Một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại nông nghiệp trên địa bàn huyện Quốc Oai - Thành phố Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - Pdf 44

Chuyờn tt nghip
Lời nói đầu
Trong số những thành tích đạt đợc của công cuộc đổi mới nền kinh tế đất
nớc, trong thời gian qua, có thể nói nông nghiệp là một ngành đã có những bớc
đột phá ngoạn mục. Thu nhập của nông dân không ngừng tăng lên, bộ mặt
nông thôn đợc cải thiện đáng kể. Sản xuất nông nghiệp đã đảm bảo an toàn l-
ơng thực cho đời sống xã hội.
Thế nhng, sự phát triển ấy so với yêu cầu phát triển kinh tế chung trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và trong điều kiện hội nhập kinh
tế quốc tế mạnh mẽ nh hiện nay thì vẫn còn quá thấp và nhỏ bé. Cho đến bây
giờ, nông nghiệp Việt Nam nói chung vẫn là một nền sản xuất kém hiệu quả và
thiếu tính hợp lý. Do Vậy cần phải hình thành và phát triển những hình thức
sản xuất đem lại hiệu qua kinh tế cao hơn, trong đó, kinh tế trang trại là một
mô hình tốt có thể áp dụng để đáp ứng yêu cầu này.
Kinh tế trang trại ở nớc ta đã tồn tại từ lâu, nhng chỉ phát triển mạnh mẽ
trong vài năm gần đây. Có thể nói việc thực hiện chỉ thị 100 của Ban Bí th TW
Đảng (Khoá 4), Nghị quyết 10 - NQ/TW của Bộ Chính trị (Tháng 4/1988) và
phát huy vai trò tự chủ của kinh tế hộ nông dân đã đặt nền móng cho sự ra đời
của kinh tế trang trại với những thành tựu của công cuộc đổi mới, sản xuất
nông nghiệp có bớc phát triển vợt bậc, nhiều hộ nông dân có tích luỹ, đã tạo
điều kiện cho kinh tế trang trại phát triển. Đặc biệt là sau khi luật đất đai ra đời
năm 1993, thì kinh tế trang trại mới có bớc phát triển khá nhanh và đa dạng. Sự
tăng nhanh về số lợng, gia tăng về giá trị sản lợng đã chứng tỏ đây là một mô
hình tổ chức sản xuất nông nghiệp phù hợp với đặc thù kinh tế nông nghiệp,
nông thôn nớc ta, giúp nông dân làm giàu, tăng thu nhập cho bản thân họ và
cho xã hội.
Hà Nội thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, không có điều kiện thuận lợi
để phát triển kinh tế trang trại với quy mô đất đai lớn nh ở vùng trung du miền
núi phía Bắc hay vùng đồng bằng phía Nam, nhng những năm qua,đặc biệt sau
khi sát nhập với tỉnh Hà Tây,cùng với sự gia tăng diện tích kinh tế trang trại
Hà Nội đứng trớc nhiều nhiều cơ hội phát triển mới. Qua quá trình thực tập ở

đại hoá
Đề tài này đợc hoàn thành với sự giúp đỡ của các thầy, các bạn trong
khoa, đợc chỉ dẫn nhiệt tình của thầy giáo hớng dẫn -Hoàng Mạnh Hùng, đợc
sự giúp đỡ của phòng thống kê, phòng nông nghiệp huyện Quốc Oai. Do thời
gian có hạn, trình độ nghiên cứu còn hạn chế nên nội dung của chuyên đề này
không tránh khỏi những sai sót. Vậy kính mong các thầy cô giáo góp ý kiến để
luận văn này đợc hoàn chỉnh hơn.
SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
2
Chuyờn tt nghip
Chơng I.
cơ sở lý luận chung về kinh tế trang trại
1. Khái niệm và bản chất của kinh tế trang trại.
Trên thế giới, trang trại đã có quá trình hình thành và phát triển trên 200
năm. Nhiều công trình nghiên cứu cho rằng trang trại là loại hình sản xuất
chuyển từ tự cấp tự túc khép kín của hộ tiểu nông vơn lên sản xuất hàng hoá,
tiếp cận với thị trờng, từng bớc thích nghi với kinh tế thị trờng cạnh tranh. Sự
hình thành kinh tế trang trại gắn liền với quá trình thực hiện công nghiệp hoá
hiện đại hoá nông nghiệp. Mô hình kinh tế trang trại đợc coi là phù hợp và đạt
hiệu quả kinh tế cao tronh sản xuất nông nghiệ. Chính C Mác đã kết luận ở tác
phẩm cuối cùng của mình " Ngay ở nớc Anh có nền công nghiệp phát triển, hình
thức sản xuất nông nghiệp có thuận lợi không phải là các xí nghiệp nông nghiệp
quy mô lớn mà là các trang trại gia đình không dùng lao động làm thuê"...
Kinh tế trang trại là vấn đề không còn mới mẻ với các nớc t bản phát triển
và đang phát triển. Song đối với nớc ta đây vẫn còn là vấn đề rất mới, do nớc ta
mới chuyển sang nền kinh tế thị trờng nên việc nhận thức cha đầy đủ về kinh
tế trang trại là điều không thể tránh khỏi.
Cho tới nay ở mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phơng hay đứng trên các
phơng diện khác nhau các nhà khoa học đa ra các khái niệm khác nhau về kinh
tế trang trại.

