1
đại học quốc gia hà nội
khoa luật
phan duy hùng giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai
của cơ quan hành chính nhà n-ớc
(qua thực tiễn tỉnh nghệ an)
luận văn thạc sĩ luật học
Hà nội - 2012
4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI
5
1.1.
Khái quát, khái niệm, đặc điểm, nội dung khiếu nại về đất đai
5
1.3.2.
Giải quyết tranh chấp đất đai
32
1.3.3.
Phân biệt khiếu nại, giải quyết khiếu nại với tranh chấp, giải
quyết tranh chấp về đất đai
36
Chương 2: THỰC TRẠNG KHIẾU NẠI, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI
VỀ ĐẤT ĐAI CỦA CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ
41
5
NƯỚC (QUA THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN)
2.1.
Khái quát tình hình quản lý, sử dụng đất đai
41
2.1.1.
Đặc điểm đất đai tỉnh Nghệ An
41
2.1.2.
Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn
tỉnh Nghệ An
46
2.2.
Tình hình khiếu nại, giải quyết khiếu nại về đất đai trên địa
bàn tỉnh Nghệ An
52
2.2.1.
Tình hình khiếu nại về đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Phương pháp thẩm tra, xác minh vụ việc khiếu nại về đất đai
89
3.2.2.
Bài học kinh nghiệm
93
3.2.3.
Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai và pháp luật
về khiếu nại
99
KẾT LUẬN
116
DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ
120
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
121
7
Danh môc c¸c b¶ng
Sè hiÖu
b¶ng
Tªn b¶ng
Trang
1.1
So sánh sự khác nhau giữa khiếu nại, giải quyết khiếu nại về
đất đai với tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai
8
Danh môc c¸c s¬ ®å
Sè hiÖu
s¬ ®å
Tªn s¬ ®å
Trang
1.1
Sơ đồ về giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính,
hành vi hành chính (các quyết định, hành vi quy định tại
Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP) theo pháp luật về
đất đai
25
1.2
Sơ đồ về giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính,
hành vi hành chính đất đai khác theo pháp luật về đất đai,
pháp luật về khiếu nại (các quyết định, hành vi từ cấp
tỉnh trở xuống)
26
1.3
Sơ đồ về giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không
có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2
và 5 Điều 50 của Luật Đất đai
35
10
khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước. Các cơ quan hành
chính nhà nước thực hiện tốt công tác giải quyết khiếu nại về đất đai sẽ giúp
cho Nhà nước hoàn thiện các chính sách, xác lập mối quan hệ bình đẳng, công
bằng giữa Nhà nước với công dân và tiến tới xây dựng một Nhà nước pháp
quyền đúng nghĩa.
Nghệ An là tỉnh có diện tích lớn, dân số đông đã ảnh hưởng rất lớn
đến công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Xuất phát từ tình hình trên, dẫn đến
các vụ khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai có nhiều cơ hội tăng về số
lượng vụ việc (số lượng các vụ việc chiếm từ 50% đến 70% các vụ việc khiếu
nại, tố cáo, tranh chấp nói chung), cũng như tính chất, mức độ gay gắt ngày
càng phức tạp. Trong khi đó, các vụ việc khiếu nại về đất đai chủ yếu do các
cơ quan hành chính giải quyết (các vụ việc về đất đai do cơ quan Tòa án giải
quyết hiện nay chiếm số lượng không nhiều). Do đó, cần phải nghiên cứu một
cách có hệ thống các quy định của pháp luật về khiếu nại, thực trạng khiếu nại
và giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước (qua
thực tiễn tỉnh Nghệ An); trên cơ sở đó, đề xuất những kiến nghị nhằm sửa đổi,
bổ sung chính sách, pháp luật về khiếu nại, về đất đai và xác lập cơ chế giải
quyết các khiếu nại về đất đai, nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết
khiếu nại về đất đai, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho tổ chức, công
dân và đáp ứng được nhiệm vụ xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn hiện nay.
Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: "Giải quyết khiếu nại trong
lĩnh vực đất đai của cơ quan hành chính nhà nước (qua thực tiễn tỉnh
nghệ an)" làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn này này có thể được sử dụng làm
tài liệu tham khảo tại các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số
kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan xây dựng và thực
thi pháp luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp
luật đất đai nói chung và pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai nói riêng ở
12
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình tác giả đã công bố
và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai.
Chương 2: Thực trạng khiếu nại, giải quyết khiếu nại về đất đai của
các cơ quan hành chính nhà nước (qua thực tiễn tỉnh Nghệ An)
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết
khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước. 13
Chương 1
KHIẾU NẠI VÀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI
1.1. KHÁI QUÁT, KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, NỘI DUNG KHIẾU NẠI VỀ
ĐẤT ĐAI
1.1.1. Khái quát về sự phát triển của pháp luật về khiếu nại hành
chính nƣớc ta
Cách mạng tháng Tám năm 1945 thắng lợi (cùng với Bản tuyên ngôn
độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 02/9/1945) đã đánh dấu bước
ngoặt vĩ đại trong lịch sử Nhà nước và Pháp luật ở Việt Nam. Đó là sự ra đời
của Nhà nước dân chủ nhân dân, là sự thay thế xã hội thần dân, với chế độ
thuộc địa nữa phong kiến sang xã hội công dân, đưa người dân từ địa vị nô lệ
trở thành những công dân của một Nhà nước độc lập, có chủ quyền. Đó là
những "chủ nhân ông" của đất nước, những người quyết định vận mệnh của
nước nhà. Trong hơn 65 năm qua, cùng với việc xây dựng và phát triển Nhà
cáo năm 1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo
năm 2004 và 2005. Để triển khai thi hành Luật khiếu nại, tố cáo, Chính phủ
đã ban hành Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Khiếu nại, tố cáo; Nghị định số
62/2002/NĐ-CP ngày 14 tháng 6 năm 2002 sửa đổi, bổ sung một số điều của
Nghị định số 67/1999/NĐ-CP ngày 07 tháng 8 năm 1999; Nghị định số
53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành Luật Khiếu nại, tố cáo và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu
nại, tố cáo năm 2004; Nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo,
tạo ra cơ sở pháp lý đầy đủ hơn, cụ thể hơn cho công dân thực hiện quyền
khiếu nại, tố cáo của mình và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách
nhiệm hơn trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức, công dân.
15
Việc ban hành Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật khiếu nại, tố cáo năm 2004 và 2005 là một bước
tiến quan trọng thể chế hóa quyền khiếu nại, tố cáo, một trong những quyền
cơ bản của công dân đã được Hiến pháp ghi nhận, thể hiện quan điểm, đường
lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa, phát huy quyền dân chủ của nhân dân, đáp ứng những đòi hỏi bức thiết
về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời kỳ mới.
Tuy nhiên, pháp luật về khiếu nại, tố cáo nói trên mới chỉ tạo cơ sở
pháp lý cho công dân quyền khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi
hành chính bị cho là trái pháp luật, làm thiệt hại quyền, lợi ích hợp pháp của
công dân. Việc giải quyết khiếu nại này chỉ theo cấp hành chính, do chính các
cơ quan hành chính thực hiện "trong phòng kín" và vẫn theo nguyên tắc đơn
phương quyết định của chính cơ quan hành chính nhà nước. Cơ quan hành
chính nhà nước trong trường hợp như thế đã vừa là "người bị kiện" lại vừa là
"người phán quyết", nên việc giải quyết khiếu nại chưa mang tính khách quan,
Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính được (sửa đổi, bổ sung năm
1998 và năm 2006) và Luật Tố tụng hành chính năm 2010 đã đánh dấu bước
phát triển lớn của pháp luật về vấn đề khiếu kiện hành chính ở nước ta, khẳng
định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện chủ trương xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây cũng là cơ sở
pháp lý quan trọng góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, công cụ
bổ trợ quan trọng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và là hình
thức phản biện xã hội, tạo điều kiện cho xã hội phát triển một cách lành mạnh.
