt đại bộ phận nông sản phẩm cho xã hội.
ở Việt Nam, kinh tế trang trại mới phát triển trong những năm gần
đây, từ khi nớc ta chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của nhà
nớc, mục tiêu là công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH - HĐH) đất nớc,
song lấy nông nghiệp là khâu đột phá. Đặc biệt là sau Nghị quyết 10 của Bộ
Chính trị (tháng 4/1988) về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, quan hệ
sản xuất trong nông nghiệp nớc ta đợc điều chỉnh một bớc. Và đến Nghị
quyết VI của Ban Chấp hành Trung ơng (khoá VI - tháng 3/1989) về sự
phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra
đời của kinh tế trang trại. Hơn nữa sau khi có Luật đất đai ra đời (năm 1993)
quy định 5 quyền sử dụng đất thì kinh tế trang trại thực sự phát triển nhanh
và đa dạng.
Mặc dù mô hình kinh tế trang trại nớc ta mới phát triển nhng có vị
trí quan trọng và đã thể hiện vai trò tích cực cả về mặt kinh tế, xã hội và môi
trờng.
Trên nhiều vùng các trang trại đã góp phần tích cực phát triển các loại
cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao, khắc phục dần tình trạng sản xuất
phân tán, manh mún. Phát triển kinh tế trang trại gắn liền với việc khai thác
và sử dụng một cách đầy đủ và hiệu quả các nguồn lực trong nông nghiệp
nông thôn, đặc biệt là đất đai và tiền vốn. Do vậy phát triển kinh tế trang trại
ở nớc ta bớc đầu góp phần tích cực thúc đẩy sự tăng trởng và phát triển
của nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
-1-
-2-
Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là làm thế nào để khai thác sử dụng
tốt các các lợi thế so sánh (đất đai, vốn, lao động,) nâng cao hiệu quả kinh
tế của trang trại huyện Gia Lâm. Để góp phần nhỏ bé của mình vào phát
triển kinh tế trang trại của huyện, chúng tôi thực hiện đề tài:
Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại
trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung:
- Nghiên cứu, đánh giá đúng hiệu quả kinh tế trang trại ở Gia Lâm, đề
xuất giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại trên địa
bàn huyện Gia Lâm cho những năm tiếp theo..
* Mục tiêu cụ thể:
- Góp phần hệ thống hoá cơ sở lý luận về trang trại, kinh tế trang trại,
nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại
- Đánh giá hiệu quả kinh tế các trang trại, tìm ra các nguyên nhân ảnh
hởng đến hiệu quả kinh tế trang trại huyện Gia Lâm.
- Đề xuất định hớng, giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại
trên địa bàn huyện Gia Lâm.
1.3. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
*Đối tợng nghiên cứu: các trang trại chăn nuôi, thuỷ sản, tổng hợp
trên địa bàn huyện Gia Lâm
* Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: nghiên cứu hiệu quả kinh tế trang trại
trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2005.
- Phạm vi không gian: trên địa bàn huyện Gia Lâm thành phố Hà Nội
-3-
-4-
của từng đơn vị diện tích, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao mức sống
và chất lợng cuộc sống của mọi ngời tham gia [17].
- Trang trại gia đình, thực chất là kinh tế hộ sản xuất hàng hoá với quy
mô lớn, sử dụng lao động tiền vốn của gia đình là chủ yếu để sản xuất kinh
doanh có hiệu quả [].
- Trang trại gia đình là loại hình cơ sở sản xuất nông nghiệp trong điều
kiện của nền kinh tế thị trờng từ khi phơng thức sản xuất t bản thay thế
phơng thức sản xuất phong kiến, khi bắt đầu cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ nhất ở một số nớc Châu Âu.
- Trang trại là một loại hình tổ chức sản xuất cơ sở trong nông lâm,
thuỷ sản, có mục đích sản xuất hàng hoá, có t liệu sản xuất thuộc sở hữu
hoặc quyền sử dụng của một chủ độc lập, sản xuất đợc tiến hành trên quy
mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ thuật cao, hoạt
động tự chủ và luôn gắn với thị trờng [20].
- Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở
lao động và đất đai của hộ gia đình là chủ yếu, có t cách pháp nhân, tự chủ
sản xuất kinh doanh bình đẳng với các thành phần khác, có chức năng chủ
yếu là sản xuất nông sản hàng hoá, tạo ra nguồn thu nhập chính và đáp ứng
nhu cầu cho xã hội [23].
- Kinh tế trang trại là một hình thức tổ chức kinh tế- hình thức tổ chức
sản xuất kinh doanh trong nông nghiệp (hiểu nông nghiệp theo nghĩa rộng
bao gồm nông, lâm, ng nghiệp) phổ biến đợc hình thành và phát triển trên
nền tảng kinh tế nông hộ. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại
có gắn với sự tích tụ tập trung các yếu tố sản xuất kinh doanh đất đai, lao
động, t liệu sản xuất- vốn, khoa học công nghệ, để nâng cao năng lực sản
xuất và sản xuất ra nhiều sản phẩm hàng hoá với năng suất, chất lợng và
hiệu quả cao [26].
- Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất hàng hóa lớn trong
nông, lâm, ng nghiệp của các thành phần kinh tế khác nhau ở nông thôn,
lâm, ng nghiệp làm mục đích sản xuất kinh doanh chính, trong đó có kết
-6-
hợp thêm ngành nghề, dịch vụ phụ trợ phi nông nghiệp của các thành phần
kinh tế khác nhau trong nông thôn, đợc hình thành chủ yếu trên cơ sở kinh
tế nông hộ, có quy mô sản xuất, thu nhập, giá trị và tỷ suất hàng hoá cao
vợt trội kinh tế nông hộ, có năng lực tổ chức quản lý và ứng dụng các tiến
bộ khoa học công nghệ mới vào hoạt động sản xuất kinh doanh mang lại
hiệu quả kinh tế cao, hoạt động tự chủ và luôn gắn với thị trờng.
2.1.1.2. Vị trí, vai trò của kinh tế trang trại
Trên thế giới, trải qua hàng thế kỷ đến nay trang trại gia đình đã xuất
hiện, đã tồn tại, phát triển ở các nớc công nghiệp phát triển và đang đợc
mở rộng, khuyến khích phát triển trên toàn thế giới. Trang trại gia đình đã có
đợc vị trí và vai trò quan trọng trong nền kinh tế ở mỗi đất nớc. Trớc hết,
trang trại gia đình đã và đang là lực lợng chủ yếu sản xuất ra các loại nông
sản, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con ngời; đối với các nớc đang phát
triển, kinh tế trang trại còn góp phần thu hút lao động, xoá đói giảm nghèo,
nâng cao thu nhập của nông dân.
Trong quá trình phát triển, kinh tế trang trại gia đình có thể đáp ứng
yêu cầu của các hình thức sở hữu khác nhau, với các quy mô khác nhau, các
trình độ khoa học - công nghệ khác nhau, thúc đẩy quá trình hiện đại hoá
nông nghiệp cùng với xu hớng chuyên môn hoá, tập trung hoá trong sản
xuất .
ở nớc ta, kinh tế trang trại mà chủ yếu là trang trại gia đình mới phát
triển trong những năm gần đây, song các nghiên cứu đã cho thấy vai trò tích
cực của nó thể hiện rõ nét cả về các mặt kinh tế, xã hội và môi trờng.
