Pháp luật về đình công, giải quyết đình công và thực tiễn thi hành tại tỉnh bắc ninh - Pdf 52

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THÙY TRANG

ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI QUYẾT ĐÌNH
CÔNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THÙY TRANG

ĐỀ TÀI: PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI QUYẾT ĐÌNH
CÔNG VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH BẮC NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107


hiệu, toàn thể quý thầy cô, cán bộ trong Phòng Đào tạo, Khoa Sau đại học,
Khoa Pháp luật kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá
trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành Luận văn thạc sĩ.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè đã luôn ở
cạnh động viên và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Hà Nội, ngày 09 tháng 12 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thùy Trang


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1. NLĐ: Người lao động
2. NSDLĐ: Người sử dụng lao động
3. ILO: Tổ chức Lao động thế giới
4. TPP: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
5. BLLĐ: Bộ luật Lao động
6. BLLĐ 2006: Bộ luật Lao động sửa đổi bổ sung năm 2006
7. BLTTDS 2015: Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
1
Chương 1
7
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI

24
1.4.2. Giai đoạn từ năm 1986 đến nay (Giai đoạn nền kinh tế thị trường)
25
Chương 2
31
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH
CÔNG, GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG VÀ THỰC TRẠNG ĐÌNH CÔNG,
GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
31
2.1. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công và giải quyết
đình công
31
2.1.1. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công
31


2.1.2. Các quy định của pháp luật về giải quyết đình công
44
2.2. Thực trạng đình công, giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
54
2.2.1. Thực trạng đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
54
2.2.2. Thực trạng giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh
61
Chương 3
69
MỘT SỐ ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI QUYẾT ĐÌNH CÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
69

Đình công là một hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, được pháp luật
thừa nhận là quyền của NLĐ. Năm 1982, Việt Nam đã tham gia Công ước về
các quyền kinh tế xã hội và văn hóa của Liên hợp quốc, trong đó có quy định
về quyền đình công của NLĐ: “Các quốc gia tham gia công ước này cam kết
bảo đảm (…) quyền đình công miễn là quy định này được tiến hành phù hợp
với pháp luật”, theo đó pháp luật Việt Nam đã thừa nhận quyền đình công và
cụ thể hóa tại BLLĐ qua các thời kỳ.
Đình công một mặt là biểu hiện của quyền dân chủ, bảo vệ quyền hợp
pháp và lợi ích chính đáng của người lao động, một mặt lại là hiện tượng ảnh
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế xã hội và đôi khi cả chính trị. Cái khó của nhà
làm luật là xây dựng pháp luật sao cho vừa đảm bảo được quyền của NLĐ,
đưa quyền đình công theo định hướng giảm thiểu sự thiệt hại về kinh tế và
đảm bảo trật tự xã hội. Tuy nhiên bản chất của đình công là đe dọa gây thiệt
hại hoặc gây thiệt hại về mặt kinh tế đối với NSDLĐ nhằm thỏa mãn các yêu
sách. Chính vì vậy khi pháp luật nghiêng về hướng bảo vệ nền kinh tế và sự
ổn định xã hội hơn thì quyền đình công sẽ bị thu hẹp lại. Điều đó không hạn
chế được đình công mà ngược lại càng khiến hiện tượng đình công xảy ra
phức tạp, không đúng trình tự thủ tục, khiến cơ quan nhà nước cũng như
NSDLĐ không kịp có phương hướng giải quyết.
Hiện nay, theo số liệu báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội
thì 100% các cuộc đình công đều diễn ra không đúng trình tự thủ tục, các
cuộc đình công xảy ra bất ngờ, không báo trước khiến NSDLĐ và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giải quyết đình công không chủ động trong công tác
đối phó để giảm thiểu thiệt hại. Giải quyết đình công thông qua hoạt động Tóa
án nhân dân xét tính hợp pháp của cuộc đình công không được thi hành trên
thực tế, chưa cuộc đình công nào được Tòa án thụ lý và giải quyết. Để giải
quyết đình công không đúng trình tự thủ tục, nhiều địa phương đã thành lập tổ
công tác giải quyết đình công không theo trình tự thủ tục, tuy nhiên chưa phù



Hạnh “Đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam” năm 2008; cùng nhiều
khóa luận tốt nghiệp khác.


