Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai - thực trạng tại tỉnh Thừa Thiên - Huế - Pdf 25

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
A. MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 3
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài 5
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài 5
7. Kết cấu của đề tài 6
B. PHẦN NỘI DUNG 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT
KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 7
1.1. KHÁI NIỆM KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI 7
1.1.1. Khái niệm khiếu nại 7
1.1.2. Sơ lược lịch sử về giải quyết khiếu nại ở nước ta qua các thời kỳ 13
1.2. CƠ SỞ PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI 19
1.2.1. Vai trò và những nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết khiếu nại
về đất đai 19
1.2.2. Điều kiện và thẩm quyền thụ lý, giải quyết đơn thư khiếu nại về
đất đai 23
1.2.3. Trình tự, thủ tục khiếu nại về đất đai 30
1.2.4. Quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại và người bị khiếu nại 32
Chương 2: THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
VỀ ĐẤT ĐAI TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 38
2.1. KHÁI QUÁT VỀ TÌNH HÌNH KHIẾU NẠI TẠI TỈNH THỪA
THIÊN HUẾ 38

Tr: Trang
UBND: Uỷ ban nhân dân
XHCN: Xã hội chủ nghĩa 1
A. MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
“Nước ta là một nước dân chủ. Mọi công việc đều vì lợi ích của dân
mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân như Hội đồng nhân dân, Mặt trận,
Công đoàn,vv… Những đoàn thể ấy là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân,
bênh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết với nhân dân với Chính phủ.
Khi ai có điều gì oan ức thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó
là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam. Đồng bào biết rõ và khéo
dùng quyền ấy”[10].
Cùng với quyền tố cáo thì quyền khiếu nại cũng là một trong những
quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp nước ta ghi nhận nó là một
trong những quyền dân chủ không thể thiếu được trong chế độ xã hội chủ
nghĩa. Chủ Tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời đã luôn coi trọng công tác giải
quyết khiếu nại tố cáo người xem đây là một hình thức thể hiện trực tiếp mối
quan hệ giữa nhân dân với Đảng với Nhà nước. Thực hiện chủ trương đó
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và không ngừng xây dựng, hoàn thiện hệ
thống pháp luật về khiếu nại tố cáo nói chung.
Để việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng pháp
luật, Quốc hội đã ban hành Luật khiếu nại, tố cáo (02/12/1998) đã đươc sửa
đổi, bổ sung vào các năm 2004 và 2005. Nay được thay thế bằng Luật
khiếu nại 2011 và Luật tố cáo 2011 hai luật này đều có hiệu lực kể từ ngày
1 tháng 7 năm 2012. Theo đó công dân, cơ quan, tổ chức có quyền khiếu
nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính Nhà

tranh chấp về đất đai của Chủ tịch UBND các xã, phường, thị trấn còn nhiều
bất cập, chưa đúng theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo; công tác giải

3
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân thuộc thẩm quyền của Chủ tịch
UBND thành phố Huế và các huyện vẫn còn tồn đọng, kéo dài, chưa thực
hiện nghiêm túc việc đối thoại với công dân khi giải quyết khiếu nại lần đầu;
nhiều trường hợp đã thụ lý giải quyết nhưng không ra quyết định mà trả lời
bằng hình thức công văn, thông báo dẫn đến việc người khiếu kiện liên tục
gửi đơn lên cấp trên để can thiệp giải quyết. Một số vụ việc khiếu nại, tranh
chấp về đất đai đã được Thủ trưởng các cấp, các ngành giải quyết và quyết
định đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn chưa được thực hiện dứt điểm, ảnh
hưởng đến tiến độ triển khai các công trình, dự án, gây bức xúc trong cộng
đồng xã hội, nhân dân.
Vậy vấn đề giải quyết về khiếu nại về đất đai nói chung và ở tỉnh Thừa
Thiên Huế nói riêng có điều gì còn vướng mắc? Những nguyên nhân nào làm
cho việc khiếu kiện về đất đai kéo dài và khiếu nại vượt cấp? Tại sao việc giải
quyết khiếu nại về tranh chấp đất đai của chủ tịch UBND các xã, phường, thị
trấn còn nhiều bất cập chưa đúng theo quy định của Luật Khiếu nại, tố cáo…?
Tôi cho rằng việc nghiên cứu, tìm hiểu về cơ chế giải quyết khiếu nại
nói chung, trong lĩnh vực đất đai nói riêng là điều cần thiết để tìm ra những
nguyên nhân và đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp có hiệu quả góp phần
vào việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai trong thời
kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay.
Xuất phát từ thực trạng nói trên tôi chọn đề tài “Giải quyết khiếu nại
trong lĩnh vực đất đai - thực trạng tại tỉnh Thừa Thiên - Huế”.
2. Tình hình nghiên cứu
Khiếu nại trong lĩnh vực đất đai không phải là đề tài mới, chủ đề này đã
được rất nhiều độc giả trong và ngoài nước quan tâm. Như bài viết về “những
vướng mắc trong giải quyết khiếu nại về đất đai” của tác giả Nguyễn Trí


