ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG ANH TUẤN
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI - QUA THỰC TIỄN TỈNH
THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN QUỐC SỬU
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 8
1.1. KHIẾU NẠI, KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH, KHIẾU NẠI
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 8
1.1.1. Khiếu nại 8
1.1.2. Khiếu nại hành chính 9
1.1.3. Khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 11
1.2. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 16
1.2.1. Quan niệm về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 16
1.2.2. Các nguyên tắc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 17
1.2.3. Các giai đoạn giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 20
1.2.4. Ý nghĩa của công tác giải quyết khiếu nại về đất đai 22
1.2.5. Tiêu chí đánh giá hiệu quả của hoạt động giải quyết khiếu nại
trong lĩnh vực đất đai 24
1.2.6. Các yếu tố tác động đến hiệu quả giải quyết khiếu nại trong lĩnh
vực đất đai 27
1.3. ĐIỀU CHỈNH PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 30
1.3.1. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại, người bị khiếu nại 30
1.3.2. Các trường hợp không thụ lý giải quyết khiếu nại 34 1.3.3. Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại trong lĩnh
vực đất đai 35
1.3.4. Thẩm quyền, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai 36
Kết luận chương 1 42
Chương 2: THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT
ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH THÁI NGUYÊN TRONG
THÁI NGUYÊN 76
3.2.1. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại 76
3.2.2. Kiện toàn tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức làm công
tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 85
3.2.3. Tổ chức tốt công tác tiếp công dân 87
3.2.4. Huy động sự tham gia của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội
vào công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 89
3.2.5. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai 93
3.2.6. Nâng cao hiệu quả hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật về
đất đai, khiếu nại 95
3.2.7. Quan tâm đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ công tác giải
quyết khiếu nại về đất đai 98
3.2.8. Ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác tiếp công dân,
giải quyết khiếu nại 98
Kết luận chương 3 99
KẾT LUẬN LUẬN VĂN 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ STT
Số ký hiệu
bảng
Tên bảng
Trang
Tỷ lệ vụ việc khiếu nại về đất đai theo các
khu vực
56
7.
Biểu đồ 2.7:
Nội dung khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn tỉnh
57 1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt; là tài
sản, nguồn lực to lớn của đất nước, là nguồn sống của nhân dân. Với vị trí, vai
trò quan trọng như vậy, trong những năm qua, đất đai đã góp phần quan trọng
thúc đẩy kinh tế, xã hội của nước ta phát triển mạnh mẽ, cải thiện đáng kể đời
sống của nhân dân. Với việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về đất
đai, đặc biệt là Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai
năm 2003, mới đây nhất là Luật Đất đai năm 2013, hệ thống quy phạm pháp
luật về đất đai đã từng bước được hoàn thiện, cơ bản đáp ứng yêu cầu công
tác quản lý nhà nước về đất đai trong các thời kỳ, phục vụ sự nghiệp phát
triển kinh tế, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và tạo điều kiện thuận lợi
cho cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức trong quản lý, sử dụng đất đai.
Quản lý nhà nước về đất đai là một hoạt động khó khăn, phức tạp, nhất
là đối với điều kiện, hoàn cảnh của nước ta - một đất nước còn non trẻ nhưng
thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai chưa cao; việc
giải quyết khiếu nại, giải quyết tranh chấp về đất đai có nơi làm chưa triệt để,
còn có biểu hiện ngại khó, ngại va chạm, chưa thực hiện tốt việc tổ chức đối
thoại với người khiếu nại; một số vụ việc đã thanh tra, kiểm tra, có kết luận
nhưng chậm ban hành quyết định giải quyết khiếu nại; kiến thức, ý thức tôn
trọng, chấp hành pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực
đất đai của một bộ phận cán bộ, công chức, nhân dân còn hạn chế…
Chính vì vậy, việc nghiên cứu những quy định của pháp luật về khiếu
nại và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai; đánh giá tình hình khiếu nại
trong lĩnh vực đất đai, kết quả thực hiện công tác giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên để làm rõ những ưu điểm, hạn 3
chế, nguyên nhân của những hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại về
đất đai, từ đó tìm ra quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải
quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh là vấn đề có ý nghĩa cả
về lý luận và thực tiễn.