10

Vấn đề đình công và giải quyết đình công cũng được đề cập trong một số
bài tạp chí như: “Pháp luật đình công và giải quyết đình công nhìn từ góc độ
thực tiễn” - Tiến sỹ Đào Thị Hằng, đăng trên Tạp chí luật học số 5/2004;
“Những bất cập của pháp luật về giải quyết đình công ở Việt Nam hiện nay và
môt số kiến nghị” - Thạc sỹ Đỗ Ngân Bình, tạp chí Luật học số 3/2004; “Một
số ý kiến về luật sửa đổi bổ sung một số điều của BLLĐ về giải quyết tranh
chấp lao động và đình công” - Thạc sỹ Đỗ Ngân Bình, tạp chí Luật học
6/2004.
Viện khoa học pháp lý thuộc Bộ Tư pháp cũng đã giành một chuyên đề
cho vấn đề đình công và giải quyết đình công, số chuyên đề 12/2011, tên
chuyên đề: “Thực trạng đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam”, chịu
trách nhiệm xuất bản Giáo sư, Tiến sỹ Lê Hồng Hạnh.
Sau khi BLLĐ 2012 có hiệu lực, đã có một số công trình nghiên cứu về
đình công và giải quyết đình công như: Luận văn thạc sỹ luật học của Thạc sỹ
Chử Thị Xuyên năm 2013 “Những điểm mới về tranh chấp lao động và đình
công trong Bộ luật Lao động năm 2012”; Luận văn thạc sỹ luật học của Thạc
sỹ Hà Thị Hoa Phượng năm 2013 “Đình công và giải quyết đình công theo Bộ
luật Lao động năm 2012”.
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu chỉ có thể đánh giá quy định của
pháp luật dựa trên lập luận phân tích, chưa dựa trên thực tiễn bởi khi đó
BLLĐ 2012 vừa có hiệu lực, quá trình thực thi chưa bộc lộ nhiều bất cập.
Hơn nữa, chưa có công trình nào nghiên cứu về tình hình đình công và giải
quyết đình công trên địa bàn tình Bắc Ninh. Vì vậy, việc nghiên cứu những
tồn tại của pháp luật đình công và giải quyết đình công dựa trên thực tiễn thi

luật đình công và giải quyết đình công trên địa bàn tỉnh.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Luận văn hướng tới trả lời các câu hỏi sau:
- Thế nào là đình công và giải quyết đình công?
- Pháp luật về đình công và giải quyết đình công Việt Nam phát triển qua
các thời kỳ như thế nào?
- Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về đình công và giải quyết
đình công?
- Tình hình đình công trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra như thế nào?
- Từ những bất cập của pháp luật và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh, cần những kiến nghị gì?
6. Phương pháp nghiên cứu


12

Luận văn được thực hiện trên cơ sở nắm vững quan điểm của Đảng và
Nhà nước ta trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó luôn khẳng định quyền đình công là
quyền của NLĐ. Luận văn vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận của
triết học Mác - Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật làm cơ sở nghiên cứu
các vấn đề liên quan đến đình công và giải quyết đình công.
Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
Phương pháp mô tả, diễn giải, lịch sử để làm rõ các vấn đề lý luận liên
quan đến đình công và giải quyết đình công;
Phương pháp phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, so sánh pháp luật để
phân tích những quy định của pháp luật lao động hiện hành so với những quy
định trước đây, pháp luật lao động Việt Nam so với pháp luật lao động quốc
tế;
Phương pháp tổng hợp, phân tích, xã hội học, điển hình hóa được sử dụng