5
3. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài
* Mục đích:
Nghiên cứu cơ chế giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai hiện nay
qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Đề ra một số giải pháp để góp phần
nâng cao hiệu quả việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai nói chung ở
tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.
* Nhiệm vụ:
+ Hệ thống hoá một số khía cạnh lý luận cơ bản về khiếu nại và giải
quyết khiếu nại nói chung, trong lĩnh vực đất đai nói riêng.
+ Phân tích đánh giá thực trạng khiếu nại và những vướng mắc trong
việc giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế thông qua tìm
hiểu thực tiễn và số liệu báo cáo tổng kết của thanh tra tỉnh hàng năm.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc giải quyết
khiếu nại về đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu cơ chế giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai tại tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi nghiên cứu: Tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2009 – 2011.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh và những quan điểm của Đảng về quản lý đất đai.
Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể như phương pháp thống kê,
phương pháp so sánh đối chiếu số liệu khiếu nại và giải quyết khiếu nại giữa
các năm; Phương pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh… để đánh giá tình
hình giải quyết khiếu nại và xâu chuỗi các vấn đề.
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn trong cơ chế giải quyết khiếu
nại liên quan đến đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế.

Theo Từ điển Tiếng Việt “khiếu nại là việc yêu cầu cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền hoặc
lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại hay người khác” [30]. Có
quan điểm lại cho rằng khiếu nại hành chính được hiểu là một vụ tranh chấp
giữa một bên là công dân với một bên là cơ quan hành chính nhà nước hoặc
một công chức nhà nước về một quyết định hành chính hoặc hành vi hành
chính, được đệ trình đến cơ quan hành chính nhà nước để xem xét giải quyết
theo thủ tục hành chính [29, tr.34].
Một định nghĩa khác thì cho rằng khiếu nại hành chính là việc cá nhân
hay tổ chức đề nghị cơ quan hành chính Nhà nước xem xét, sửa chữa một
hành vi hay một quyết định hành chính mà họ cho là hành vi và quyết định đó
không đúng pháp luật, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích
hợp pháp của họ [21].
Luật Khiếu nại năm 2011: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ
chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục Luật này quy định đề nghị cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi
hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong

8
cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật của cán bộ, công chức
khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm
quyền lợi ích hợp pháp của mình” [15, tr.1].
Khiếu nại chính là tấm gương phản ánh mức độ đúng của việc áp
dụng pháp luật, phản ánh sự đồng thuận của xã hội và thái độ của công dân
đối với cơ quan nhà nước và sâu xa hơn là thái độ của công dân đối với chế
độ chính trị [9, tr. 28].
Từ nội hàm của thuật ngữ khiếu nại, khiếu nại hành chính, quyền khiếu
nại có thể được hiểu đó là quyền của cá nhân, công dân, cơ quan, tổ chức
hoặc cán bộ, công chức yêu cầu cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người
có chức vụ giải quyết việc vi phạm các quyền hoặc lợi ích hợp pháp của bản

gỡ, thông tin vào trao đổi với nhau về ý chí, mong muốn và những lợi ích
của các bên chịu sự tác động của quyết định, hành vi bị kiếu nại. Trong đó,
cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền phải có nghĩa vụ giải thích rõ căn
cứ pháp lý của hành vi, quyết định của mình cho những người khiếu nại biết
được; trình bày và phân tích rõ ràng, chi tiết những lợi ích mà quyết định,
hành vi bị khiếu nại mong muốn đạt được để người khiếu nại hiểu rõ, thông
cảm và ủng hộ việc thực hiện quyết định, hành vi pháp lý đó. Đồng thời, cơ
quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền phải có nghĩa vụ trao đổi với người
khiếu nại, phải nắm bắt được ý chí, mong muốn và những lợi ích của họ bị
tác động đến như thế nào?, quan niệm của người khiếu nại về nội dung của
quyết định, hành vi của mình và phải giải thích về tính hợp pháp của quyết
định, hành vi đã được thực hiện để người khiếu nại hiểu rõ về tính pháp lý
của quyết định, hành vi đó.
Xét ở phương diện bản chất của quyền lực nhà nước, việc cơ quan, cá
nhân, tổ chức có thẩm quyền trao đổi, bàn bạc và phân tích, giải thích rõ căn

