BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHẠM QUỐC CẢNH
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC
ĐẤT ĐAI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60380107
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Dung
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc.
Vậy, tôi viết lời cam đoan này kính đề nghị Khoa Pháp luật kinh tế, Khoa
Sau đại học – Trường Đại học Luật Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
LA. ............................................................................................................................27
2.1. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI .........................................................................................................27
2.1.1. Nguyên tắc giải quyết khiếu nại. ..........................................................27
2.2.2. Quyền và nghĩa vụ của ngƣời khiếu nại, ngƣời bị khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai. ................................................................................................29
2.2.3. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại. ........................................................33
2.2.4. Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại ..................................................35
2.2.5. Thi hành quyết định giải quyết khiếu nại ...........................................40
2.2. THỰC TIỄN THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA. ...............42
2.2.1. Thực tiễn hoạt động giải quyết khiếu nại tại tỉnh Sơn La .................42
2.2.2. Đánh giá về công tác giải quyết khiếu nại trên địa bàn tỉnh Sơn La 47
Chƣơng 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GÓP PHẦN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI ......................62
3.1. NHỮNG YÊU CẦU ĐỐI VỚI VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI. ........................62
3.1.1. Về chính trị - xã hội ...............................................................................62
3.1.2. Về kinh tế. ...............................................................................................63
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU
NẠI. .......................................................................................................................64
3.3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRONG VIỆC THỰC THI
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT
ĐAI. .......................................................................................................................67
3.3.1. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về pháp luật nói chung,
pháp luật đất đai, pháp luật khiếu nại nói riêng..........................................67
3.3.2. Nâng cao năng lực quản lý đất đai và năng lực giải quyết khiếu nại
về đất đai cho cán bộ, công chức hành chính. ...............................................70
tham gia hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giám sát hoạt động của các cơ
quan nhà nước, công chức nhà nước. Mặt khác, khiếu nại còn là một kênh thông tin
khách quan phản ánh việc thực thi quyền lực của bộ máy nhà nước, của cán bộ,
công chức Nhà nước. Công tác giải quyết khiếu nại không những có vai trò quan
trọng trong quản lý, mà còn thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân.
Thông qua hoạt động giải quyết khiếu nại, Đảng và Nhà nước kiểm tra tính đúng
đắn, sự phù hợp của đường lối, chính sách, pháp luật. Do vậy, hoạt động này trở
thành cơ sở thực tiễn để hoàn thiện cơ chế, chính sách để nâng cao hiệu quả quản
2
lý, góp phần đấu tranh chống tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan
nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, ổn định trật tự xã hội.
Chính vì thế, giải quyết khiếu nại là một vấn đề được Đảng, Nhà nước và nhân dân
đặc biệt quan tâm. Trong những năm qua, hoạt động này đã có nhiều chuyển biến
tích cực, góp phần phát huy tính dân chủ, công khai và tăng cường pháp chế xã hội
chủ nghĩa.
Tuy nhiên, thực tiễn công tác giải quyết khiếu nại cho thấy mặc dù các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền đã có nhiều nỗ lực trong quá trình thực hiện, nhưng
hiệu quả chưa cao. Tình hình đơn thư khiếu nại gửi tràn lan, vượt cấp và việc giải
quyết còn chậm, không dứt điểm, kịp thời, số vụ khiếu nại tồn đọng còn nhiều. Hệ
lụy của tình trạng nêu trên, là tình hình khiếu nại trong lĩnh vực đất đai nói có chiều
hướng gia tăng cả về số lượng, quy mô và mức độ phức tạp. Điều đó trở thành vấn
đề hết sức bức xúc, ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự an ninh và ổn định chính trị,
nhiều nơi đã trở thành điểm nóng, thu hút sự quan tâm chú ý của toàn xã hội.