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐÌNH CÔNG, GIẢI
QUYẾT ĐÌNH CÔNG
1.1. Những vấn đề lý luận về đình công
1.1.1. Khái niệm đình công
Đình công là hiện tượng xảy ra tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị
trường, nó xảy ra như một biểu hiện của sự bế tắc trong quan hệ giữa NLĐ
với NSDLĐ, hoặc đôi khi giữa NLĐ với một chủ thể khác. Đình công là một
vấn đề phức tạp, để có thể hiểu rõ về bản chất của vấn đề này, cần xem xét
đình công dưới ba góc độ: xã hội, kinh tế, pháp lý.
Dưới góc độ xã hội, đình công là một hiện tượng có tính quần chúng, vì
đình công là sự ngừng việc được thực hiện bởi tập thể NLĐ. Đình công còn
mang tính liên kết cao giữa các cá nhân bởi sự ngừng việc được thực hiện một
cách có tổ chức. Tập thể lao động đình công mang những tính chất của một
“đám đông”, cụ thể: thứ nhất, trong đám đông, các thành viên của nó vô danh,
cái vô danh trong đám đông khiến người ta cảm thấy một sự an toàn và được
bảo vệ nhất định; thứ hai, đám đông gây phấn khích, số đông cộng hưởng và
tạo ra một năng lượng đặc biệt, một sự hưng phấn có tính lây lan; thứ ba đám
đông chuyển động, trăm người như một đều cùng thực hiện một hành vi nào
đấy. Với tất cả những tính chất trên, đám đông làm giảm đáng kể ý thức trách
nhiệm của mỗi người về hành vi của mình1. Với những tính chất này đình
công là hiện tượng có khả năng gây mất ổn định đối với trật tự xã hội đối với
các cuộc đình công có quy mô lớn, có sự tham gia đông đảo của NLĐ, “hiệu
ứng đám đông” kết hợp với những thành phần quá khích sẽ khiến cuộc đình
công phát triển theo chiều hướng xấu, có thể xuất hiện hiện tượng phá hoại tài
sản của NSDLĐ, hoặc gây ra thương tích. Tuy nhiên, ở một góc nhìn khác,
đình công là một biểu hiện của việc đảm bảo quyền dân chủ trong lao động,
bên yếu thế được thực hiện quyền để bảo vệ lợi ích của mình.
Dưới góc độ kinh tế, đình công là biện pháp đấu tranh của NLĐ nhằm bảo
vệ các quyền và lợi ích kinh tế. Trong thị trường lao động, quan hệ lao động

tham gia và khởi xướng của công đoàn hoặc các nhóm công nhân. Chúng
cũng khác nhau về thời gian và ý nghĩa từ những cuộc biểu tình ngắn nhằm
mục đích thương lượng cho tới đấu tranh lao động và chính trị lâu dài.
Những người tham gia đình công vẫn cho rằng họ là những NLĐ của doanh
nghiệp với quyền được trở lại làm việc khi vụ tranh chấp được giải quyết3.
2

Đỗ Mạnh Cường (2011), “Các chủ thể trong quan hệ lao
http://quanhelaodong.blogspot.com/2011/10/cac-chu-trong-quan-he-lao-ong-tap.html,
1/7/2016.

động tập
truy
cập

thể”,
ngày


16

ILO đã đưa ra một khái niệm khá rõ ràng, bao quát được hầu hết các loại đình
công có thể xảy ra trên thực tế.
Pháp luật nhiều nước trên thế giới đã ghi nhận quyền đình công tại hiến
pháp hay luật chuyên ngành. Luật Lao động Campuchia định nghĩa “một cuộc
đình công là việc ngừng làm việc phối hợp bởi một nhóm người lao động diễn
ra trong phạm vi một doanh nghiệp hoặc một cơ sở nhằm thỏa mãn nhu cầu
của họ từ người sử dụng lao động như một điều kiện để họ làm việc”. Luật về
giải quyết tranh chấp lao động tập thể của Ba Lan coi “Đình công là sự ngừng
việc tập thể của người lao động nhằm mục đích giải quyết tranh chấp liên

