ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC
ĐẤT ĐAI – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ (GIAI ĐOẠN 2013 - 2015)
Họ và tên sinh viên: THÁI THỊ THÙY
HUẾ, 6/2016
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
------------------
NIÊN LUẬN
KHÓA 37
GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH VỰC
ĐẤT ĐAI – THỰC TIỄN TẠI THÀNH PHỐ HUẾ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ (GIAI ĐOẠN 2013 - 2015)
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN
SINH VIÊN THỰC HIỆN
T.S ĐẶNG CÔNG CƯỜNG
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu
sản xuất quan trọng của con người. Xung quanh tài sản quý giá này lại đang
nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp nhất là vấn đề khiếu nại, tố cáo liên quan đến
đất đai. Hiện nay khiếu nại trong lĩnh vực đất đai đang là một hiện tượng xảy
ra phổ biến trong xã hội; đặc biệt khi nước ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị
trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất đai
những giá trị vốn có thì tranh chấp đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng
tăng cả về số lượng cũng như tính chất phức tạp về mặt nội dung. Tranh chấp
đất đai có tính chất phức tạp, việc khiếu kiện kéo dài bắt nguồn từ những
xung đột gay gắt về lợi ích kinh tế, từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả
của cơ quan công quyền, sự bất hợp lý và thiếu đồng bộ của hệ thống chính
sách, pháp luật đất đai…Vấn đề giải quyết khiếu nại nói chung, giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai nói riêng đã và đang trở thành chủ đề nóng
của nhiều độc giả, nhiêu nhà nghiên cứu.Vì vậy, tôi chọn đề tài “Giải quyết
khiếu nại trong lĩnh vực đất đai – Thực tiễn tại thành phố Huế, tỉnh Thừa
Thiên Huế (giai đoạn 2013 - 2015)” để làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nêu lên được thực trạng khiếu nại tố cáo đất đai trên địa bàn thành phố Huế.
Đề xuất những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác giải quyết
khiếu nại về đất đai dựa trên sự phân tích, đánh giá các nguyên nhân của thực
trạng khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn thành phố Huế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
+ Nghiên cứu những qui định của pháp luật về khiếu nại và giải quyết
khiếu nại về đất đai.
5
CHƯƠNG 1. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TRONG LĨNH
VỰC ĐẤT ĐAI TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
1.1.
Một số quy định của pháp luật về khiếu nại và giải quyết khiếu
nại về đất đai
1.1.1. Khiếu nại về đất đai
Theo khoản 1 điều 2 Luật Khiếu nại năm 2011 quy định: “Khiếu nại là
việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục Luật này
quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết
định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của
người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ
luật của cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó
trái pháp luật, xâm phạm quyền lợi ích hợp pháp của mình.
Khiếu nại chính là tấm gương phản ánh mức độ đúng của việc áp dụng
pháp luật, phản ánh sự đồng thuận của xã hội và thái độ của công dân đối với cơ
quan nhà nước và sâu xa hơn là thái độ của công dân đối với chế độ chính trị.
- Khái niệm khiếu nại về đất đai
Khiếu nại về đất đai là việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính hoăc hành vi
hành chính trong quá trình quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết
định, hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Khiếu nại cũng là quyền dân chủ cơ bản của người sử dụng đất vì nhà
nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu, thay mặt nhân dân thực hiện hoạt
động quản lý đất đai đảm bảo cho đất đai được sử dụng hợp lý, phục vụ lợi
ích của chủ sở hữu cũng như quyền và lợi ích của hợp pháp của người sử
dụng đất. Chính vì vậy bất kỳ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào khi có đủ căn cứ
khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của Bộ trưởng
hoặc quá hạn mà khiếu nại không được giải quyết thì người khiếu nại có
quyền khiếu nại tiếp (chỉ có quyền khởi kiện tại Tòa án).
8
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài nên trong phần thẩm quyền này tôi tập
trung vào thẩm quyền giải quyết khiếu nại ở chính quyền cấp tỉnh.
Thẩm quyền giải quyết khiếu nại ở chính quyền cấp tỉnh được quy định
trong Luật khiếu nại 2011 như sau:
Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải
quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp.