Vấn đề cơ bản hiện nay là phải hoàn thiện các quy định pháp luật về giải
quyết khiếu nại; khắc phục những điểm bất hợp lý trong cơ chế giải quyết khiếu nại
trong lĩnh vực đất đai. Thực tiễn cho thấy, những rào cản từ hệ thống pháp luật và
cơ chế thực thi đã và đang làm cho nhiều vụ việc trở nên gay gắt, phức tạp và kéo
công dân Việt Nam hiện nay‟; Luận án tiến sĩ luật học của Trần Văn Sơn: “ Tăng
cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo của
các cơ chế hành chính nhà nước hiện nay”…
Nhóm công trình khoa học nghiên cứu giải quyết khiếu kiện về đất đai có các
công trình tiêu biểu như:
- Các công trình khoa học đăng tải trên các tạp chí: TS Trần Kim Cúc và Ths
Nguyễn Thị Phượng với bài Khiếu kiện về đất đai thực trạng và giải pháp, Tạp chí
quản lý nhà nước, tháng 10/2003; Nguyễn Thị Mai với bài Những quy định mới của
Luật đất đai năm 2003 về khởi kiện vụ án hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh
vực quản lý đất đai, Tạp chí Luật học số 4/2005; Phạm Thanh Hải Toà án nhân dân
huyện Đan Phượng, Hà Tây với bài Trao đổi thêm về việc áp dụng Điều 136 Luật
Đất đai năm 2003, Tạp chí Toà án tháng 5/2005; Tiến sĩ Nguyễn Văn Cường với
bài Những vấn đề cần trao đổi khi áp dụng Điều 136 Luật Đất đai năm 2003, Tạp
chí toà án nhân dân tháng 9/2005; Ths Trần Quang Huy với bài Luật đất đai năm
2003 và vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, Tạp chí luật học số 3/2005; Ths Trần Văn
Sơn với bài Tăng cường giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan hành
chính nhà nước- giải pháp tăng cường pháp chế XHCN, Tạp chí Lập pháp tháng
8/2005…
4
Nhóm các chuyên đề và tài liệu chuyên khảo khác như:
- Chuyên đề: “Xây dựng quy trình nghiệp vụ giải quyết khiếu nại hành
chính”, Đề tài nghiên cứu khoa học, Thanh tra nhà nước, 2004… Một số tài liệu
chuyên khảo, giáo trình phục vụ nghiên cứu và giảng dạy có đề cập đến khiếu nại,
tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Cuốn: “ Tìm hiểu pháp lệnh khiếu nại, tố
cáo của công dân” của PGS.TS Lê Bình Vọng, Nxb Pháp lý Hà Nội, 1991; “ Tìm
hiểu pháp luật về khiếu nại, tố cáo” PGS.TS Phạm Hồng Thái (chủ biên), Nxb
Thành phố Hồ Chí Minh, 2003…
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Pháp luật về giải quyết khiếu nại được giới hạn trong phạm vi giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai đã được cụ thể hóa trong Luật khiếu nại năm 2011
trên địa bàn tỉnh Sơn La.
+ Về không gian: đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Sơn La chủ yếu là các quy định của pháp luật hiện
hành về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai và công tác giải quyết giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Sơn La, tuy nhiên có khái quát tình
hình giải quyết khiếu nại của cấp xã và cấp huyện thuộc tỉnh Sơn La.
+ Về thời gian: Khi đánh giá thực trạng chỉ khảo sát ở Sơn La với tư cách là
điển hình để làm cơ sở luận giải cho những vấn đề chung trong khoảng thời gian từ
năm 2011 đến năm 2015.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Góp phần làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất
đai và đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại
tỉnh Sơn La. Từ đó đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng
cao hiệu quả việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai nói chung và tại tỉnh
Sơn La hiện nay nói riêng.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Những vấn để lý luận về khiếu nại, giải quyết khiếu nại và pháp luật về giải
quyết khiếu nại? giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai?
- Thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết khiếu nại trên địa bàn tỉnh Sơn La?
- Các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh
Sơn La?
6. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Để giải quyết yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn chủ yếu sử dụng phương
pháp nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
03 chương.
- Chương 1: Lý luận về giải quyết khiếu nại và pháp luật về giải quyết khiếu
nại trong lĩnh vực đất đai
7
- Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai và thực tiễn
thi hành tại tỉnh Sơn La.