Đồng thời, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước, các
cán bộ, công chức của những cơ quan này khi thi hành công vụ, từng bước
khắc phục sự lộng quyền, thiếu trách nhiệm, quan liêu của các cơ quan công
quyền, đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa nhà nước và công dân; nâng cao
tính pháp chế, khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật và tiếp tục
hoàn thiện bộ máy nhà nước.
17
1.1.2. Khái niệm khiếu nại về đất đai
Khiếu nại theo gốc tiếng Latinh: "Complant", nghĩa là sự phàn nàn,
phản ứng, bất bình của người nào đó về vấn đề có liên quan [27, tr. 205].
Theo Thuật ngữ pháp lý phổ thông thì khiếu nại là "việc yêu cầu cơ
quan nhà nước, tổ chức xã hội hoặc người có chức vụ giải quyết việc vi phạm
các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân người khiếu nại" [23, tr. 105].
Theo Đại Từ điển tiếng Việt: "khiếu nại (đgt): thắc mắc, đề nghị xem
xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm" [35, tr. 904].
Như vậy, khiếu nại theo nghĩa chung là việc cá nhân hay tổ chức yêu
cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm sửa chữa một việc làm mà họ
cho là không đúng đắn, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích chính đáng của họ và
đòi bồi thường thiệt hại do việc làm không đúng gây ra.
Khiếu nại hành chính là một hiện tượng xã hội thể hiện một dạng quan
hệ đặc biệt phát sinh giữa cơ quan hành chính nhà nước với công dân, tổ
công dân. Cho nên nếu cho rằng, một hoạt động quản lý nào đó (một quyết
định hành chính, một hành vi hành chính) là trái pháp luật thì người dân có
thể khiếu nại và nhà nước có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đó. Tuy nhiên,
không phải mọi hoạt động liên quan đến quản lý đất đai đều có thể khiếu nại.
Chỉ những quyết định hành chính, hành vi hành chính liên quan đến lợi ích
trực tiếp của người dân, những quyết định, hành vi mà việc thực hiện nó có
thể gây cho người dân bị thiệt hại về lợi ích thì mới là đối tượng của việc
khiếu nại.
Khoản 1 Điều 138 Luật Đất đai quy định: "Người sử dụng đất có
quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý
đất đai" [28, tr. 77]. Cụ thể hóa quy định trên, Điều 162 Nghị định
181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
năm 2003, đã quy định các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai như sau:
19
* Quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm:
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất:
+ Quyết định giao đất là quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất;
+ Cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp
đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất;
+ Thu hồi đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định
hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức,
Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý theo quy định của pháp luật.
+ Trưng dụng đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định
sử dụng đất đã có người sử dụng vào mục đích công trong trường hợp Nhà
nước ban bố tình trạng khẩn cấp theo quy định của pháp luật về tình trạng
khẩn cấp, trường hợp khẩn cấp của chiến tranh, thiên tai, hỏa hoạn hoặc các
hiện theo thẩm quyền bởi các cơ quan hành chính, cán bộ, công chức nhà nước
cấp huyện, cấp tỉnh); các quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong
công tác quản lý Nhà nước về đất đai điều chỉnh theo Luật khiếu nại, tố cáo.
1.1.3. Đặc điểm khiếu nại về đất đai
Khiếu nại về đất đai là một dạng đặc biệt của khiếu nại hành chính, nên
bên cạnh những đặc điểm chung của khiếu nại hành chính, khiếu nại về đất
đai còn mang những đặc điểm đặc trưng riêng khác với các khiếu nại thuộc
các lĩnh vực khác Sự khác biệt đó thể hiện ở những điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, chủ thể của khiếu nại về đất đai chỉ có thể là chủ thể của
quyền quản lý và quyền sử dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở
hữu đất đai. Quyền sử dụng đất của các chủ thể được xác lập dựa trên quyết
định giao đất, cho thuê đất của Nhà nước, được Nhà nước cho phép nhận
21
chuyển nhượng từ các chủ thể khác hoặc được Nhà nước công nhận quyền sử
dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất đang sử dụng. Như vậy, chủ thể của
khiếu nại về đất đai là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân tham gia với tư cách
là người quản lý hoặc người sử dụng đất.
Thứ hai, nội dung của khiếu nại về đất đai rất đa dạng và phức tạp.