trang trại trong quá trình quản lý kinh doanh của trang trại .
Trong Nghi quyết TW số 06/NQ -TW 10/11/1998 cũng đã khẳng định
"trang trại gia đình, thực chất là kinh tế sản xuất hàng hoá với quy mô lớn hơn,
sử dụng lao động, tiền vốn của gia đình chủ yếu là để sảu suất kinh doanh có
hiệu quả.
Xuất phát từ những quan điểm trên, theo khái niệm chung nhất về
kinh tế trang trại là : kinh tế trang trại là một hình thức sản xuất tổ chức sản
xuất nông - lâm - ng nghiệp có mục đích chính là sản xuất hành hoá, có t liệu
sản xuất thuộc quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng của một chủ trang trại độc
lập, sản xuất đợc tiến hành trên quy mô ruộng đất và các yếu tố sản xuất khác
tập chung đủ lớn với phơng thức tổ chức qủan lý sản xuất tiến bộ và trình độ kỹ
thuật cao, kế hoạch sản xuất kinh doanh tự chủ luôn gắn với thị trờng.
SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
4
Chuyờn tt nghip
2. Vai trò và vị trí của kinh tế trang trại.
Trang trại là hình thức tổ chức sản xuất quan trọng trong nền nông nghiệp
thế giới, ngày nay trang trại gia đình là loại hình trang trại chủ yếu trong nền
nông nghiệp các nớc ở các nớc đang phát triển trang trại gia đình có vai trò to
lớn quyết định trong sản xuất nông nghiệp, ở đây tuyệt đại bộ phận nông sản
phẩm cung cấp cho xã hội đợc sản xuất ra từ các trang trại gia đình.
ở nớc ta kinh tế trang trại mặc dù mới phát triển trong những năm gần
đây. Song vai trò tích cực và quan trọng của kinh tế trang trại đã thể hiện khá
rõ nét cả về mặt kinh tếcũng nh về mặt xã hội và môi trờng.
- Về mặt kinh tế, các trang trại góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh từ,
phát triển các loại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần
tình trạng phân tán, tạo nên những vùng chuyên môn hoá cao mặt khác qua
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trang trại góp phần thúc đẩy phát triển
công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến và dịch vụ sản xuất ở nông thôn.
Thực tế cho thấy việc phát triển kinh tế trang trại ở những nơi có điều kiện bao

trang trại và kinh tế hộ tiểu nông tự cấp, tự túc.
Stt Tiêu thức Kinh tế trang trại Kinh tế tiểu nông
1 Mục đích sản xuất. Chủ yếu sản xuất để bán. Chủ yếu thoả mãn
nhu cầu tiêu dùng.
2 Quy mô diện tích. Trên diện tích tập trung
đủ lớn.
Manh mún, phân tán.
3 Quy mô vốn. Yêu cầu tích luỹ vốn lớn. Yêu cầu vốn ít.
4 Trình độ sản xuất. Cao, có khả năng áp dụng
phơng tiện máy móc, kỹ
thuật công nghệ hiện đại.
Thấp, mang nặng tính
thủ công.
5 Khả năng tích luỹ
sản xuất.
Nhiều.
ít
6 Lao động. Vừa sử dụng lao động vừa
sử dụng lao động thuê
ngoài
Chủ yếu sử dụng lao
động gia đình.
C.Mác đã phân biệt chủ trang trại với tiểu nông : 'Ngời chủ trang trại bán
ra thị trờng hầu hết sán phẩm làm ra, còn ngời chủ hộ gia đình tiêu dùng đại bộ
phận sản phẩm làm ra và mua bán càng ít càng tốt.
Quy mô sản xuất hàng hoá đợc thể hiện qua tỷ xuất hàng hoá là đặc trng
cơ bản nhất của kinh tế trang trại.
SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
6
Chuyờn tt nghip