10
cứ pháp lý về quyết định, hành vi pháp lý của mình với những người khiếu
nại là một biểu hiện rõ ràng và thực chất bản chất dân chủ của quyền lực nhà
nước, bản chất nhân dân của quyền lực nhà nước. Quyền khiếu nại được xem
là một trong những cơ chế pháp lý hữu hiệu để nhân dân tham gia trực tiếp
vào hoạt động thực hiện quyền lực nhà nước. Thông qua việc thực hiện quyền
khiếu nại, người dân (người khiếu nại) có quyền bày tỏ quan niệm, ý chí và
mong muốn của mình đối với hành vi, quyết định của cơ quan, cá nhân, tổ
chức có thẩm quyền; trong khi đó cơ quan, cá nhân, tổ chức có thẩm quyền sẽ
thấu hiểu được tâm tư, nguyện vọng của người dân đối với quá trình thực thi
quyền lực của mình từ đó có những điều chỉnh phù hợp nhằm nâng cao hơn
sự tương thích của hoạt động của nhà nước với ý chí, mong muốn của người
dân. Chính nội dung và ý nghĩa đặc biệt của mối quan hệ phát sinh giữa người
khiếu nại với Nhà nước, với bản chất dân chủ của Nhà nước nên Hồ Chí Minh

quan nhà nước, thông qua hành vi khiếu nại (mà trực tiếp khiếu nại đến cơ
quan nhà nước cấp trên) nhân dân đã buộc các chủ thể trực tiếp ban hành quyết
định, thực hiện hành vi công vụ phải tự hạn chế sự tùy tiện của mình, phải tự
ràng buộc những hành vi của mình trong những giới hạn mà pháp luật quy định
cũng như những lợi ích hợp pháp của người dân. Chính cơ chế bảo đảm người
trực tiếp chịu sự tác động của quyết định, hành vi của cơ quan nhà nước, cán
bộ, công chức nhà nước đã khiến cho hoạt động khiếu nại trở thành một trong
những cơ chế giám sát quá trình thực hiện quyền lực nhà nước hữu hiệu bảo
đảm cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước thực hiện quyền lực nhà
nước phù hợp với pháp luật và bảo đảm lợi ích của người dân.
- Khái niệm khiếu nại về đất đai
Khiếu nại về đất đai là việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hoặc hành vi

12
hành chính trong quá trình quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết
định, hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khiếu nại cũng là quyền dân chủ cơ bản của người sử dụng đất vì nhà
nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu, thay mặt nhân dân thực hiện hoạt
động quản lý đất đai đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, phục vụ lợi
ích của chủ sở hữu cũng như quyền và lợi ích của hợp pháp của người sử
dụng đất. Chính vì vậy bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khi có đủ căn cứ
đều có quyền khiếu nại và được đảm bảo bằng nghĩa vụ giải quyết khiếu nại
của cơ quan có thẩm quyền.
- Các loại khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
Các loại khiếu nại trong lĩnh vực đất đai thường gặp là các quyết định
hành chính và hành vi hành chính liên quan đến đất đai.
+ Các quyết định hành chính như: Quyết định giao đất, cho thuê đất,
thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; Các quyết

vua khi vua mắc sai lầm.
Thời nhà Trần đặt ra ngự sử đài – cơ quan thanh tra chuyên trách có
nhiệm vụ: “ Đàn hạch các quan, nói bàn về chính sự hiện thời, phàm các quan
làm trái phép, chính sự hiện thời có thiếu sót đều được xem xét hoặc trình
bày, cũng là xét bàn về thành tích của các nha môn, đề lĩnh, phủ doãn, trần
thủ, hữu thủ, thừa ty và xét hỏi các vụ kiện về người quyền quý ở kinh ức
hiếp, về người cai quản hà lạm”
Một số triều đại phong kiến còn ban hành luật lệ và nhiều văn bản quy
định việc gửi đơn của thần dân và trách nhiệm của các quan trong việc xem
xét các khiếu tố đó, quy định việc khiếu nại của dân và trách nhiệm của các
quan trong việc giải quyết khiếu nại như: Bộ luật Hình thư thời Lý (1042);
Bộ Quốc triều hình luật đời Trần (1341); Bộ luật Hồng Đức thời Lê (1483).

