giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn huyện gia lâm, thành phố hà nội - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
............
............

LƯU THỊ NGỌC YẾN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2014


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
............
............

LƯU THỊ NGỌC YẾN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CẤP
XÃ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI


LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp
đỡ tận tình, sự đóng góp quý báu của nhiều cá nhân và tập thể.
Trước tiên, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu Học viện
Nông nghiệp Việt Nam, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Bộ môn Kinh tế
Nông nghiệp và chính sách đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Phúc Thọ đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện luận văn.
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn UBND huyện Gia Lâm, Phòng Nội vụ huyện
Gia Lâm, Chi cục Thống kê huyện Gia Lâm, UBND các xã, thị trấn trên địa bàn
huyện Gia Lâm đã tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp số liệu, tư liệu khách quan giúp
tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp và người thân đã
động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài
nghiên cứu.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày

tháng 9 năm 2014

Tác giả luận văn

Lưu Thị Ngọc Yến

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page ii



1.1

Tính cấp thiết

1

1.2

Mục tiêu nghiên cứu

3

1.2.1

Mục tiêu chung

3

1.2.2

Mục tiêu cụ thể

3

1.3

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3


Chính quyền cấp xã

5

2.1.2

Một số khái niệm

8

2.1.3

Nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công chức cấp xã, thị trấn

22

2.1.4

Sự cần thiết phải nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC cấp xã

31

2.2

Cơ cở thực tiễn

39

2.2.1

Điều kiện tự nhiên.

45

3.1.2

Đặc điểm kinh tế xã hội

47

3.2

Phương pháp nghiên cứu

54

3.2.1

Chọn điểm nghiên cứu

54

3.2.2

Phương pháp thu thập số liệu

54

3.2.3


58

4.1.2

Chất lượng công chức

63

4.2

Đánh giá chất lượng công chức cấp xã huyện Gia Lâm hiện nay

70

4.2.1

Đánh giá chất lượng công chức qua hệ thống chính trị

70

4.2.2

Đánh giá của người dân về công chức cấp xã

86

4.3

Các yếu tố ảnh hướng đến chất lượng cán bộ công chức xã


chức cấp xã, thị trấn

101

4.3.6

Điều kiện làm việc của đội ngũ công chức

103

4.4

Định hướng giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã, thị
trấn trên địa bàn huyện Gia Lâm

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

104
Page iv


4.4.1

Định hướng:

104

4.4.2

Giải pháp


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

121

Page v


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TW

Trung ương

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa

CNXH


ĐH

Đại học

QS

Quân sự

TP-HT

Tư pháp – Hộ tịch

ĐC-XD

Địa chính – Xây dựng

VP-TK

Văn Phòng – Thống kê

TC-KT

Tài chính – Kế toán

VH-XH

Văn hóa – Xã hội

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế



3.2

Giá trị sản xuất các ngành của huyện Gia Lâm (2011-2013)

48

33

Tình hình dân số, lao động, việc làm trên địa bàn huyện Gia Lâm. 52

4.1

Số lượng công chức cấp xã phân theo chức danh

59

4.2.

Số lượng công chức cấp xã phân theo độ tuổi

60

4.3

Số lượng công chức cấp xã phân theo giới tính

62

4.4


4.9

73

Đánh giá của CBCC huyện và cán bộ xã về việc thực hiện nhiệm
vụ của chức danh Trưởng công an

4.10

74

Đánh giá CBCC huyện và cán bộ xã về thực hiện nhiệm vụ của
chức danh Chỉ huy trưởng quân sự

4.11

75

Đánh giá của CBCC huyện và cán bộ xã về thực hiện nhiệm vụ
của chức danh VP-TK

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

77
Page vii


4.12


85

4.17

Đánh giá của người dân về công chức cấp xã

86

4.18

Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của chức danh Trưởng công an