a. Về mặt kinh tế
Kinh tế trang trại có ý nghĩa quan trọng nhất đối với nền kinh tế đất
nớc nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn nói riêng. Các trang trại
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những sản phẩm có giá trị hàng
theo mô hình kinh tế thị trờng. Tuy nhiên nó chỉ hình thành và phát triển
khi có môi trờng pháp lý phù hợp và thuận lợi. Kinh tế trang trại phải đủ
điều kiện Nhà nớc công nhận về mặt pháp lý. ở nớc ta, một thời gian dài
-8-
chúng ta đã không thừa nhận trang trại là một bộ phận cấu thành hệ thống
nông nghiệp ở nớc ta. Sự công nhận địa vị pháp lý của kinh tế trang trại sẽ
tạo cơ sở pháp lý cho những ngời có nguồn lực yên tâm đầu t phát triển
sản xuất kinh doanh theo mô hình trang trại, đồng thời Nhà nớc sẽ tạo điều
kiện cần thiết cho kinh tế trang trại ra đời và phát triển.
- Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách để tập trung ruộng đất.
- Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến
- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trớc hết là giao
thông, thuỷ lợi.
- Có quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế xã hội
- Có sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế trong
hoạt động sản xuất nông, lâm ng nghiệp.
b. Các điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại
- Chủ trang trại phải là ngời có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề
nông, lâm, ng.
- Chủ trang trại phải có tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản xuất, về
trí thức và năng lực tổ chức sản xuất kinh doanh.
- Có sự tập trung nhất định về quy mô các yếu tố sản xuất trớc hết là
ruộng đất và tiền vốn.
- Quản lý sản xuất kinh doanh của trang trại phải dựa trên cơ sở hạch
toán và phân tích kinh doanh
2.1.1.3.2. Các nhân tố ảnh hởng đến hiệu quả kinh tế trang trại
a. Nhân tố tổ chức quản lý kinh tế trang trại
Quản lý trang trại là quá trình chủ trang trại tác động vào các đối
tợng bị quản lý từ khi đầu t đến khi đa sản phẩm ra tiêu thụ trên thị
quản lý trang trại, vì trong quá trình hoạt động luôn có những diễn biến xảy
ra, có những thông tin phản hồi từ các đối tợng bị quản lý, chủ trang trại
phải thờng xuyên kiểm tra giám sát nắm bắt thông tin và xử lý kịp thời
những sai phạm cũng nh ách tắc trong từng khâu công việc hàng ngày: tài
chính, kỹ thuật, lao động và thị trờng. Trên cơ sở đó điều chỉnh các chiến
-10-
lợc kinh doanh sát với tình hình thực tế. Nếu bỏ qua khâu này, sẽ khó có
đợc một kết quả sản xuất nh mục tiêu đề ra.
Tóm lại, công tác tổ chức quản lý trang trại là việc làm hàng ngày của
chủ trang trại chứ không ai khác, nên đòi hỏi phải có kiến thức về khoa học
quản lý nhất định. Để có đợc kiến thức chủ trang trại phải trải qua quá trình
đào tạo hoặc tự đào tạo thông qua học hỏi các chủ trang trại ở những trang
trại làm ăn giỏi.
b. Các nhân tố về điều kiện tự nhiên
Hoạt động sản xuất nông nghiệp diễn ra trên một không gian rộng lớn,
có điều kiện về tự nhiên, kinh tế giữa các vùng rất khác nhau. Chỉ có thể có
hoạt động sản xuất nông nghiệp khi ở đó có đất và các điều kiện tự nhiên
thuận lợi. Đây là đặc điểm riêng có của sản xuất nông nghiệp. Do vậy, nhân
tố ảnh hởng đầu tiên đến sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại là
điều kiện tự nhiên, bao gồm vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, nguồn nớc và các
điều kiện tự nhiên khác.