17

NSDLĐ. NLĐ nghỉ việc không được sự đồng ý của NSDLĐ mà không có lý
do chính đáng có thể bị xử lý kỷ luật lao động. Tuy nhiên trong trường hợp
xảy ra bất đồng giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động hay một chủ
thể khác, tập thể lao động có thể ngừng việc nhằm gây áp lực buộc chủ thể kia
phải chấp nhận các yêu sách. Sự ngừng việc này có nhiều dạng, nhiều mức độ
khác nhau, có thể là ngừng việc một cách triệt để, tức là không thực hiện các
công việc theo các quy định và thỏa thuận hợp pháp của các bên, cũng có thể
là sự nghỉ việc lẻ tẻ, làm việc cầm chừng, không sử dụng hết công suất máy
móc, thời gian làm việc, không thực hiện một phần công việc theo thỏa thuận
(hay còn gọi là lãn công). Đa số các nước trên thế giới chỉ công nhận sự
ngừng việc triệt để là một biểu hiện của đình công, đối với các quốc gia này,
hành vi lãn công có thể bị xử lý kỷ luật lao động. Một số ít các quốc gia như
Mỹ, Na Uy, Malayxia, Nga lại công nhận việc ngừng việc không triệt để cũng
là một biểu hiện của đình công.
Biểu hiện ngừng việc của NLĐ tham gia đình công chỉ có tính chất tạm
thời, tức là chỉ tạm ngừng quan hệ lao động. Trong ý thức của NLĐ, sự ngừng
việc này chỉ là trong một khoảng thời gian nhất định chứ họ không dự định
nghỉ việc lâu dài, không bỏ việc và không đi làm cho người khác. Theo ILO
“những người tham gia đình công vẫn cho rằng họ là những NLĐ của doanh
nghiệp có quyền được trở lại làm việc khi vụ tranh chấp được giải quyết”.
Theo đó, ngừng việc chỉ là cách phản ứng, không phải là mục đích mà họ
mong muốn đạt được. Do đó, trong thời gian đình công, quan hệ lao động vẫn
tồn tại và NLĐ vẫn tiếp tục làm việc sau đình công.
Thứ hai, đình công có tính tập thể.
Đình công là quyền của mỗi cá nhân NLĐ nhưng thực hiện đình công bao
giờ cũng là hành vi mang tính tập thể. Sự tham gia của tập thể lao động vừa là
một trong các biểu hiện bên ngoài của đình công, vừa là một dấu hiệu không
thể thiếu của đình công. Tính tập thể của một cuộc đình công phải thỏa mãn

Như vậy, nếu chỉ có một vài, một số NLĐ hoặc một nhóm nhỏ ngừng việc
mà mỗi người vì những lý do khác nhau và không liên quan đến nhau thì chỉ
là sự ngừng việc của những cá nhân. Thông thường, nếu cá nhân tự ý ngừng
việc nhằm gây sức ép với NSDLĐ sẽ bị coi là vi phạm kỷ luật lao động và có
thể phải chịu các hình thức kỷ luật.
Đỗ Ngân Bình (2005), “Pháp luật về đình công và giải quyết đình công ở Việt Nam trong điều kiện kinh tế
thị trường và hội nhập quốc tế”, Luận án Tiến sỹ luật học, đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.23,24.
6


19

Thứ ba, đình công phải xuất phát từ sự tự định đoạt của NLĐ.
Đây là dấu hiệu về mặt ý chí của những NLĐ, thể hiện ở việc họ tự mình
quyết định ngừng việc, tham gia đình công trong khi vẫn có đầy đủ những
điều kiện để làm việc. Đình công là hành vi của tập thể nhưng lại là quyền của
từng cá nhân, hành vi của tập thể tồn tại trên cơ sở đảm bảo quyền của cá
nhân, tức là mỗi cá nhân NLĐ phải được thực hiện quyền tự định đoạt trong
việc tham gia đình công. Quyền tự định đoạt còn thể hiện ở việc cá nhân được
lựa chọn một hành vi trong nhiều hành vi, tức là NLĐ lựa chọn việc tham gia
đình công khi vẫn có thể tiếp tục làm việc, không do yếu tố khách quan mà
NLĐ buộc phải ngừng việc.
Nếu hành động ngừng việc của NLĐ không xuất phát từ ý chí chủ quan
của NLĐ thì sẽ không được coi là đình công, ví dụ như trường hợp tập thể lao
động phải ngừng việc do bị người khác bắt buộc, cưỡng ép; ngừng việc do
nguyên nhân bất khả kháng như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm,
địch họa… hay ngừng việc do lỗi của NSDLĐ hoặc do lỗi của NLĐ mà bản
thân họ không muốn điều đó xảy ra.
Thứ tư, mục đích của đình công là nhằm đạt được yêu sách của những
người tham gia đình công.