14
b. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1998
Ngay sau khi thành lập Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
(02/09/1945) đến nay công tác tiếp nhận và giải quyết thắc mắc, khiếu kiện
của nhân dân về những việc làm sai trái của chính quyền các cấp và những
viên chức trong bộ máy Nhà nước được Nhà nước rất quan tâm. Quan điểm
này được thể hiện qua câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đồng bào có
oan ức, có thắc mắc mới khiếu nại, ta phải giải quyết nhanh, tốt các khiếu
nại, đồng bào thấy Đảng và Chính phủ quan tâm, lo lắng đến họ, do đó mối
quan hệ giữa quần chúng nhân dân với Đảng và Chính phủ được củng cố
tốt hơn” [11, tr. 81-82].
Với quan điểm trên nên ngay sau khi thành lập nước, ngày 23 tháng 11
năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban thanh
tra đặc biệt với nhiều nhiệm vụ quan trọng, trong đó có nhiệm vụ tiếp nhận và
giải quyết khiếu nại của người dân đối với các cơ quan của Chính phủ và
nhân viên các cơ quan này. Sau thời kỳ Ban thanh tra đặc biệt, ngày 28 tháng
12 năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 138/B-SL thành lập Ban

phải xem xét giải quyết kịp thời, nhanh chóng bảo vệ quyền hợp pháp của
công dân. Hiến pháp năm 1959 của Nhà nước ta ghi nhận: “Công dân nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền khiếu nại và tố cáo với vất cứ cơ quan
nhà nước nào về những hành vi vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà
nước. Người bị thiệt hại vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà
nước có quyền được bồi thường” [12].
Tiếp đó Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hóa Hiến
pháp đảm bảo cho công dân thực hiện được quyền khiếu nại của mình; đồng
thời quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước trong việc giải quyết
khiếu nại của nhân dân.

16
Nghị quyết số 164/CP ngày 31 tháng 8 năm 1970 của Hội đồng Chính
phủ quy định về tăng cường công tác thanh tra và chấn chỉnh hệ thống cơ
quan Thanh tra của Nhà nước.
Nghị định số 165/CP ngày 31 tháng 08 năm 1970 của Hội đồng Chính
phủ quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Thanh tra
của Chính phủ.
Thông tư số 60/UBTTr ngày 22 tháng 05 năm 1971 của Ủy ban Thanh
tra của Chính phủ hướng dẫn trách nhiệm của các ngành, các cấp về giải
quyết khiếu nại của công dân.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam
đã vạch ra đường lối, chính sách để xây dựng Nhà nước Việt Nam hòa
bình, độc lập, thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng ta cần có Hiến
pháp mới nhằm xác định thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ
cứu nước và cụ thể hóa đường lối của Đảng phục vụ sự nghiệp cách mạng
xã hội chủ nghĩa trong cả nước.
So với Hiến pháp năm 1959 thì Hiến pháp năm 1980 quyền khiếu nại,
tố cáo của công dân được quy định cụ thể, chi tiết hơn. Điều 73, Hiến pháp
1980 ghi nhận:

cấp, không đúng thẩm quyền.
Vì vậy, ngày 02 tháng 05 năm 1991 Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo
của công dân được Hội đồng Nhà nước ban hành để thay thế Pháp lệnh
quy định việc xét, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1981.
Đây là một bước tiến mới trong việc hoàn thiện cơ chế về khiếu nại và
giải quyết khiếu nại.
c. Từ năm 1998 đến nay
Sau hơn năm năm thực thi Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân tỏ

18
ra không đáp ứng được việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về khiếu nại, tố
cáo. Vì vậy, ngày 02 tháng 12 năm 198 Quốc hội đã ban hành Luật Khiếu nại,
tố cáo. Năm 2004 Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Khiếu nại, tố cáo và tiếp đó năm 2005 Luật này tiếp tục được Quốc Hội
sửa đổi, bổ sung.
Để triển khai thi hành Luật khiếu nạo, tố cáo, Chính phủ đã ban hành:
Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo.
Nghị định số 62/2002/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2002 sửa đổi, bổ
sung một số điều của Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 08 năm 199.
Nghị định số 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2004.
Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính
phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo và các
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo năm.
Để cụ thể hóa Luật Khiếu nại, tố cáo và các Nghị định nêu trên của
Chính phủ, Thanh tra Chính phủ đã ban hành Thông tư số 04/2010/TT-TTCP,
ngày 26/08/2010 quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, đơn phản
ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo.

nại, tố cáo đã quy định vị trí, vai trò của pháp luật khiếu nại, tố cáo trong hệ
thống pháp luật Việt Nam. Khi quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị
xâm phạm từ phía các cơ quan nhà nước và những người có thẩm quyền thì
pháp luật khiếu nại, tố cáo phải là vũ khí sắc bén để công dân đấu tranh đòi
lại công lý, khôi phục quyền và lợi ích bị xâm phạm [16, tr.60]. Để đảm bảo
được quyền và lợi ích của công dân đòi hỏi công tác giải quyết khiếu nại