- Có sử dụng lao động làm thuê từ hai lao động/năm trở lên.
SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
7
Chuyờn tt nghip
- Chủ trang trại có kiến thức nông lâm ng nghiệp.
- Lấy sản suất hàng hoá làm hớng chính và có thu nhập vợt trội hẳn so với
mức trung bình.
Theo ban kinh tế TW thì kinh tế trang trại không thể căn cứ vaò diện tích
mà nên căn cứ vào.
- Giá trị tài sản mà chủ trang trại dựa vaò quá trình sản xuất kinh doanh
(thờng lớn hơn 100 triệu đồng Việt nam ).
- Số lợng công nhân mà chủ trang trại thuê mớn thờng xuyên (lớn hơn 10 ngời).
- Giá trị hàng hoá và xuất sinh lờido trang trại tạo ra trong một thời gian
nhất định, trong một năm cao hơn 30% so với mức bình quân của hộ nông dân
trong vùng.
- Chủ trang trại là ngời quản lý ,điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của trang trại, ở tỉnh Sơn la hiện nay cha có tiêu chí thống nhất để xác
định kinh tế trang trại, mỗi cơ quan, mỗiđịa phơng dựa trên tiêu chí xác định
trang trại khác nhau, theo Hội nông dân, hội làm vờn, ngời ta xác định kinh tế
trang trại theo các tiêu chí sau:
- Là hội viên hội nông dân tỉnh
- Thu nhập bình quân 10triệu/năm (đã trừ chi phí).
Gần đây nhất (tháng3/1999) theo thống kê của các sở nông nghiệp và
phát triển nông thôn thì cứ hộ nông dân nào có đủ 2 điều kiện sau thì đợc coi là
trang trại .
- Diện tích canh tác lớn hơn 1ha.
- Thu nhập bình quân lớn hơn 10triệu đồng/trang trại (sau khi đã trừ chi phí ).
Từ những tiêu chí xác định trang trại của các tác giả, các cơ quan ban
nghành, các địa phơng ở trên, quan điểm của em về vấn đề này là việc sớm
hình thành một hệ thống tiêu thức đảm bảo tính khoa học trong việc xác định

công nghiệp hoá sớm nhất. Lúc bấy giờ ngời ta quan niệm một cách đơn giản
rằng trong nền kinh tế hàng hoá, nông nghiệp cũng phải xây dựng nh công
nghiệp theo hớng tập trung quy mô lớn. vì vậy, ruộng đất đợc tích tụ tập trung,
xí nghiệp nông nghiệp t bản đợc xây dựng, nhiều trang trại gia đình bị phá sản
hoặc phân tán và ngời ta hy vọng với mô hình này, số lợng nông sản tạo ra
nhiều hơn với giá rẻ hơn so với gia đình phân tán. Nhng ngời ta quên mất một
đặc điểm cơ bản của nông nghiệp khác với công nghiệp là nó tác động vào
sinh vật, vào cây trồng cũng nh vật nuôi, điều đó không phù hợp với sản xuất
SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
9
Chuyờn tt nghip
tập trung quy mô lớn và việc sử dụng lao động làm thuê tập trung chỉ đêm lại
hiệu quả kinh tế thấp.
Chính C.Mác lúc đầu cũng nghĩ rằng trong công trình t bản chủ nghĩa,
xây dựng các xí nghiệp chứa nớc theo hớng quy mô lớn tập trung là tất yếu.
Nhng về cuối đời chính C. Mác chứ không phải ai khác đã nhận định lại: "ngay
ở nớc Anh với nghành công nghiệp phát triển, hình thức sản xuất nông nghiệp
có lợi nhất không phải là các xí nghiệp nông nghiệp quy mô lớn mà là các
trang trại gia đình không dùng lao động làm thuê".
Cho đến cuối thế kỷ XIX, trang trại gia đình trở thành mô hình sản xuất
phổ biến nhất trong nền nông nghiệp thế giới. Loại hình kinh doanh này gồmb
có ngời chủ cùng với gia đình hoặc có khi có một vài công làm thuê ít nhiều có
tham gia sinh hoat với gia đình. Loại hình kinh doanh nay có sứ chống đỡ lớn
trong các cuộc khủng hoảng.
Trang trại gia đình đợc hình thành, phát triển từ các hộ tiểu nông.
Một khi đã hội tụ đợc các điều kiện nh vốn, kỹ thuật, thị trờng thì tiểu
nông tự phá vỡ cái vỏ ốc tự cấp, tự túc của mình để dần dần đi vào quỹ đạo của
sản xuất hàng hoá. Sản xuất chính là đặc điểm cơ bản đánh dắu sự khác biệt
giữa trang trại với tiểu nông: trong khi ngời chủ trang trại bán toàn bộ hay
phần lớn sản phẩm của mình làm ra thì ngời tiểu nông tiêu dùng đại bộ phận