89

4.19

Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh Chỉ huy trưởng
quân sự

90

4.20

Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh VP-TK

91

4.21

Đánh giá thực hiện nhiệm vụ của chức danh ĐC-XD


97

4.27

Đánh giá công tác quy hoạch cán bộ ở cấp xã

99

4.28

Đánh giá của công chức về đào tạo hiện nay

101

4.29

Đánh giá của hệ thống chính trị về kiểm tra, giám sát công chức 102

4.30

Điều kiện làm việc của đội ngũ công chức

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

103

Page viii





PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết
Cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng, là nhân tố then chốt tạo nên
một chính quyền vững mạnh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cán bộ là
cái gốc của mọi công việc", "Muôn việc thành công hay thất bại, đều do cán bộ
tốt hoặc kém".
Chính quyền địa phương là nền tảng, cơ sở của chính quyền Trung ương,
chính quyền địa phương có vững mạnh thì Trung ương mới vững mạnh. Vì
vậy muốn xây dựng một bộ máy chính quyền Nhà nước vững mạnh thì trước
tiên phải xây dựng một hệ thống chính quyền vững mạnh từ các cấp xã, huyện
đến tỉnh. Trong đó chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
quyền các cấp của Nhà nước ta; và là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường
lối chính trị, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống,
là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cấp gần gũi dân nhất, là nơi
trực tiếp đáp ứng các yêu cầu chính đáng của dân. Để chính quyền cấp xã
thực hiện chức năng quản lý nhà nước một cách có hiệu lực và hiệu quả thì
cần phải có đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) chính quyền cấp xã có năng
lực quản lý nhà nước tốt. Thực tế cho thấy ở đâu mà năng lực quản lý nhà
nước của CBCC chính quyền cấp xã tốt thì hiệu lực, hiệu quả quản lý cao.
Ngược lại, ở đâu mà năng lực quản lý nhà nước của CBCC chính quyền cấp
xã không tốt thì hiệu lực, hiệu quả quản lý thấp, tiềm ẩn nguy cơ mất đoàn kết
nội bộ, mất dân chủ, tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài, tạo nên điểm nóng...
làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị ở cơ sở.
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm và chú trọng đến công tác cán
bộ, đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, công tác
cán bộ càng được chú trọng. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều Nghị
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

CNH, HĐH đất nước hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cấp xã
là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi
việc đều xong xuôi". Vị trí và vai trò của chính quyền cấp xã được thể hiện ở
những nội dung sau đây:
- Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống. Thực tiễn
cho thấy có hệ thống đường lối, chính sách pháp luật đúng đắn, khoa học
nhưng ở đó chính quyền cấp xã hoạt động yếu kém thì đường lối, chính sách,
pháp luật chưa thực sự đi vào cuộc sống, chưa phát huy được sức mạnh của
mình; ở đâu chính quyền cấp xã hoạt động có hiệu quả thì ở đó đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước được thực thi nghiêm minh,
chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống nhân dân ngày càng
được nâng cao. Chính quyền cấp xã là nơi thể nghiệm chính xác đường lối,
chính sách pháp luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Chính quyền cấp xã là cấp quản lý các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn cơ sở. Hiệu quả hoạt động của chính quyền
cấp xã là cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động trong cả bộ
máy nhà nước.
- Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền trực tiếp với dân, gần dân, sát
dân nhất, là cấp chính quyền giải quyết và chăm lo mọi mặt đời sống nhân
dân, trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 5


- Chính quyền cấp xã là cấp hướng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản
của nhân dân nhằm tạo điều kiện cho nhân dân phát huy mọi khả năng phát triển
kinh tế - xã hội. Đây là nét đặc thù của chính quyền cấp xã, so với các cấp chính
quyền khác.

Chính quyền cấp xã có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, chính quyền cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính
quyền các cấp của Nhà nước ta (Trung ương, tỉnh, huyện, xã); là cấp quản lý
hành chính Nhà nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an
ninh, quốc phòng ở địa bàn cơ sở.
Thứ hai, chính quyền cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường
lối chính trị, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống, là
cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là cấp gần gũi dân nhất, là nơi
trực tiếp đáp ứng và giải quyết các yêu cầu chính đáng của nhân dân.
Thứ ba, chính quyền cấp xã gồm HĐND và UBND, mà không có cơ
quan Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. HĐND là cơ quan quyền lực
Nhà nước và đại diện cho ý chí, nguyện vọng quyền làm chủ của nhân dân ở
cơ sở. UBND là cơ quan chấp hành, cơ quan quản lý hành chính nhà nước
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, an ninh, quốc phòng trên
địa bàn cơ sở.
Thứ tư, các đơn vị hành chính cấp xã, được hình thành trên nền tảng
những địa điểm quần cư, nó liên kết dân cư trong một khối liên hoàn thống
nhất. Mọi vấn đề của địa phương đều liên quan chặt chẽ với nhau và cần phải
được giải quyết trên cơ sở kết hợp hài hòa các lợi ích: Nhà nước, dân cư và
giữa dân cư với nhau. Chính quyền ở đây không chỉ là cơ quan cai trị - quản
lý mà còn là cơ quan thể hiện lợi ích chung của dân cư.
Thứ năm, trong hoạt động của chính quyền cấp xã, giữa HĐND và
UBND khó tách biệt nhau về các lĩnh vực thẩm quyền và UBND có ưu thế
vượt trội: Chính quyền cấp xã được coi là một cấp chính quyền hoàn chỉnh,
bao quát toàn diện đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng ở
địa bàn cơ sở. Nội dung các nghị quyết của HĐND và quyết định của UBND
nhìn chung là giống nhau, chỉ khác ở chỗ: HĐND quyết định biện pháp, còn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 8