20
phải được tiến hành một cách nhanh chóng, kịp thời, minh bạch theo đúng
trình tự thủ tục pháp luật quy định. Việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực
đất đai cũng không ngoại lệ bởi vì đất đai là một nguồn tài nguyên vô cùng
quý giá đối với mọi quốc gia là nguồn lực quan trọng trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội. Đó cũng là mục đích và nguyên nhân của mọi cuộc
chiến tranh trên thế giới. Vì vậy, đất đai luôn gắn liền với vấn đề chính trị.
Do đó, quản lý tốt việc sử dụng đất không những có ý nghĩa trong việc phát
triển kinh tế - xã hội mà còn có ý nghĩa rất quan trọng về mặt chính trị. Hiện
nay, tình hình khiếu nại về đất đai diễn ra vô cùng gay gắt và phức tạp, số vụ
khiếu nại về đất đai chiếm khoảng 60% tổng số các vụ khiếu nại mà các cơ
quan Nhà nước nhận được hàng năm. Nhận thức được điều đó Trung ương
Đảng và Chính phủ đã thường xuyên quan tâm, tập trung chỉ đạo xây dựng
và không ngừng hoàn thiện nhiều chính sách pháp luật để tăng cường công
tác giải quyết khiếu nại về đất đai của công dân. Điều này đã góp phần thúc
đẩy công tác giải quyết khiếu nại trong thời gian qua, góp phần bảo vệ
quyền lợi chính đáng của nhân dân. Đồng thời giúp Nhà nước quản lý việc
sử dụng đất một cách chặt chẽ và có hiệu quả.
Thông qua việc giải quyết khiếu nại về đất đai đã tạo điều kiện cho
chính quyền từ Trung ương đến địa phương nâng cao được vai trò của mình
góp phần phát huy tính chủ động của cơ sở và quyền dân chủ của nhân dân
trong quản lý và sử dụng đất cũng như trong việc giải quyết khiếu nại liên
quan đến vấn đề đất đai, đảm bảo công bằng xã hội, thúc đẩy phát triển kinh

đòi hỏi quan trọng. Nguyên tắc này đòi hỏi người giải quyết khiếu nại phải
lắng nghe ý kiến của các bên, đảm bảo tự do dân chủ, bình đẳng trước pháp
luật. Đối với giải quyết khiếu nại lần đầu người giải quyết phải có trách nhiệm
đối thoại trực tiếp với người khiếu nại và người bị khiếu nại để làm rõ nguyên
nhân khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng giải quyết khiếu nại.

22
Phải tạo điều kiện cho các bên trình bày quan điểm của mình về nội
dung vụ việc cũng như dự kiến cách thức giải quyết.
Đối với quá trình giải quyết lần hai, người giải quyết phải triệu tập
người khiếu nại, người bị khiếu nại để đối thoại khi cần thiết. Có thể nói đây
là hình thức “tranh tụng” theo thể thức hành chính và nếu làm tốt sẽ khắc
phục được tệ quan liêu, một chiều khi giải quyết khiếu nại.
Hoạt động giải quyết khiếu nại từ lúc tiếp nhận đơn cho tới khi ra quyết
định giải quyết khiếu nại cuối cùng đều phải công khai minh bạch, mọi trình
tự thủ tục, mọi quyết định liên quan tới vụ việc mà người giải quyết đưa ra
phải được công bố công khai cho người khiếu nại, người bị khiếu nại và
người có quyền và lợi ích liên quan được biết.
- Tôn trọng sự thật khách quan, thận trọng và vô tư
Nguyên tắc này không chỉ là yêu cầu riêng đối với hoạt động giải quyết
khiếu nại về đất đai, mà nó còn là yêu cầu chung đối với tất cả các hoạt động
khác trong quản lý đất đai.
Đối với công dân, cơ quan, tổ chức khi thực hiện việc khiếu nại phải
phản ánh trung thực, đúng sự thật mọi tình tiết, diễn biến của sự việc. Nếu
cung cấp thông tin không chính xác sẽ dẫn đến việc giải quyết khiếu nại
không chính xác của cơ quan có thẩm quyền.
Đối với người giải quyết khiếu nại phải nhìn nhận sự việc một cách
trung thực, không phụ thuộc vào ý muốn của các bên đương sự, cũng như ý
nghĩ chủ quan của bản thân. Để làm được điều này đòi hỏi người giải quyết
khiếu nại phải nắm vững các quy định của pháp luật và tuân theo các quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status