Vị trí địa lý là nhân tố quyết định đến điều kiện tự nhiên do vận động
kiến tạo của trái đất và vũ trụ. Mỗi vị trí địa lý có những điều kiện tự nhiên
nhất định, gắn với chất lợng đất đai, khí hậu, nguồn nớc và các điều kiện
tự nhiên khác. Vì vậy khi nghiên cứu kinh tế trang trại cần nghiên cứu điều
kiện tự nhiên, vì các điều kiện tự nhiên có ảnh hởng đến việc quy hoạch sản
xuất, bố trí cây trồng, vật nuôi. Đối với mỗi loại đất, kiểu khí hậu chỉ có thể
thích ứng đối với một số loại cây trồng, vật nuôi nhất định. Ruộng đất có hạn
nên qui trình sử dụng ruộng đất cần theo con đờng thâm canh, cải tạo bồi
sản xuất phù hợp với cầu về số lợng, thời gian thu hoạch. Có thể hợp đồng
về sơ chế và bao gói sản phẩm tại trang trại để đảm bảo chất lợng sản phẩm.
e. Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hóa
Sự hình thành các vùng sản xuất chuyên môn hoá sẽ tạo điều kiện
phát triển công nghiệp chế biến, thúc đẩy sự phát triển của kinh tế vùng nói
chung và kinh tế trang trại nói riêng. Trình độ chuyên môn hoá càng cao,
-12-
yêu cầu liên kết kinh tế càng lớn. Đó là biểu hiện của phân công lao động và
hiệp tác lao động trong sản xuất và là hai mặt của quá trình tổ chức sản xuất.
f. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển
kinh tế nói chung và kinh tế trang trại nói riêng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật bao
gồm hệ thống giao thông, thuỷ lợi, nguồn năng lợng kinh tế trang trại chỉ
có thể phát triển cao khi có đầy đủ các điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
phục vụ sản xuất.
g. Quản lý và sử dụng vốn
Vốn là điều kiện tiên quyết để các chủ trang trại thực hiện chiến lợc
sản xuất kinh doanh của mình, vốn của trang trại biểu hiện bằng tiền của tài
sản cố định bao gồm toàn bộ máy móc thiết bị, nhà cửa, vật kiến trúc, vật
nuôi sinh sản, lấy sữa, cây lâu năm cho sản phẩm. Vốn lu động biểu hiện
bằng tiền của tài sản lu động nh vốn bằng tiền, phân bón, thức ăn gia súc,
gia cầm, thuốc thú y và sản phẩm đang chờ tiêu thụ. Tuỳ theo từng loại
vốn mà chủ trang trại có các biện pháp quản lý khác nhau. Mỗi loại vốn chủ
trang trại có biện pháp quản lý riêng, đặc biệt vốn lu động cần phải quan
tâm đến tốc độ luân chuyển, vốn lu động có tốc độ luân chuyển nhanh thì
khả năng thu hồi vốn sớm để có điều kiện để tái đầu t sản xuất trang trại.
2.1.2. Khái niệm và các quan điểm cơ bản đánh giá hiệu quả kinh tế
trang trại
2.1.2.1. Khái niệm
của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của trang trại có liên quan tới các cơ sở
sản xuất kinh doanh khác cũng nh các ngành kinh tế của toàn bộ hệ thống.
Do vậy mỗi giải pháp kinh doanh của từng trang trại phải đợc đánh giá hiệu
quả một cách toàn diện, không đợc làm tổn hại đến hiệu quả chung của nền
kinh tế. Hiệu quả kinh tế của trang trại góp phần làm tăng hiệu quả của
ngành nông nghiệp, của nền kinh tế quốc dân, ngợc lại một hệ thống kinh tế
quốc dân đợc tổ chức và có cơ chế đúng đắn sẽ làm môi trờng thuận lợi để
cho mỗi trang trại nâng cao hiệu quả kinh tế.
-14-
Hơn nữa về mặt định tính hiệu quả kinh tế phải gắn chặt với hiệu quả
chính trị, xã hội, môi trờng, hoạt động của trang trại trong nền kinh tế thị
trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định hớng xã hội chủ nghĩa. Không
chỉ theo đuổi mục tiêu kinh tế mà còn phải tham gia vào các nhiệm vụ chính
trị, xã hội nh đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, giải quyết
việc làm, thu nhập cho dân c, tác động tới cơ cấu kinh tế Điều này thể
hiện phạm trù bản chất hiệu quả kinh tế gắn chặt với bản chất của quan hệ
sản xuất chế độ XHCN.
b. Quan điểm thứ hai
Đây là quan điểm bảo đảm kết hợp giữa hiệu quả kinh tế trang trại với
quan hệ lợi ích và nhân cách của ngời lao động trong trang trại đó.