- Chương 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
8
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
1.1. LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
1.1.1. Khái niệm về khiếu nại.
1.1.1.1. Khái niệm chung về khiếu nại
Khiếu nại là một hiện tượng xã hội được quan niệm và hiểu theo nhiều góc
độ khác nhau. Khiếu nại là hoạt động diễn ra khá thường xuyên và phổ biến, do đó
cụm từ khiếu nại được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội.
Khiếu nại là gì? Khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: Complant, nghĩa là “sự
phàn nàn, phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan”1
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, khiếu nại là thắc mắc, đề nghị xem xét lại
những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm, đã chuẩn y.2
Về phương diện xã hội, khiếu nại là việc công dân ca thán, phàn nàn, phản
đối, không chấp nhận một việc làm (hành vi) hoặc một quyết định của một tổ chức
chức đề nghị cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào đó xem xét, sửa chữa lại một việc
làm mà họ cho rằng là không đúng đắn, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến
quyền, lợi ích chính đáng của họ và đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không
đúng gây ra” 5
Tổng hợp các khái niệm về khiếu nại nêu trên thì ta có thể hiểu khiếu nại
theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng: Khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi khi có căn cứ
cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm hại đến quyền, lợi ích của mình. Các quyết
định, hành vi là đối tượng của khiếu nại là quyết định, hành vi trái pháp luật hoặc
không đúng quy định của tổ chức, cộng đồng.
Theo nghĩa hẹp: Khiếu nại là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ
quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi trái pháp luật khi có
căn cứ cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
mình. Lúc này, khiếu nại chỉ hướng vào phạm vi hoạt động của bộ máy nhà nước và
được thực hiện trên cơ sở nhận định, đánh giá về tính trái pháp luật của các quyết
định, các hành vi.
Căn cứ vào tính chất của quyết định, hành vi và các quan hệ pháp luật phát
sinh khiếu nại được phân thành hai dạng cơ bản sau:
- Khiếu nại hành chính: khiếu nại về định hành chính hoặc hành vi hành
chính trái pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền trong hoạt
động quản lý của các cơ quan hành chính nhà nước. Đó là việc cá nhân, cơ quan, tổ
4
I.A Azôvkin, S.M.Korneev, A.A. Menikov… (1986), Thuật ngữ pháp lý phổ thông, (Nguyễn Quốc
Việt dịch, Nguyễn Văn Luật hiệu đính) NXB Pháp lý, Hà Nội. (tr.206)
5
Nguyễn Văn Thanh, Đinh Văn Minh (2004), Một số vấn đề về đổi mới cơ chế giải quyết khiếu kiện hành chính
ở Việt Nam, Nxb Tư pháp, Hà Nội. (tr.11)
nhân nào. Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan nhà nước xem xét và giải quyết
trong thời hạn pháp luật quy định…”.6
Cụ thể hoá Điều 74 Hiến pháp 1992, Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày
6
Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992), Hiến pháp 1992 (sửa đổi 2001). (Điều 74)
11
11 tháng 11 năm 2011 quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định đề nghị cơ quan, tổ chức,
cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của
cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính
nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết
định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.”7
Như vậy, khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân. Vì vậy
mọi công dân Việt Nam đều có quyền khiếu nại, ngay cả khi người đó phạm tội
hình sự và có thể bị hạn chế một số quyền khác theo quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, việc thực hiện quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính
cũng có những điều kiện nhất định. Chẳng hạn như điều kiện về mối quan hệ nhân
quả giữa quyết định, hành vi hành chính với hậu quả xảy ra trên thực tế - tức quyền,
lợi ích của người khiếu nại phải liên quan trực tiếp đến quyết định hành chính, hành
vi hành chính bị khiếu nại hoặc việc khiếu nại phải thực hiện theo trình tự, thủ tục
được pháp luật quy định. Theo quy định của Luật Khiếu nại thì công dân, cơ quan,
tổ chức hoặc cán bộ, công chức có quyền khiếu nại quyết định hành chính, hành vi
hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ
quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức. Cơ quan, tổ
chức có quyền khiếu nại là cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã
hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật9. Khác với
quyết định hành chính, hành vi hành chính không thể thực hiện bằng văn bản, đó có
thể là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, công chức của cơ quan hành chính
nhà nước đã thực hiện không đúng hoặc làm trái quy định của pháp luật, cũng có
thể là việc không thực hiện trách nhiệm công vụ mà theo quy định của pháp luật thì
họ phải thực hiện. Chẳng hạn, pháp luật quy định trong một thời hạn nhất định đối
với hộ gia đình cá nhân nếu có đủ giấy tờ hợp lệ, sử dụng đất ổn định trước
15/10/1993, không có tranh chấp, không vi phạm quy hoạch và có đơn xin cấp Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất mà không được cấp thì họ có quyền khiếu nại về
việc chậm chễ đó.