Giám đốc sở và cấp tương đương có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần
đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của cán bộ,
công chức do mình quản lý trực tiếp. Giải quyết khiếu nại lần hai đối với
quyết định hành chính, hành vi hành chính của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở
và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại
lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết khiếu nại
lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình. Giải
quyết khiếu nại làn hai đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện,Giám đốc sở và cấp tương đương đã
giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn
nhưng chưa được giải quyết; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền giải quyết
khiếu nại giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình.
Trong trường hợp người khiếu nại kiện vụ án hành chính tại tòa án thì
tòa án có thẩm quyền giải quyết. Các khiếu kiện thuộc thẩm quyền của tòa án
được quy định tại điều 28 luật tố tụng hành chính năm 2011 cụ thể:
“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết
khiếu nại lần hai hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải
quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của
Luật tố tụng hành chính.
2. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ trưởng, Thủ
tướng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ (sau đây gọi
chung là Bộ trưởng) thì người khiếu nại khiếu nại đến Bộ trưởng hoặc khởi kiện
vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại của Bộ trưởng hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được
10
giải quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định
của Luật tố tụng hành chính.
3. Đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của Chủ tịch Ủy
ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là
cấp tỉnh) thì người khiếu nại khiếu nại lần đầu đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp tỉnh hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố
tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết
khiếu nại lần đầu của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc hết thời hạn
quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khiếu nại lần hai
đến Bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại
Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính.
Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết lần
hai của Bộ trưởng hoặc hết thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải
quyết thì có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của
Luật tố tụng hành chính.
Với quy định chi tiết trình tự giải quyết khiếu nại của các văn bản quy
phạm pháp luật sẽ giúp cho người khiếu kiện bảo đảm được quyền lợi của
Khiếu kiện đòi lại nhà, đất đai do Nhà nước quản lí thuộc diện cải tạo
trước đây như ở Công ty in thống kê (đường Bà Triệu).
Đất đai, nhà cửa liên quan đến các tổ chức tôn giáo. Khiếu nại của các tổ
chức tôn giáo đòi lại đất cũ đã hiến, cho mượn hoặc Nhà nước đã quản lí điều
phối sử dụng từ những năm giải phóng.
Khiếu kiện về tình trạng chính quyền địa phương cho thuê đất trái thẩm
quyền, thời hạn thuê dài, có trường hợp tới 20, 30 năm trong khi đó giá thuê
thấp.
Khiếu kiện xin lại đất đai cũ đã được vào hợp tác xã, tập đoàn sản xuất
mà hiện nay các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất này đã bị giải thể, chính quyền
địa phương đã giao cho người khác sử dụng đất đai.
Khiếu kiện đòi lại đất trước đây vì những lí do khác nhau đã cho người
khác mượn, ở nhờ... nay người mượn lại đem bán hoặc cho thuê nên người
chủ đất cũ bức xúc đòi lại.
Khiếu kiện đòi lại đất hương hỏa, đất nhờ người khác trông coi, người
được nhờ trong coi qua thời gian đã coi như của mình.
Khiếu kiện tranh chấp lối đi trong ngõ, xóm, ranh giới đất ở, đất vườn,
đất sản xuất thuộc quyền sử dụng của các hộ gia đình.
12
Khiếu kiện tranh chấp giữa người dân về những vùng đất bãi bồi ven
sông, ven biển để nuôi trồng, khai thác thủy, hải sản cũng diễn biến khá phức
tạp.
1.2.2. Thực trạng công tác giải quyết khiếu nại2
Trước tình hình khiếu nại phức tạp như đã nêu trên, trong những năm
qua (2013 – 2015), UBND thành phố và Thủ trưởng các cấp, các ngành, các
địa phương đặc biệt quan tâm đến công tác giải quyết khiếu nại về lĩnh vực
đất đai. Dưới sự chỉ đạo của UBND, các ngành chức năng đã thực hiện tốt
Năm 2014, tổng số đơn thư khiếu nại giảm so với năm 2013. Nguyên
nhân giảm là do qua các buổi tiếp dân đã giải thích cho nhân dân rõ đường
lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước và trực tiếp hướng dẫn công
dân gửi đơn đúng cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Đa số đơn thư khiếu nại có nội dung liên quan đến đất đai như: khiếu nại
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tranh chấp đất đai, đòi lại đất; bồi
thường và hỗ trợ tái định cư; số đơn còn lại phản ánh nội dung gây ô nhiễm
môi trường và hoạt động khai thác khoáng sản.