Xuất phát từ mục đích và ý nghĩa đó, tôi lựa chọn Đề tài “Giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai - qua thực tiễn tỉnh Thái Nguyên” làm Luận
văn Cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ trước đến nay, trong khoa học pháp lý đã có nhiều bài viết, công
trình nghiên cứu về pháp luật khiếu nại hành chính, giải quyết khiếu nại hành
chính, cũng như khiếu nại về đất đai và giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất
đai. Từ nhiều hướng và mức độ tiếp cận khác nhau, các bài viết, công trình
nghiên cứu đã làm sáng tỏ những vấn đề mang tính lý luận về khiếu nại hành
chính, khiếu nại đất đai, thực trạng quy định của pháp luật về khiếu nại hành
chính, khiếu nại về đất đai, thực trạng công tác giải quyết khiếu nại hành
chính, khiếu nại đất đai, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp
Giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công tác giải phóng mặt bằng ở thành phố
Hà Nội; Trần Văn Anh (2010), Nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giải
quyết khiếu nại, tố cáo ở cấp xã của tỉnh Bắc Ninh; Trần Anh Hùng (2007),
Thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước
ở thành phố Hồ Chí Minh; Nguyễn Thị Lệ Hằng (2010), Giải quyết khiếu nại
trong lĩnh vực quản lý đất đai của Ủy ban nhân dân cấp huyện tỉnh Khánh
Hòa; Phạm Thị Hồng Uyên (2011), Giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến
đất đai tôn giáo trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay; Lê Hồng Oanh Ngọc
(2009), Nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại ở thành phố Hà Nội…
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về
giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Do
đó, việc nghiên cứu đề tài “Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai - qua 5
thực tiễn tỉnh Thái Nguyên” vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa có giá trị nhất định
về lý luận.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Phân tích thực trạng công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
của các cơ quan hành chính trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Trên cơ sở đó, đưa
ra quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của nhà
nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đất đai ở địa phương.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ quan niệm về khiếu nại, khiếu nại hành chính, khiếu nại về đất
đai; các nguyên tắc, ý nghĩa, tiêu chí đánh giá hiệu quả, các yếu tố tác động
đến công tác giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai.
- Nắm vững nội dung quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về
trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Cung cấp thêm các luận
cứ khoa học trong công tác giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh
Thái Nguyên trong thời gian tới.
Luận văn có giá trị tham khảo đối với sinh viên đại học, cao học luật và
hành chính, có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác giảng dạy,
nghiên cứu ở Trường Chính trị tỉnh, Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện,
hoặc làm tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến vấn đề này.
Từ các đề xuất tại Luận văn có thể là những gợi ý để tiếp tục hoàn thiện
hệ thống pháp luật về khiếu nại, giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói riêng và cả nước nói chung, góp phần nâng
cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong
thực hiện quyền khiếu nại và giải quyết khiếu nại. 7
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
Chương 2: Thực trạng về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua
Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giải
quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.
của chủ thể khác khi họ cho rằng hành vi đó không phù hợp với các quy
tắc, chuẩn mực trong đời sống cộng đồng, xâm phạm đến quyền, lợi ích của
mình. Như vậy, theo quan niệm này thì khiếu nại phản ánh hiện tượng vi
phạm những quy tắc của cộng đồng và xã hội cần phải có phương thức giải
quyết. [39, tr.10] 9
Dưới góc độ chính trị - pháp lý, khiếu nại là một quyền tự do, dân chủ
quan trọng của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định và bảo đảm thực
hiện bởi bộ máy nhà nước. Quyền khiếu nại được coi là “quyền để bảo vệ
quyền”, là công cụ pháp lý để công dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
mình khi bị hành vi của người khác xâm phạm, nghĩa là “khiếu nại được sử
dụng khi quyền chủ thể khác của chính người khiếu nại hoặc của người được
bảo hộ bị xâm phạm”. [40, tr.720]
Xét trong mối quan hệ giữa nhà nước (chủ thể quản lý) với công dân
(đối tượng quản lý) thì khiếu nại là sự phản ứng của đối tượng quản lý đối với
chủ thể quản lý (nhà nước hoặc nhân viên nhà nước). Do đó, khiếu nại là kênh
thông tin “phản hồi” của đối tượng quản lý với các chủ thể quản lý về những
tồn tại khuyết điểm của hệ thống quản lý nhà nước. Thông qua khiếu nại và
giải quyết khiếu nại, nhà nước kiểm tra, giám sát hoạt động của bộ máy nhà
nước và hoàn thiện hoạt động quản lý của mình. Khiếu nại là một kênh thông
tin có giá trị quan trọng, phản ánh hoạt động của bộ máy nhà nước. Vì vậy,
khiếu nại còn được coi là công cụ để công dân và các thiết chế chính trị - xã hội
giám sát việc thực thi quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước. [39, tr.10]
1.1.2. Khiếu nại hành chính
Là một hiện tượng xã hội nên khiếu nại có thể xảy ra ở nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội. Do đó, dựa vào các tiêu chí khác nhau có thể phân loại
khiếu nại thành các nhóm khác nhau. Xét trong mối quan hệ giữa công dân
với nhà nước, khiếu nại có thể xảy ra ở cả 3 lĩnh vực thực hiện quyền lực nhà
rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền,
lợi ích hợp pháp của mình. [16]
“Người khiếu nại” có thể là công dân, cơ quan, tổ chức hoặc
cán bộ, công chức thực hiện quyền khiếu nại. Cơ quan, tổ chức có
quyền khiếu nại bao gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ 11
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân. (Điều 2 Luật Khiếu nại
năm 2011). [16]
Dựa vào quy định trên của Luật Khiếu nại năm 2011 có thể phân loại
đối tượng của khiếu nại hành chính thành hai nhóm:
Một là, quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành
chính nhà nước. Cơ quan hành chính nhà nước bao gồm: Uỷ ban nhân dân các
cấp; cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; cơ quan thuộc sở và tương
đương; sở và tương đương; cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ, thuộc
cơ quan thuộc Chính phủ; bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.