1.1.1.2. Khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
Khiếu nại trong lĩnh vực đất đai là sự phản ứng của cá nhân, cơ quan, tổ chức
trước các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền thông qua việc yêu cầu các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Có thể hiểu: Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề
8
9
Quốc hội nước CHXHCNVN (2011), Luật khiếu nại năm 2011. (khoản 8, Điều 2)
Quốc hội nước CHXHCNVN (2011), Luật khiếu nại năm 2011. (khoản 9, Điều 2)
13
nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi
hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi hành
chính đó xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình.10
Trong quan niệm khiếu nại về đất đai có thể nhận thấy chủ thể, khách thể và
Quốc hội nước CHXHCNVN (2013), Luật đất đai năm 2013; (khoản 1, Điều 204)
14
đai.
Thứ hai: Đối tượng khiếu nại là các quyết định hành chính, hành vi hành
chính trong lĩnh vực đất đai. Những quyết định hành chính và hành vi hành chính
đó phải gây thiệt hại trực tiếp cho cá nhân, tổ chức khiếu nại.
- Đặc điểm quan trọng của quyết định hành chính trong lĩnh vực đất đai
thuộc đối tượng khiếu nại là loại quyết định: được áp dụng một lần đối với một
hoặc một số đối tượng cụ thể; được thể hiện dưới hình thức văn bản như quyết định
giao đất, quyết định thu hồi đất, quyết định trưng dụng đất, quyết định cho phép
chuyển mục đích sử dụng đất …
- Hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại là một loại hành
vi công vụ do các cán bộ công chức trong cơ quan Nhà nước thực hiện nhằm duy trì
và đảm bảo chức năng quản lý Nhà nước về đất đai. Do vậy, đó là hành vi của cán
bộ, công chức Nhà nước khi thực hiện các công việc thuộc phạm vi quản lý Nhà
nước về đất đai như giao đất, cho thuê đất, trưng dụng đất, định giá đất, bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất
đai…
Thứ ba: khiếu nại về đất đai thường gây nên những hậu quả như: mất ổn định
về tình hình chính trị, ảnh hưởng tới hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai, sự
đoàn kết trong nội bộ nhân dân, đình trệ sản xuất và không những ảnh hưởng trực
tiếp đến lợi ích của bản thân người khiếu nại mà còn làm tổn hại thiệt đến lợi ích
của Nhà nước và xã hội.
1.1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
- Nguyên nhân về kinh tế.
Trong hoạt động bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chưa giải quyết mối
quan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về
quyết của các địa phương không thống nhất trong việc phân bổ lại đất đai đã dẫn
đến nhiều khiếu kiện.
Nhiều vụ việc khiếu nại về đất đai, có vụ việc trải qua nhiều thời kỳ thực
hiện chính sách pháp luật về đất đai, hồ sơ tài liệu bị phân tán, mất mát hư hỏng,
hiện trạng đất thay đổi nên khó xác định được nguồn gốc, diện tích dẫn đến công
tác giải quyết khiếu nại gặp nhiều khó khăn, khó giải quyết theo thời hạn luật định
vì vậy còn những vụ việc tồn đọng, kéo dài.