Bảo đảm kết hợp giữa hiệu quả kinh tế trang trại với quan hệ lợi ích và
nhân cách của ngời lao động trong trang trại gồm chủ trang trại, lao động
trong gia đình và ngời lao động làm thuê. Con ngời trong trang trại vừa là
điều kiện vừa là mục tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại, con
ngời tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo lợi ích kinh
tế của họ và thể hiện nhân cách của họ trong quá trình lao động ở trang trại.
Quan điểm này cũng là vấn đề mà nhiều ngời còn quan tâm, đặc biệt là
ngời chủ trang trại khi thuê lao động làm thuê trong trang trại của mình.
Một số lao động là nông dân do chuyển nhợng, chuyển đổi không
nông thôn. Việc xây dựng mô hình trang trại và nâng cao hiệu quả kinh tế
của nó góp phần vào phát triển nông nghiệp bền vững, chúng ta cần có quan
điểm nâng cao hiệu quả kinh tế trang trại một cách toàn diện.
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Kinh nghiệm phát triển kinh tế trang trại ở một số nớc trên thế
giới và khu vực
2.2.1.1. Kinh tế trang trại ở một số nớc Châu Âu, Mỹ
Vào cuối thế kỷ XIX, trang trại gia đình dần chiếm u thế. Đến thập
kỷ cuối cùng của thế kỷ XX, trang trại gia đình trở thành mô hình sản xuất
phổ biến nhất của nền nông nghiệp thế giới [8].
-16-
* Về số lợng, quy mô và cơ cấu
Số lợng trang trại có xu hớng giảm, quy mô có xu hớng tăng. Phần
lớn các nớc số lợng các trang trại giảm bình quân hàng năm khoảng 2,1%
đến 2,7%, trong khi đó, diện tích bình quân của các trang trại tăng lên hàng
năm khoảng 2%, diện tích các trang trại tuỳ thuộc vào diện tích từng nớc
đến vài chục ha đến trên 100 ha. Bên cạnh những trang trại lớn, vẫn tồn tại
những trang trại có diện tích vừa và nhỏ, nhng chủ yếu là số lợng các trang
trại lớn. Quy mô trung bình của trang trại ở Mỹ năm 1980 là 180ha, ở Pháp
năm 1989 là 28 ha, ở CHLB Đức năm 1986 là 26,1 ha [8].
* Về loại hình trang trại và tổ chức điều hành sản xuất
Trang trại gia đình đợc coi là phổ biến trong tất cả các nớc. Ngoài ra
còn một số loại hình trang trại nh sau [8,10].
- Trang trại liên doanh: là kiểu trang trại do 2 - 3 trang trại hợp nhất để
tăng thêm khả năng về vốn và t liệu sản xuất. Loại hình này ở các nớc
Châu Âu và Mỹ chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 10%.
- Trang trại hợp doanh theo cổ phần: Là loại trang trại đợc tổ chức
theo nguyên tắc một công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế
biến tiêu thụ sản phẩm. Cổ phần không bán trên thị trờng chứng khoán, loại
càng nhiều [8], [10].