ta lúc bấy giờ.
Đồn điền đợc phân chia làm 2 loại: loại trồng lúa và loại trồng cây công
nghiệp.
Đến sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (1988 ),nông thôn nớc ta đã có sự
phát triển mới. Mỗi hộ nông dân trở thành một đơn vị tự chủ trong sản xuất
kinh doanh. Cái lồng bao cấp đợc tháo gỡ từng phần, sản xýt hàng hoá dần dần
chiếm lĩnh trận địa tự cấp, tự túc mà từ bao đời nay ngời nông dân đã dẫm chân
tại chỗ. Tiếp sau Nghị quyết 10 của Bộ chính trị là Luật đất đai (1993 ), luật
này giao quyền sử dụng ổn định lâu dài cho ngời nông dân với các quyền
chuyển đổi, chuyển nhợng, cho thuê thừa kế và thế chấp. Cùng với Nghị quyết
10 và Luật đất đai, các chính sách thuế khoá, tín dụng, khuyến nông đã là chỗ
dựa vững chắc để các hộ tiểu nông chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hình thành
các trang trại không chỉ ở những vùng đã quen sản xuất hàng hoá, mà ở cả
những vùng chỉ quanh quẩn sau hàng rào tự cấp,tự túc,tỷ xuất ha ngf hoá đợc
nâng lên không chỉ ở những nơi có bình quân ruộng đất caomà cả nhng nơi đất
SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
11
Chuyờn tt nghip
chật, ngời đông.sự tăng trởng kinh tế nổi bật trong nông nghiệp nớc ta những
năm qua không chỉ là hệ quả của sự gia tăng các yếu tố sản xuất mà phần lớn
là do sự thay đổi thể chế trong các hợp tác xã.
6. Phân loại kinh tế trang trại.
6.1. Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý.
Theo cách phân loại này có trang trại gia đình, trang trại liên doanh và
trang trại hợp doanh kiểu cổ phần:
Trang trại gia đình là loại hình có tính phổ biến nhất trong cả nớc. Đó là
kiểu trang trại độc lập sản xuất kinh doanh do ngời chủ hộ hay một ngời thay
mặt gia đình đứng ra quản lý.
Thông thờng mỗi trang trại là của một hộ gia đình,nhng có những nơi
quan hệ huyết thống còn đậm nét thì có khi mấy gia đình cùng tham gia quản

công nghiệp chế biến, có khi kết hợp sản xuất với chế biến nông, lâm sản ở
trình độ sơ chế hoặc tiến lên tinh chế.
6.3. Phân loại theo cơ cấu thu nhập.
Lâu nay, phân loại theo cơ cắu thu nhập là hình thức phổ biến, ở những n-
ớc nông nghiệp kém phát triển, nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp thì đ-
ơng nhiên cơ cấu thu nhập của trang trại là dựa vào hoàn toàn hay phần lớn là
nông nghiệp. Ngời ta gọi đó là những "trang trại thuần nông". Theo đà phát
triển của công nghiệp, số trang trại thuần nông ngày một giảm (ở Đài loan năm
1960 49,3% số trang trại là thuần nông, đến năm 1980 tỷ lệ này còn 9%, ở
Nhật bản năm 1950, số trang trại thuần nông chiếm 50%, đến 1985 tỷ lệ này
còn giảm xuống 15%).
Ngợc lại số trang trại có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp ngày càng tăng.
Những trang trại có nguồn thu nhập chính từ nông nghiệp thờng là cơ sở
sản xuất nông nghiệp quy mô vừa và lớn,thu nhập từ nông nghiệp đủ sức trang
trải nhu cằu sinh hoạt và tái sản xuất. Các trang trại có từ thu nhập nông
nghiệp và ngoài nông nghiệp thờng có quy mô nhỏ, thu nhập từ nông nghiệp
không đủ đáp ứng các nhu cầu nên phải đi làm thêm ngoài trang trại trên địa
bàn noong thôn, có khi cả ở thành phố để tăng thêm thu thập, không ít các
trang trại loại này bị lỗ, nhng không bị xoá sổ, vì đã có thu nhập ngoài nông
nghiệp bù đắp.
6.4. Phân loại theo hình thức sở hữu t liệu sản xuất.
SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
13
Chuyờn tt nghip
Trờng hợp phổ biến là ngời chủ trang trại có sở hữu toàn bộ t liệu sản
xuất từ đất đai,công cụ máy móc đến chuồng trại , kho bãi. Riêng về sở hữu
ruộng đấ, ở nhiều nớc 70-80% số chủ trang trại có ruộng đất riêng, ở Mỹ năm
1982, số chủ trang trại có sỡ hữu hoàn toàn về đất đai chiếm 59%, sở hữu một
phần là 29,3% và thuê hoàn toàn ruộng đất là 11,7%.
Chủ trang trại chỉ có sở hữu một phần t liệu sản xuất, còn một phần đi