- Nguyên nhân về chính trị pháp lý.
Văn bản quy phạm pháp luật là căn cứ pháp lý duy nhất, vô cùng quan trọng
đối với công tác giải quyết khiếu nại về đất đai. Một hệ thống văn bản quy phạm
16
pháp luật hoàn chỉnh, thống nhất đầy đủ là môi trường thuận lợi và điều kiện tối
cần thiết để đảm bảo hiệu quả, chất lượng trong công tác giải quyết khiếu nại.
Thực tế hoạt động giải quyết khiếu nại về đất đai cho thấy hệ thống chính
sách pháp luật về đất đai trong thời gian dài chưa hoàn chỉnh, chưa đồng bộ, chưa
điều chỉnh hết được các quan hệ về đất đai, liên tục sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện.
Hầu hết các văn bản hướng dẫn thi hành đều ban hành chậm, chưa đảm bảo được
yêu cầu. Hệ thống văn bản vừa nhiều, vừa thiếu chặt chẽ, thống nhất, tính ổn định
không cao nên khó cập nhật, khó áp dụng.
Việc ban hành văn bản pháp luật về đất đai theo từng giai đoạn lịch sử, phát
triển của đất nước nên thiếu đồng bộ và còn chồng chéo, thiếu công bằng, người
hưởng chính sách sau được lợi hơn người hưởng chính sách trước (có một số
trường hợp những người không chấp hành pháp luật được lợi hơn người chấp hành
nghiêm pháp luật), từ đó dẫn đến so bì, khiếu kiện.
- Nguyên nhân về công tác quản lý.
Công tác quản lý đất đai cũng còn nhiều bất cập, hồ sơ địa chính chưa được
quan tâm đúng mức, chưa đầy đủ, không đủ cơ sở cho việc quản lý đất đai. Công
quyết kịp thời, còn né tránh, đùn đẩy hoặc cùng một cấp có nhiều quyết định nội
dung giải quyết khác nhau đối với một vụ việc, có những vụ việc tương tự như
nhau nhưng kết quả giải quyết lại trái ngược nhau, do đó người dân nghi ngờ không
tin tưởng vào cách giải quyết của chính quyền cấp đó gây khiếu kiện vượt cấp.
Một bộ phận nhỏ cán bộ, công chức thoái hóa, biến chất về phẩm chất đã lợi
dụng chức quyền có hành vi vụ lợi trong quản lý, sử dụng đất đai, nhũng nhiễu, để
lại những hậu quả nặng nề và gây ra những bức xúc trong dư luận xã hội, làm giảm
lòng tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước, là một trong những nguyên nhân
trực tiếp làm phát sinh khiếu nại và khó khăn cho hoạt động giải quyết khiếu nại.
- Nguyên nhân về trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành pháp
luật của người dân.
Việc tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật đất đai
nói chung, giải quyết khiếu nại về đất đai nói riêng cho những người làm công tác
giải quyết khiếu nại về đất đai và nhân dân còn bất cập, chưa hiệu quả, chưa đáp
ứng yêu cầu hiện nay, nên nhận thức của người dân về chính sách, pháp luật đất đai
và pháp luật về khiếu nại nhìn chung còn nhiều hạn chế. Có một số trường hợp
người dân mặc dù hiểu rõ các quy định của pháp luật song cố tình không thực hiện
do không thoả mãn các yêu cầu cá nhân nên vẫn tiếp tục đi khiếu nại, có trường
hợp lợi dụng để kích động, trục lợi....v.v. Bên cạnh đó, công tác vận động, giải
thích, hướng dẫn công dân thực hiện khiếu nại, tố cáo đúng pháp luật chưa được
18
làm tốt; chưa xử lý nghiêm khắc những hành vi kích động, xúi giục của bọn xấu và
trừng trị những kẻ cố tình gây rối, coi thường, chống đối pháp luật. Đó cũng là
nguyên nhân làm phát sinh khiếu nại.