trong phạm vi một ngành hoặc liên ngành trong phạm vi toàn quốc tiến hành.
Tổng đình công là cuộc đình công do giới lao động tiến hành trên phạm vi
toàn quốc. Pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ công nhận đình công trong
phạm vi doanh nghiệp là hợp pháp.
Căn cứ vào tính hợp pháp của cuộc đình công, đình công bao gồm: đình
công hợp pháp và đình công bất hợp pháp.
Đình công hợp pháp là đình công đảm bảo được đầy đủ các điều kiện do
pháp luật quy định về mục đích đình công, đối tượng được phép đình công,
thời điểm có quyền đình công, thủ tục chuẩn bị đình công, quyền lãnh đạo
đình công và phương thức đình công. Đình công bất hợp pháp là đình công
không tuân theo các điều kiện trên.
Căn cứ vào mục đích của đình công, đình công được chia làm hai loại là
đình công kinh tế và đình công chính trị.
Đình công kinh tế là đình công được tập thể lao động tổ chức vì quyền và
lợi ích về kinh tế liên quan trực tiếp đến nghề nghiệp của họ không được đảm
bảo. Đình công chính trị là việc tập thể người lao động ngừng việc để phản
đối những chính sách thuần túy về chính trị, những chính sách đối nội, đối
ngoại của đất nước mà không ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích nghề


21

nghiệp của họ. Đối với đình công kinh tế, NSDLĐ sẽ là chủ thể bị hướng tới.
Đối với đình công chính trị, tập thể lao động sẽ đưa ra yêu sách với Nhà nước.
1.2. Những vấn đề lý luận về giải quyết đình công
1.2.1. Khái niệm về giải quyết đình công
Trên thực tế, chưa có một định nghĩa nào về giải quyết đình công. Để giải
quyết đình công cần có hoạt động xem xét, phân tích, đánh giá và đưa ra kết
luận trên cơ sở các quy định của pháp luật. Hoạt động này không phải chủ thể
nào cũng thực hiện được, mà chỉ có thể là những cá nhân, cơ quan, tổ chức có

Do đa số các cuộc đình công xuất phát từ tranh chấp lao động tập thể nên
hoạt động này thông thường sẽ là giải quyết tranh chấp lao động dẫn đến đình
công. Việc giải quyết nguyên nhân của cuộc đình công chủ yếu do các bên tự
quyết định nhằm đảm bảo ở mức cao nhất sự tự định đoạt của các bên, phù
hợp với bản chất của đình công là cuộc đấu tranh kinh tế do người lao động
tiến hành nhằm gây sức ép với chủ thể đối diện. Toà án khi giải quyết đình
công thường chỉ xét tính hợp pháp của cuộc đình công, việc giải quyết nguyên
nhân của cuộc đình công chỉ được tiến hành khi có đơn khởi kiện theo thủ tục
giải quyết tranh chấp lao động.
Hoạt động giải quyết hậu quả của cuộc đình công và những vấn đề liên
quan đến cuộc đình công.
Giải quyết đình công nếu chỉ dừng lại ở việc giải quyết tính hợp pháp, giải
quyết nguyên nhân của cuộc đình công sẽ không toàn diện, bởi lẽ, nó còn gắn
liền với hoạt động giải quyết hậu quả của cuộc đình công. Giải quyết hậu quả
của cuộc đình công thường gắn với trách nhiệm (hay chế tài) nếu có của các
bên trong quá trình đình công và nó liên quan mật thiết đến quá trình xem xét
tính hợp pháp của cuộc đình công. Một cuộc đình công bất hợp pháp, ngoài
việc phải ngừng cuộc đình công, tập thể người lao động có thể phải bồi
thường theo quy định của pháp luật. Như vậy, theo quan điểm này, giải quyết
đình công sẽ bao gồm hoạt động xét tính hợp pháp của cuộc đình công và giải
quyết nguyên nhân, hậu quả của cuộc đình công.
- Quan điểm theo nghĩa hẹp cho rằng việc giải quyết đình công chỉ là hoạt
động do Tòa án tiến hành nhằm xác định tính hợp pháp hoặc bất hợp pháp của
cuộc đình công trên cơ sở các quy định của pháp luật. Do đó, giải quyết đình
công sẽ không bao gồm việc giải quyết tranh chấp lao động là nguyên nhân
của cuộc đình công hay giải quyết hậu quả của cuộc đình công. Quan điểm
thứ hai dựa trên một số lý luận như sau: “đình công” và “tranh chấp lao động
tập thể” là hai vấn đề quan hệ mật thiết với nhau, tuy nhiên không đồng nhất
với nhau, vì vậy giải quyết đình công không bao gồm giải quyết việc giải
quyết tranh chấp lao động tập thể. Hơn nữa, có những cuộc đình công xuất