* Thị trờng đầu vào, đầu ra của trang trại
ở nhiều nớc, các trang trại có quyền lựa chọn mua sắm máy móc, vật
t từ nhiều đơn vị cung ứng khác nhau, tiêu thụ sản phẩm theo những kênh
khác nhau qua cơ quan mua gom thị trờng tự do, xí nghiệp chế biến, có
khoảng 80% nông sản đợc chế biến trớc khi đa ra thị trờng tiêu thụ,
trang trại có quan hệ mật thiết với các ngành khác nhau trong hệ thống nông
nghiệp thơng nghiệp. Các trang trại thành lập hợp tác xã để hỗ trợ dịch vụ
đầu vào, đầu ra. Nhà nớc có các biện pháp tích cực can thiệp vào thị trờng
nông sản thông qua các đòn bẩy kinh tế để đảm bảo cân bằng cung cầu nông
sản trên thị trờng [8], [10]. -18-
*. Trang trại gia đình và công nghiệp hoá
ở các nớc công nghiệp phát triển, trang trại gia đình vẫn tồn tại và
phát triển, nó đã và đang là lực lợng chủ yếu sản xuất ra các loại nông sản.
50% sản lợng đậu tơng và ngô trên toàn thế giới là do các trang trại gia
đình ở Mỹ sản xuất. ở Pháp xuất khẩu ngũ cốc hàng năm trên 20 triệu tấn.
Nhiều trang trại đã đợc cơ giới hoá ở mức độ cao hoặc đang tiến hành cơ giới
hoá. Năng suất lao động trong nông nghiệp ở những nớc này rất cao và ngày
càng tăng, một lao động nông nghiệp có thể nuôi sống từ 55 đến 100 ngời [8],
[10].
2.2.1.2. Kinh tế trang trại ở các nớc Châu á và khu vực Đông
Nam á
Phần lớn các nớc Châu á, nền kinh tế còn ở trình độ thấp do đang
trong giai đoạn tiến hành công nghiệp hoá. Trừ một số nớc và lãnh thổ nh
Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan có nền kinh tế phát triển nên công nghiệp
đã có ảnh hởng nhất định đến phát triển của trang trại. Hơn nữa, ở Châu á
kinh tế trang trại trong nông nghiệp chịu sự chi phối của điều kiện tự nhiên,
đầu t, quỹ tài trợ vốn cho các trang trại thông qua các khoản đầu t, quỹ tài
trợ và vay vốn tín dụng với lãi suất thấp (3,5%/năm đến 7,5%/năm), Nhà
nớc còn trợ cấp bằng 1/3 đến 1/2 giá bán một số loại máy móc nông nghiệp
cần thiết cho trang trại [8], [10].
* Về lao động và kỹ thuật sản xuất
Do tốc độ tăng dân số nhanh, việc rút lao động ra khỏi nông nghiệp để
cơ cấu lao động trong nông nghiệp giảm xuống so với công nghiệp rất khó
khăn, và do đó lao động trong các trang trại ở Châu á không giảm, số lao
động d thừa phải làm thuê bằng nghề khác và trở thành lao động bán nông
(part - time farmer). Các phơng tiện kỹ thuật của các trang trại ở các nớc
Châu á phần lớn là máy móc dùng chung (trừ Nhật Bản) [8], [10]. -20-
* Về hớng kinh doanh và thu nhập
Cũng nh các nớc Âu, Mỹ hớng kinh doanh của cấc trang trại ở
Châu á bên cạnh sản xuất tập trung chuyên môn hoá, các trang trại còn kết
hợp nông nghiệp với các ngành nghề khác và do đó thu nhập của các trang
trại chủ yếu từ sản xuất nông nghiệp có xu hớng giảm, thay vào đó là các
trang trại có nguồn thu nhập từ các ngành nghề khác nhau ngoài nông nghiệp
[8], [10].
* Thị trờng đầu vào, đầu ra
Nhà nớc có chính sách hỗ trợ đầu vào và đầu ra nh Nhà nớc đầu t
những khoản tài trợ lớn cho nông nghiệp, cho vay vốn tín dụng lãi suất thấp,
trợ cấp giá bán máy nông nghiệp, bảo hộ các trang trại trong cạnh tranh trên
thị trờng nông sản với nớc ngoài [10].