Hai là, quyết định hành chính, hành vi hành chính của người có thẩm
quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, tức là của cá nhân, bao gồm: Chủ tịch
Uỷ ban nhân dân các cấp; thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện;
thủ trưởng cơ quan thuộc sở và tương đương; Giám đốc sở và tương đương; thủ
trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính
phủ; Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; và các
cá nhân có thẩm quyền trong các cơ quan thuộc nhóm thứ nhất.
Từ những phân tích trên, có thể thống nhất quan niệm về khiếu nại
hành chính như sau: “Khiếu nại hành chính là việc công dân, cơ quan, tổ chức
theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định đề nghị cơ quan nhà nước, cá nhân có
thẩm quyền trong cơ quan nhà nước xem xét lại quyết định hành chính, hành
vi hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành
điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung
dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất;
4. Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, thánh thất, thánh
đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức
tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhận
quyền sử dụng đất hoặc giao đất; 13
5. Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan
đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của
nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam
thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ
quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên
chính phủ được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất;
6. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu tư, hoạt
động văn hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổn
định tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất,
được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở;
7. Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo
pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất. [13]
Do đó, các chủ thể nêu trên (gọi tắt là cá nhân, tổ chức) đều có quyền
thực hiện quyền khiếu nại trong lĩnh vực đất đai khi có căn cứ cho rằng quyết
định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai là trái pháp luật, xâm
phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Về đối tượng khiếu nại trong lĩnh vực đất đai, đó là các quyết định hành
chính, hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai của cơ quan hành
chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước.
Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định nội dung quản lý nhà nước về
đất đai bao gồm:
định của pháp luật về khiếu nại hành chính nói chung và khiếu nại về đất đai
nói riêng thì đối tượng khiếu nại về đất đai được xác định như sau:
Thứ nhất, đối với các quyết định thì chỉ những quyết định bằng văn bản
do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan
hành chính nhà nước ban hành trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai
nhằm áp dụng một lần cho một hoặc một số đối tượng cụ thể.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP của 15
Chính phủ về thi hành Luật Đất đai thì các quyết định hành chính về đất đai bị
khiếu nại bao gồm 4 nhóm đối tượng: “Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu
hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định
bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất; quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất”. [6]
Ngoài ra, theo quy định của pháp luật về khiếu nại thì một số quyết
định hành chính liên quan đến quản lý đất đai khác cũng là đối tượng
khiếu nại như: Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) về đất đai; quyết
định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai; quyết định giải
quyết tranh chấp đất đai.
Thứ hai, đối với các hành vi hành chính trong quản lý nhà nước về đất đai.
Theo quy định tại khoản 2, Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP và
Điều 65 Nghị định 84/2007/NĐ-CP thì “Hành vi hành chính trong quản lý
đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi giải quyết
công việc thuộc phạm vi quy định tại khoản 1 Điều này.” [7]. Tức là các hành
vi của cán bộ, công chức khi giải quyết các công việc về “giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi
thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất; gia hạn thời hạn sử dụng đất”.
Từ những phân tích trên, có thể thống nhất quan niệm về khiếu nại
đưa ra quan niệm về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai như sau: “Giải
quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai là việc cơ quan hành chính nhà nước,
người đứng đầu của cơ quan hành chính nhà nước xem xét, đánh giá tính hợp
pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản
lý đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền của mình nhằm bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của người khiếu nại.” 17
Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nước. Nó là hoạt động xem xét, giải quyết do người có
thẩm quyền (chủ tịch Uỷ ban nhân dân, thủ trưởng cơ quan tài nguyên và môi
trường các cấp…) thực hiện. Quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực
đất đai là quyết định hành chính (bằng văn bản) khi có hiệu lực pháp luật
buộc các chủ thể có liên quan phải nghiêm chỉnh thực hiện. Trong trường hợp
cần thiết nó được đảm bảo thực hiện thông qua việc cưỡng chế bởi các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền. Nếu vi phạm, tuỳ theo mức độ, có thể bị xử lý
bằng biện pháp hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy
định của pháp luật.
Thứ hai, giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai phải tuân theo
những hình thức, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định, phải công khai, dân
chủ (từ khâu thụ lý, tiến hành kiểm tra, xác minh, ban hành quyết định giải
quyết khiếu nại).
Thứ ba, giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai là hoạt động áp dụng
pháp luật, do đó nó mang tính cá biệt, cụ thể. Việc giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai được thực hiện và có hiệu lực đối với từng chủ thể, từng tình
huống cụ thể và chỉ có giá trị pháp lý đối với chủ thể xác định được nêu trong
văn bản áp dụng, nó không làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý đối
với các chủ thể khác. [39, tr.27]
minh nội dung khiếu nại còn khác nhau thì người giải quyết khiếu nại phải tổ
chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và
nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để làm rõ nội dung
khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại; việc đối
thoại phải tiến hành công khai, dân chủ. Khi đối thoại, người giải quyết khiếu
nại phải nêu rõ nội dung cần đối thoại, kết quả xác minh nội dung khiếu nại;
người tham gia đối thoại có quyền trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ liên quan