Việc xác định các nguyên nhân dẫn đến khiếu nại về đất đai nêu trên có ý
nghĩa quan trọng để có thể tìm ra những đối sách hợp lý, góp phần giải quyết khiếu
nại đúng pháp luật, hiệu quả; đồng thời có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của
nhà nước và xã hội.
1.1.2.2. Ý nghĩa của việc giải quyết khiếu nại về đất đai
Giải quyết khiếu nại về đất đai thể hiện trách nhiệm của Nhà nước trong việc
tôn trọng và bảo hộ theo đúng tuyên chỉ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, việc không ngừng tăng cường các biện pháp bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm
bảo cho pháp luật đất đai được triệt để thi hành, góp phần nâng cao hiệu quả của
hoạt động quản lý và sử dụng đất.
Thông qua việc kịp thời phát hiện những sai sót của quan cơ quan nhà nước,
cán bộ công chức nhà nước, đảm bảo hiệu lực pháp lý của một quyết định hành
chính hợp pháp. Cũng từ những hoạt động này mà nắm bắt được những điểm bất
hợp lý trong nội dung các quy định của pháp luật, cách thức thực thi pháp luật và sử
dụng làm nó căn cứ cho quá trình hoàn thiện pháp luật.
Việc giải quyết nhanh chóng, đúng pháp luật các khiếu nại về đất đai, gắn
với việc khôi phục các quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất; xử lý
nghiêm minh, những hành vi sai phạm sẽ càng củng cố thêm niềm tin của nhân dân
vào chính quyền, vào các đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước; làm cho
mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước ngày càng gắn bó bền chặt hơn.
Đồng thời góp phần duy trì trật tự hành chính trong quan hệ đất đai giữa cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền với công dân, cơ quan, tổ chức sử dụng đất.
Từ quá trình giải quyết khiếu nại mà nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn
của những người thi hành công vụ; loại trừ những hành vi vi phạm pháp luật xâm
phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, làm trong sạch đội ngũ
cán bộ, công chức có nhiệm vụ, quyền hạn trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Mặt khác, việc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền loại trừ các quyết định
hành chính được ban hành trái pháp luật còn có tác dụng phê phán, ngăn chặn
những hành vi vi phạm tác động xấu đến hoạt động của bộ máy Nhà nước, các cơ
quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đất đai.
quyết khiếu nại có liên quan đến lĩnh vưc đất đai nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các công dân, cơ quan, tổ chức khi bị xâm hại.
Như vậy, việc xác định các quan hệ xã hội thuộc phạm vi điều chỉnh của
pháp luật về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai cần gắn với mục tiêu tăng
cường hiệu quả của hoạt động giải quyết khiếu nại, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các chủ thể do pháp luật quy định, đồng thời đảm bảo các quyết định hành
21
chính, hành vi hành chính trong quản lý đất đai được thực hiện một cách minh bạch,
khách quan và đúng pháp luật.
Những quan hệ này đều chứa đựng các yếu tố hành chính phát sinh từ các
quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính giữa cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền với các tổ chức, cá nhân chịu sự tác động trực tiếp từ các quyết định đó và
có thể phân loại thành các nhóm sau:
- Nhóm các quan hệ phát sinh từ các quyết định hành chính, hành vi hành
chính trong việc xác lập quyền sử dụng đất. Ví dụ
+ Quyết định giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
+ Quyêt định công nhận quyền sử dụng đất…
- Nhóm các quan hệ phát sinh từ các quyết định hành chính, hành vi hành
chính trong quá trình thực hiện quyền. Ví dụ:
+ Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận sử dụng đất.
+ Quyết định thực hiện các nghĩa vụ tài chính về đất đai.
+ Quyết định xử phạt hành chính đối với hànhvi phạm pháp luật đất đai…
- Nhóm các quan hệ phát sinh từ các quyết định hành chính, hành vi hành
chính trong quá trình thực hiện việc chấm dứt quyền sử dụng đất. Ví dụ:
+ Quyết định thu hồi đất.
+ Quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất…
Việc phân loại các nhóm quan hệ nói trên, nhằm xác định đúng đối tượng