Số lượt công dân đã tiếp: 09 lượt. Nội dung tiếp dân là tiếp thu những
kiến nghị của công dân, đồng thời giải thích rõ cho công dân hiểu đường lối,
chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; lắng nghe tâm tư, nguyện vọng
của nhân dân trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai, tài nguyên khoáng
sản và môi trường, trực tiếp hướng dẫn công dân gửi đơn thư đúng cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giải quyết. Tổng số đơn thư khiếu nại tồn đọng năm
2013 chuyển sang là 30 đơn. Tổng số đơn thư nhận được trong năm 2014 là
126 đơn. So với năm 2013 giảm 31 đơn. Kết quả phân loại đơn có: khiếu nại:
88 đơn; tố cáo: 01 đơn; kiến nghị, phản ánh: 65 đơn; tranh chấp: 02 đơn.
Năm 2014 có 19 đơn khiếu nại liên quan đến nội dung bồi thường giá
đất, trình tự thủ tục và tái định cư. Trong đó:
- 08 trường hợp khiếu nại nội dung không bồi thường giá đất và bồi
thường không đúng diện tích đất nhà nước đã thu hồi.
- 05 trường hợp khiếu nại nội dung giá đất bồi thường.
- 01 trường hợp khiếu nại nội dung tái định cư.
Năm 2015, công tác tiếp dân đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh,
Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố Huế; thủ trưởng các
cấp, các ngành quan tâm thực hiện nghiêm túc. Trong năm, các cấp, các
14
Trú tại số 22/209 Phan Đình Phùng, phường Phú Nhuận, thành phố Huế của Ủy ban nhân dân thành phố Huế
15
Giấy chứng nhận) cho ông, bà Bùi Quang Khám - Nguyễn Thị Phó tại thửa
đất số 68, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại 21/209 Phan Đình Phùng, phường Phú
Nhuận, thành phố Huế với lý do đất đang có tranh chấp chưa được cơ quan
nhà nước có thẩm quyền giải quyết.
Thửa đất ông Trương Hùng Nam đang có đơn khiếu nại thuộc thửa đất
số 68, tờ bản đồ 18, diện tích 82,9m2 tọa lạc tại 21/209 Phan Đình Phùng,
phường Phú Nhuận, thành phố Huế có nguồn gốc là do ông, bà Bùi Quang
Khám - Nguyễn Thị Phó nhận chuyển nhượng của bà Võ Thị Lộc vào năm
1989 (giấy tờ viết tay). Sau khi mua đất ông, bà Bùi Quang Khám - Nguyễn
Thị Phó xây dựng nhà để ở từ đó đến nay.
Ngày 26/02/2014, ông, bà Bùi Quang Khám - Nguyễn Thị Phó lập hồ sơ
đề nghị cấp Giấy chứng nhận tại thửa đất nêu trên và được Bộ phận tiếp nhận
và hoàn trả kết quả của Văn phòng HĐND-UBND Thành phố cấp giấy biên
nhận số 14NDDL50.10457.
Ngày 03/12/2013, UBND phường Phú Nhuận đã Thông báo niêm yết
công khai hồ sơ cấp Giấy chứng nhận của ông, bà Bùi Quang Khám - Nguyễn
Thị Phó theo quy định. Ngày 18/12/2013, UBND phường Phú Nhuận lập biên
bản kết thúc thời gian công khai hồ sơ cấp Giấy chứng nhận và kết quả không
nhận được đơn thư khiếu nại, phản ảnh nào.
Ngày 17/7/2014, UBND thành phố Huế đã cấp Giấy chứng nhận số BT
197114 thửa đất số 68, tờ bản đồ 18, diện tích 82,9m2 loại đất ở đô thị; công
nhận quyền sở hữu nhà 66,1m2 cho ông, bà Bùi Quang Khám - Nguyễn Thị
Phó.
Sau khi phát hiện ông, bà Bùi Quang Khám - Nguyễn Thị Phó được UBND
Thành phố cấp Giấy chứng nhận tại thửa đất nêu trên. Ông Trương Hùng Nam
bản báo cáo UBND Thành phố kèm biên bản hòa giải không thành (đất không
có giấy tờ hợp lệ) để UBND Thành phố giải quyết tranh chấp.