* Vị trí vai trò của trang trại
Tuy các trang trại gia đình phân tán, quy mô nhỏ nhng ở một số nớc
phát triển, hầu hết nhu cầu về lơng thực và thực phẩm trong nớc và xuất
khẩu do trang trại sản xuất. Một số nớc đang phát triển, trang trại góp phần
* Về loại hình kinh tế trang trại
Kinh tế trang trại có thể phát triển với nhiều hình thức rất đa dạng,
nhng trang trại gia đình là loại hình thích hợp phổ biến nhất, chiếm 80 -
90% tổng số trang trại trên thế giới. Đối với nớc ta trang trại gia đình là loại
tổ chức sản xuất phù hợp với trình độ tổ chức quản lý, khoa học công nghệ
và phù hợp với điều kiện nông nghiệp, nông thôn trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
* Về hiệu quả của kinh tế trang trại
Hiệu quả sản xuất kinh doanh của trang trại, không hoàn toàn phụ
thuộc quy mô đất đai và lao động mà chủ yếu phụ thuộc nhiều vào trình độ
thâm canh, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ
-22-
* Về chủ trang trại
Bồi dỡng, đào tạo chủ trang trại là một nhân tố đặc biệt quan trọng
đối với sự thành công của kinh tế trang trại trên thế giới. Năng lực quản lý
điều hành của chủ trang trại thể hiện ở khả năng quản lý điều hành t liệu
sản xuất, lao động vốn, xây dựng và thực hiện kế hoạch, quy hoạch sản xuất,
tiêu thụ sản phẩm. Họ không chỉ hiểu biết về nông học mà cần có sự am hiểu
cả về quản lý sản xuất kinh doanh trong cơ chế thị trờng.
* Về thị trờng tiêu thụ nông sản
Việc hình thành và phát triển thị trờng tiêu thụ nông sản có ý nghĩa
quyết định đối với sự phát triển kinh tế trang trại.
* Về quan hệ giữa kinh tế trang trại với công nghiệp chế biến và dịch
vụ
Gắn trang trại với công nghệ chế biến và dịch vụ tại nông thôn cũng là
một bài học quý báu. Công nghệ chế biến và dịch vụ cho kinh tế trang trại là
điều kiện hết sức quan trọng để thúc đẩy trang trại phát triển có hiệu quả.
Mặt khác thu nhập từ ngoài nông nghiệp của các gia đình nông dân đang
ngày càng phổ biến ở nhiều nớc.
Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản đợc
xác định là trang trại phải đạt cả hai tiêu chí định lợng sau đây [24].
*Giá trị sản lợng hàng hoá và dịch vụ bình quân 1 năm:
- Từ 40 triệu đồng trở lên
* Quy mô sản xuất:
a. Đối với trang trại trồng trọt
+) Trang trại trồng cây hàng năm: từ 2 ha trở lên
+) Trang trại trồng cây lâu năm: từ 3 ha trở lên
+) Trang trại lâm nghiệp: từ 10 ha trở lên
b. Đối với trang trại chăn nuôi
+) Chăn nuôi đại gia súc Trâu, Bò
-24-
- Chăn nuôi sinh sản lấy sữa: có thờng xuyên từ 10 con trở lên
- Chăn nuôi lấy thịt: có thờng xuyên từ 50 con trở lên
+) Chăn nuôi gia súc lợn, dê
- Chăn nuôi sinh sản: có thờng xuyên đối với lợn 20 con trở lên; đối
với dê cừu từ 100 con trở lên.
+) Chăn nuôi gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, có thờng xuyên từ
2000 con trở lên (không tính số đầu con dới 7 ngày tuổi)
c. Trang trại nuôi trồng thuỷ sản
- Diện tích mặt nớc để nuôi trồng thuỷ sản có từ 2 ha trở lên (riêng
đối với nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1 ha trở lên)
d. Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản có
tính chất đặc thù nh: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thuỷ
sản và thuỷ đặc sản thì tiêu chí xác định là gía trị sản lợng hàng hoá: 40
triệu đồng trở lên .
Tuy vậy sau 3 năm thực hiện tiêu chí về kinh tế trang trại theo Thông