1882 1895 1907 1949 1960 1971 1985
1.Số lợng trang trại
(1000.trang trại )
5276 5558 5736 2051 1709 1075 938
2.Diện tích bình quân
(ha/trang trại )
6,0 5,8 5,7 11 13 14 15
Nguồn:-Nguyễn Điền ,Trần Đức- Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và
chău á, Hà Nội 1993.
- Đào Thế Tuấn- Quá trình phát triển trang trại gia đình- Tạp chí
thông tin lý luận 6/1992.
Sự phát triển trang trại ở Pháp
1802 1892 1908 1928 1950 1960 1970 1987
1.Số lợng TT
(1000 TT)
5672 5703 5505 3966 2285 1588 1263 982
2.Diện tích BQ
(Ha/TT)
5,9 5,8 6,0 11,6 14,0 19,0 23,0 29,0
Nguồn: Nh bảng trên.
Đối với một số nớc công nghiệp mới nh Đài loan và Hàn quốc, tình hình
phát triển trang trại cũng theo quy luật chung: khi bớc vào công nghiệp hoá thì
trang trại phát triển mạnh, khi công nghiệp hoá đã phát triển thì trang trại giảm
về số lợng .

SV: Nguyn Tin Vinh MSSV:CQ483382
15
Chuyờn tt nghip
Sự phát triển trang trại ở Đài loan
1955 1960 1970 1988

16
Chuyờn tt nghip
cho nông nghiệp, quỹ tài trợ sản xuất lúa gạo chiếm 44% ngân sách cho đầu t
nông nghiệp.
- Máy móc thiết bị phục vụ sản xuất: ở các trang trại công cụ sản xuất
bao gồm súc vật cày kéo, máy móc động lực cơ điện, công cụ máy nông
nghiệp và các chuồng trại nhà kho. Đến nay ở các nớc phát triển đã tăng cờng
sử dụng máy móc hiện đại với mức độ cơ giới hoá ngày càng cao, từng bớc tự
động hoá tin học hoá trong sản xuất. Hình thức sử dụng máy móc do một hiệp
hội đứng ra quản lý đang ngày càng phổ biến. ở Nhật Bản năm 1985, 67%
trang trại có máy kéo nhỏ, 20% trang trại có máy kéo lớn.
- Sử dụng lao động trong các trang trại: Số lợng lao động trong các trang
trại ở mỗi nớc không còn phụ thuộc vào quy mô sản xuất mà chủ yếu phụ
thuộc vào trình độ công nghệ sản xuất nông nghiệp. Một trang trại có quy mô
25- 30 ha chỉ sử dụng 1- 2 lao động gia đình và từ 1- 2 lao động làm thuê thời
vụ. Thậm trí ở Mĩ trang trại lớn hơn 100 ha chỉ sử dụng 2 lao động chính. ở
một số nớc Châu á nh Nhật Bản năm 1990 mỗi trang trại có khoảng 3 lao
động, nhng chỉ có 1,3 lao động làm nông nghiệp.
Từ quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới nên ta
có thể rút ra một số nhận xét sau:
- Phát triển kinh tế trang trại là thích hợp và đạt hiệu quả kinh tế cao.
- Quy mô trang trại ở mỗi nớc là khác nhau, nhng có xu hớng ngày càng
tăng lên.
- Đất đai của trang trại thuộc nhiều loại sở hữu khác nhau, trong đó chủ
yếu là đất thuộc sở hữu của hộ gia đình. Ngời chủ trang trại có toàn quyền quyết
định phơng hớng sản xuất kinh doanh của trang trại sao cho đạt hiệu qủa cao
nhất.
- Cơ cấu thu nhập của trang trại thay đổi theo chiều hớng giảm thu từ
nông nghiệp, trong khi đó thu từ các ngành phi nông nghiệp ngày càng tăng.
- Các chủ trang trại ngày càng chú trọng hơn vào việc đầu t ứng dụng các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status