Như vậy, việc UBND Phường Phú Nhuận và ông Trương Hùng Nam
trình bày trong thời gian ông Bùi Quang Khám lập hồ sơ cấp Giấy chứng
nhận đã có tranh chấp quyền sử dụng đất giữa hai gia đình và đã được UBND
Phường Phú Nhuận hòa giải tranh chấp nhưng không thành để cho rằng việc
UBND Thành phố cấp Giấy chứng nhận cho ông, bà Bùi Quang Khám Nguyễn Thị Phó tại thửa đất nêu trên là không đúng trình tự và quy định của
17
pháp luật mà không cung cấp được chứng cứ để chứng minh việc tranh chấp
và giải quyết tranh chấp là không có cơ sở để xem xét, giải quyết.
+ Từ những căn cứ trên Ủy ban nhân dân thành phố Huế quyết định:
Không công nhận nội dung đơn khiếu nại của ông Trương Hùng Nam, trú
tại 22/209 Phan Đình Phùng, phường Phú Nhuận, thành phố Huế khiếu nại
UBND thành phố Huế cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho ông, bà Bùi Quang Khám - Nguyễn Thị Phó
tại thửa đất số 68, tờ bản đồ số 18, tọa lạc tại 21/209 Phan Đình Phùng, phường
Phú Nhuận, thành phố Huế. Nếu không đồng ý với quyết định này, trong thời
hạn quy định của pháp luật ông Trương Hùng Nam có quyền khiếu nại tại Ủy
ban nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân.
*Vụ việc thứ hai: Giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Hữu Thuận4
Địa chỉ: Số 10 Kiệt 70 Ông Ích Khiêm, phường Thuận Thành, thành phố Huế.
+ Nội dung khiếu nại:
Ông Nguyễn Hữu Thuận khiếu nại Quyết định số 7887/QĐ-UBND ngày
19/12/2013 của UBND thành phố về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ
trợ về đất và tài sản cho các hộ gia đình cá nhân để giải tỏa eo bầu Nam
Xương thuộc dự án Đầu tư bảo tồn tu bổ và tôn tạo hệ thống kinh thành Huế
tại phường Thuận Thành, thành phố Huế với các nội dung:
- Không đồng ý việc áp giá đất đền bù theo loại đường 5A.
•
Đối với nội dung khiếu nại giá đền bù đất thấp và không đồng ý việc áp giá
đất theo loại đường 5A.
Căn cứ khoản 1, Điều 14 quy định ban hành kèm theo Quyết định số
18/2011/QĐ-UBND ngày 01/6/2011 của UBND tỉnh về bồi thường, hỗ trợ,
tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh thì:
“Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại
thời điểm có quyết định thu hồi đất do UBND tỉnh công bố thi hành vào ngày
01 tháng 01 hàng năm; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục
đích sử dụng”.
Vì vậy, Quyết định số 7887/QĐ-UBND ngày 19/12/2013 của UBND
thành phố được áp dụng theo bảng giá đất ở của thành phố Huế ban hành kèm
theo Quyết định số 40/2012/QĐ-UBND ngày 21/12/2012 của UBND tỉnh về
giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2013 là đúng quy định.
Do đó, việc ông Nguyễn Hữu Thuận khiếu nại giá đền bù đất thấp và không
đồng ý việc áp giá đất theo loại đường 5A là không có cơ sở để giải quyết.
19
•
Đối với nội dung khiếu nại đề nghị đền bù thửa đất thu hồi theo vị trí 2,
đường Ông Ích Khiêm.
Căn cứ điểm c, khoản 2, Điều 15 quy định ban hành kèm theo Quyết
định số 40/2012/QĐ-UBND ngày 21/12/2012 của UBND tỉnh về giá các loại
đất năm 2013 trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế thì theo quy định trên thì thửa
đất của ông Nguyễn Hữu Bông đang sử dụng nằm ở kiệt nhỏ hơn 2,5m của
đường kiệt rộng 3,8m (kiệt 70 Ông Ích Khiêm) nên UBND thành phố Huế
phê duyệt thửa đất của ông Nguyễn Hữu Bông thuộc vị trí 3, đường Ông Ích
Căn cứ khoản 1, Điều 17 Quyết định số 18/2011/QĐ-UBND ngày
01/6/2011 của UBND tỉnh về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất trên địa bàn tỉnh thì việc đền bù của UBND thành phố tại Quyết định
số 7887/QĐ-UBND ngày 19/12/2013 là đúng quy định.