Hoạt động quản lý và sử dụng đất trong nền kinh tế thị trường diễn ra rất đa
dạng, phong phú với việc sử dụng đất vào nhiều mục đích khác nhau, với diện
tích, nhu cầu sử dụng khác nhau. Trong nền kinh tế thị trường, việc quản lý và
sử dụng đất không đơn thuần chỉ là việc quản lý và sử dụng một tư liệu sản
xuất. Đất đai đã trở thành một loại hàng hóa đặc biệt, có giá trị thương mại,
giá đất lại biến động theo quy luật cung cầu trên thị trường, nên việc quản lý
và sử dụng nó không đơn thuần chỉ là việc khai thác giá trị sử dụng mà còn
bao gồm cả giá trị sinh lời của đất (thông qua các hành vi kinh doanh quyền
sử dụng đất). Tất nhiên, khi nội dung quản lý và sử dụng đất phong phú và
phức tạp hơn thì những mâu thuẫn, bất đồng xung quanh việc quản lý và sử
dụng đất đai cũng trở nên gay gắt và trầm trọng hơn.
bằng trước để làm các dự án sau khi có Luật Đất đai năm 2003: Sau khi có
Luật Đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật, chính sách
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có sự thay đổi đáng kể theo hướng có lợi
cho người có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, do quá trình thực hiện, nhiều địa
phương định giá thấp hơn nhiều so với giá thị trường hoặc nhiều trường hợp
không vận dụng thực hiện quy định về việc thỏa thuận mức giá bồi thường
giữa người có đất bị thu hồi với người được giao đất mới, thậm chí có những
dự án thu hồi đất của người dân thấp hơn hàng trăm, hàng chục lần so với giá
đất chủ đầu tư chuyển nhượng lại cho người khác, nên dẫn đến phát sinh
khiếu nại rất gay gắt của công dân có đất bị thu hồi. Công dân thường tập
trung vào việc khiếu nại yêu cầu nâng giá bồi thường (đòi bồi thường theo giá
thị trường), bồi hoàn thành quả lao động trên đất, hỗ trợ giải phóng mặt bằng,
bố trí tái định cư, yêu cầu cấp đất sản xuất
23
+ Khiếu nại thu hồi đất, giải phóng mặt bằng và đòi được bồi thường
theo chính sách mới. Tại thời điểm các hộ nhận tiền và bàn giao đất không
khiếu nại, nhưng nay so với chính sách mới hoặc thấy đất bị thu hồi nhưng
không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích, nên phát sinh khiếu nại
đòi lại đất, đòi được bồi thường theo chính sách mới.
+ Khiếu nại do người dân bị ảnh hưởng của việc thu hồi đất, thiếu nơi
ăn chốn ở, thiếu đất để sản xuất (nhất là các hộ bị giải tỏa trắng), không có
việc làm, điều kiện học hành cho con cái và điều kiện sinh hoạt gặp khó khăn
dẫn đến bức xúc, đi khiếu kiện (hoặc không đi khiếu kiện nhưng có những
phản ứng bất bình trong xã hội), cần phải quan tâm giải đáp.
Nội dung khiếu nại tập trung vào những vấn đề: Định giá đất để bồi
thường thấp hơn khung giá đất chính phủ, giá đất khu tái định cư cao hơn so
với giá đất Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất; Bố trí tái định cư không đảm
bảo, chất lượng nhà tái định cư thấp, diện tích tái định cư quá nhỏ, bố trí tái
định cư không phù hợp, điều kiện điện nước, các dịch vụ y tế, trường học
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc đất người này đang sử dụng ổn định
lâu dài lại xét cấp cho người khác, hay cấp giấy chứng nhận có số thửa, số tờ
bản đồ nhưng khi kiểm tra hồ sơ thì không tìm được số thửa đó nằm ở đâu
trên bản đồ địa chính và trên thực địa cũng không xác định được vị trí thửa
đất đó.