Ngày 25 - 5 - 1991, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành
Nghị định số 169/HĐBT quy định về công chức Nhà nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam: “Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và
bổ nhiệm một công vụ thường xuyên trong một công sở Nhà nước ở trung
ương, địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch,
bậc, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp ”(Hồ Chí Minh, 2000)
Hiện nay, Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008, được Quốc hội
thông qua ngày 13 tháng 11 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2010 quy định:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ
ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của
đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự
nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. (Luật cán bộ, công chức, 2008)
Cũng theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại khoản 3 Điều 4 quy định:
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức
danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. (Luật cán bộ, công chức, 2008)
Theo Nghị định 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về

chức cấp xã nói riêng, có vị trí nền tảng cơ sở. Cấp xã là cấp trực tiếp tổ chức
thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định bởi sự
triển khai ở cơ sở. Cấp xã là cấp trực tiếp gắn với quần chúng tạo dựng phong
trào cách mạng quần chúng. Vì vậy, cơ sở xã, phường mạnh hay yếu một
phần quan trọng phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 10


Những năm vừa qua cũng đã chỉ ra rằng sự thành công hay thất bại của
Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở phụ thuộc rất
lớn vào đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, phường (gọi chung là cán bộ, công
chức cấp xã). Tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức này quyết định
khả năng hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà
nước vì cán bộ, công chức xã, phường vừa là người đại diện cho Đảng và Nhà
nước trong việc quản lý, điều hành mọi mặt: chính trị, kinh tế, xã hội, quốc
phòng và an ninh ở cơ sở; là người trực tiếp lãnh đạo, tổ chức thực hiện các
chủ trương đường lối của Đảng, thực thi quyền hành pháp cũng như tiến hành
tổ chức, triển khai các chương trình kinh tế xã hội ở địa phương. Mặt khác
cán bộ, công chức xã, phường cũng là người thường xuyên chăm lo đến mọi
mặt trong đời sống, cả vật chất và tinh thần tới mọi người dân; là người đại
diện cho ý chí, quyền lợi của nhân dân địa phương, luôn đấu tranh và bảo vệ
mọi quyền lợi chính đáng của người dân khi bị vi phạm. Như Hồ Chủ tịch đã
từng nói: Cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ trung thành của
nhân dân. Cán bộ, công chức xã là đội ngũ thể hiện cụ thể và trực tiếp nhất
nội dung này.
Thực tiễn cho thấy rằng chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức có
ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế, xã hội ở địa phương. Ở xã, phường

vậy, việc tập hợp được khối đại đoàn kết toàn dân ở cơ sở là rất quan trọng,
quyết định đến hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.
- Cán bộ, công chức cấp xã vừa là người đại diện cho Nhà nước,
vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người cùng làng, cùng họ, vừa là
người dân, là người gần dân nhất nên thực tế cho thấy, ở đâu cán bộ, công
chức cấp xã hiểu dân, nắm bắt kịp thời tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của
dân, giải quyết kịp thời những vướng mắc, đề nghị của nhân dân; cán bộ,
công chức cấp xã gương mẫu, không quan liêu, hách dịch, cửa quyền thì ở
đó tình hình an ninh - chính trị, kinh tế - xã hội sẽ ổn định.
- Cán bộ, công chức cấp xã là người trực tiếp giải quyết những yêu cầu,
những thắc mắc chính đáng của nhân dân.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


Tóm lại, cán bộ, công chức cấp xã là người có vị trí, vai trò quan trọng
trong việc ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội ở cấp cơ sở, tăng
cường khối đại đoàn kết toàn dân, tạo điều kiện phát huy tính tự quản trong
cộng đồng dân cư.
2.1.2.3 Chất lượng công chức cấp xã
2.1.2.3.1 Khái niệm chất lượng công chức cấp xã
Theo từ điển tiếng Việt thì chất lượng hiểu ở nghĩa chung nhất là "cái
tạo nên phẩm chất, giá trị của một con người, sự vật, sự việc".
Khi đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã, một vấn đề đặt ra là
hiểu cho đúng thế nào là chất lượng của đội ngũ công chức. Chất lượng của đội
ngũ công chức được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau:
Chất lượng của đội ngũ công chức được thể hiện thông qua hoạt động
của bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động

Thứ nhất, về phẩm chất chính trị là tiêu chí là yêu cầu cơ bản nhất đối
với cán bộ, công chức. Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng
trung thành tuyệt đối với lý tưởng của Đảng, với Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng hết sức vì sự
nghiệp của nhân dân; là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu
và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta đã đề ra.
Phẩm chất chính trị đòi hỏi người công chức phải thấm nhuần chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quán triệt đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có tinh thần cương quyết đầu
tranh chống lại các quan điểm lệch lạc, sai trái hoặc chống đối những chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các hành vi xâm
phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Phẩm chất chính trị của công chức cấp xã được biểu hiện trước hết là
sự tin tưởng tuyệt đối đối với lý tưởng cách mạng, kiên định với mục tiêu độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh
và Đảng ta đã lựa chọn, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước, không dao động trước những khó khăn,
thử thách, trước những cám dỗ. Đồng thời phải có biện pháp để đường lối đó
đi vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân địa phương.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status