ảnh hưởng lớn đến quốc gia. Khi cuộc đình công được tuyên bố là bất hợp
pháp thì tập thể NLĐ phải ngừng ngay cuộc đình công để trở lại làm việc.
Cuộc đình công bất hợp pháp được ngăn chặn kịp thời, giảm thiểu những rủi
ro đối với quốc gia.
8

Hà Thị Hoa Phượng, tlđd chú thích 3, tr.18.


24

Thứ hai, giải quyết đình công có vai trò bảo vệ lợi ích chính đáng của các
bên trong quan hệ lao động.
Khi tiến hành đình công, những người lao động mong muốn sẽ gây được
sức ép với chủ thể đối diện để đạt được các quyền và lợi ích nghề nghiệp.
Thông qua quá trình giải quyết đình công, các yêu sách của người lao động có
thể được giải quyết nếu yêu sách đó là hợp pháp và chính đáng. Ngay cả trong
trường hợp cuộc đình công là bất hợp pháp, đình công vẫn gây sự chú ý của
công luận và đặc biệt là của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các
yêu cầu của người lao động.
Đối với người sử dụng lao động, việc giải quyết đình công nhanh chóng
và hiệu quả sẽ góp phần hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực do đình công gây ra
đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Đình công khi xảy ra sẽ để
lại những hậu quả như làm ngừng trệ sản xuất, đảo lộn trật tự quản lý của
doanh nghiệp, làm giảm năng suất và chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến
các hợp đồng kinh tế đã ký kết, làm giảm uy tín của doanh nghiệp trên thương
trường. Vì những tác động tiêu cực trên của đình công nên việc giải quyết
đình công cần thực hiện nhanh chóng, kịp thời, hạn chế đến mức thấp nhất
các thiệt hại xảy ra cho người sử dụng lao động.
Giải quyết đình công còn bao gồm việc giải quyết quyền lợi của các bên

một quốc gia. Sự điều chỉnh bằng pháp luật đối với đình công và giải quyết
đình công là cần thiết, đảm bảo phát huy những mặt tích cực và kiểm soát
được những vấn đề tiêu cực mà đình công mang lại.
Thứ nhất, việc điều chỉnh pháp luật về đình công và giải quyết đình công
nhằm góp phần định hướng cho sự phát triển của quan hệ lao động theo ý chí
chủ quan của nhà nước. Đảm bảo việc đình công không gây ảnh hưởng lớn
đến chính trị, sự ổn định cho xã hội và sự phát triển của nền kinh tế.
Thứ hai, việc điều chỉnh pháp luật đối với đình công giúp bảo vệ quyền và
lợi ích cho bên yếu thế trong quan hệ lao động, là NLĐ. Mặc dù pháp luật
quốc tế thừa nhận quyền đình công của NLĐ, tuy nhiên chỉ khi pháp luật từng
quốc gia cụ thể hóa bằng những quy định cụ để, đảm bảo khung pháp lý cho
NLĐ tiến hành đình công, khi đó NLĐ mới có cơ sở tiến hành thực hiện
quyền dân chủ của mình, bởi đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều
kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện.
Thứ ba, pháp luật đình công giúp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của NSDLĐ.
Mặc dù là bên có lợi thế trong quan hệ lao động, nhưng trước những tính chất
cũng như diễn biến phức tạp của đình công, NSDLĐ cũng sẽ có nguy cơ gặp



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status