+ Khiếu nại việc cấp giấy chứng nhận không rõ cấp cho chủ thể nào:
cấp cho hộ gia đình, cá nhân hay cho vợ, chồng. Có cơ quan thì ghi cấp cho
"hộ ông" hoặc cấp cho "ông" nhưng thực tế thửa đất lại thuộc quyền sử dụng
đất của cả vợ và chồng hoặc quyền sử dụng đất là của tất cả các thành viên
trong gia đình; Khi bàn giao mốc giới sử dụng cho người có quyền sử dụng
đất, một số cơ quan có thẩm quyền cấp xã, huyện không bàn giao mốc giới cụ
thể thực địa mà chỉ căn cứ vào tờ khai của các hộ gia đình, cá nhân xin cấp
quyền sử dụng đất để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thủ tục cấp đất
không thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục, không có biên bản bàn giao thực
25
địa đối với hộ sử dụng đất, nhất là các hộ gia đình có sử dụng diện tích đất lớn
như đất lâm nghiệp, đất vườn, đất trồng rừng nên bị chồng chéo giữa các hộ
gia đình, đặc biệt là đất ở nông thôn.
+ Khiếu nại thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất do quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
phức tạp, gây phiền hà, có nhiều thay đổi, phải thực hiện theo nhiều bước, kéo
dài thời gian. Nhiều trường hợp, không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất mà không có lý do chính đáng hoặc lý do không rõ ràng. Quá trình giải
quyết hồ sơ diễn ra chậm, gây phiền hà, sách nhiễu gây khó khăn cho người
sử dụng đất.
+ Khiếu nại liên quan đến quy hoạch "treo":
Khoản 3, Điều 29, Luật Đất đai quy định:
Diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất đã được công
bố phải thu hồi để thực hiện dự án, công trình hoặc phải chuyển
đất cho người khác thuê, mượn để sản xuất, làm nhà ở hoặc nhờ người trông
coi trước năm 1987, nay những người này đang sử dụng.
+ Đòi lại đất chính quyền chế độ cũ lấy để sử dụng, sau giải phóng,
Nhà nước tiếp quản hoặc giao cho người khác sử dụng. Ngoài ra, một số
người bỏ đi nơi khác ở, ra nước ngoài sinh sống cũng trở về đòi lại đất đai, tài
sản trước đây của họ đã được giao cho người khác quản lý, sử dụng.
+ Đòi lại đất có nhà ở khu vực đô thị trong quá trình cải tạo công
thương nghiệp, Nhà nước đã quản lý nhưng không làm đầy đủ thủ tục.
+ Đòi lại đất tôn giáo đã hiến, cho, cho mượn hoặc chính quyền đã sử
dụng làm nhà trẻ, trường học, mẫu giáo, nhà văn hóa.
+ Đòi lại đất, tài sản của nhà thờ, các dòng tu, chùa chiền, miếu mạo,
nhà thờ họ: trước đây do hoàn cảnh lịch sử, chính quyền địa phương đã mượn
27
đất của các cơ sở nói trên để sử dụng hoặc tịch thu một số cơ sở để làm trụ sở
cơ quan, trường học… đến nay các cơ sở đó đòi lại nhưng Nhà nước không
trả lại được nên dẫn đến khiếu kiện của các cơ sở đó; một số người được các
nhà thờ, dòng tu, chùa chiền, nhà thờ họ cho đất để ở, người dân đã xây dựng
nhà kiên cố, hoặc lấn chiếm thêm đất của các cơ sở nói trên dẫn đến việc các
cơ sở nói trên đòi lại đất, nhà.
1.2. GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI VÀ NGUYÊN TẮC GIẢI
QUYẾT KHIẾU NẠI VỀ ĐẤT ĐAI
1.2.1. Giải quyết khiếu nại về đất đai
Giải quyết khiếu nại được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm
quyền xem xét, đánh giá đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính có
đúng pháp luật hay không, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý phù hợp. Khoản 13
Điều 2 của Luật khiếu nại, tố cáo quy định: "Giải quyết khiếu nại là việc xác
minh, kết luận và ra quyết định giải quyết của người khiếu nại" [11, tr. 12].
Như vậy, giải quyết khiếu nại bao gồm các công việc: xác minh để làm rõ các
tình tiết sự việc; kết luận về nội dung khiếu nại, trong đó xác định rõ khiếu nại