Do đó, việc ông Nguyễn Hữu Thuận khiếu nại giá đền bù tài sản thấp là
không có cơ sở để giải quyết.
+ Từ những căn cứ trên thì Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định không công
nhận đơn khiếu nại của ông Nguyễn Hữu Thuận trú tại số 10 kiệt 70 Ông Ích
Khiêm, phường Thuận Thành, thành phố Huế với nội dung khiếu nại Quyết
định số 7887/QĐ-UBND ngày 19/12/2013 của UBND thành phố Huế. Đây là
Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu. Nếu không đồng ý với Quyết định
này, trong thời hạn quy định của pháp luật, ông Nguyễn Hữu Thuận có quyền
khiếu nại tại UBND tỉnh Thừa Thiên Huế hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân
theo quy định của pháp luật.
1.3.
Những thành tựu đạt được
Trong những năm qua, thành phố Huế đã đặt công tác giải quyết tranh
chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản
lý đất đai. Thành phố Huế đã đổi mới công tác tiếp dân, kiện toàn bộ máy và
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp công dân và giải quyết
tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai.
Việc đùn đẩy trách nhiệm giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo đã
giảm. Công tác giải quyết khiếu nại liên quan đến đất đai có nhiều bước
chuyển biến tích cực, số lượng đơn thư khiếu nại không thuộc cấp thẩm quyền
qua các năm giảm nhờ công tác tiếp dân và tuyên truyền phổ biến pháp luật,
chính sách của Đảng và Nhà nước thực hiện tốt, góp phần ổn định đời sống
chính trị, và hơn hết là quyền lợi của nhân dân được bảo đảm.
sài, không còn lưu sổ sách.
Việc thực hiện không triệt để các quy định của pháp luật đất đai ở các cấp
làm cho hồ sơ địa chính không đồng bộ, sổ sách, bản đồ, tư liệu thiếu; trước
đây, việc ban hành các văn bản về quy hoạch đất đai chậm, thiếu các văn bản
về hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, xử lý vi phạm dẫn đến công tác quản lý đất
đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai gặp nhiều khó khăn.
Công tác lưu trữ tư liệu địa chính chưa tốt nên việc tra cứu gặp nhiều
khó khăn.
- Về phía người đi khiếu kiện:
22
Nhiều vụ việc tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai mặc dù địa phương
đã nỗ lực cố gắng vận dụng chính sách giải quyết có lý, có tình, phù hợp với
tình hình thực tế và đúng với quy định của pháp luật, đã được đối thoại trực
tiếp nhiều lần nhưng do nhiều động cơ khác nhau người khiếu nại vẫn cố tình
đeo bám, khiếu kiện và làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn.
Một số đối tượng đi khiếu nại có hành vi vượt quá giới hạn, vi phạm
pháp luật, lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo đã có hành vi quá khích gây mất
trật tự an toàn công cộng, ảnh hưởng đến công tác và hoạt động bình thường
của các cơ quan nhà nước.
1.5.
Những hạn chế trong công tác giải quyết khiếu nại về đất đai
- Một số cơ quan chuyên môn tham mưu giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố
cáo chưa đảm bảo thời hạn quy định.
- Quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai, người có
thẩm quyền giải quyết chưa tổ chức gặp gỡ, đối thoại theo quy định của pháp
công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền mà
còn gián đoạn cho cơ quan tham mưu.
- Các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền chưa tranh thủ sự ủng hộ, đồng
tình của đại đa số quần chúng nhân dân là những người chấp hành nghiêm các
chủ trương, chính sách của Nhà nước nói chung và thực hiện tốt các chương
trình, dự án của tỉnh nói riêng, nhất là các dự án đền bù, giải tỏa, tái định cư
để đấu tranh, phê phán những người cố tình không thực hiện nghiêm các quy
định của pháp luật.
- Việc phân loại, xác định thẩm quyền, chỉ đạo xử lý, giải quyết đơn thư
khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, đơn vị chưa thực hiện đúng trình tự,
thẩm quyền.
- Việc tổ chức thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tranh chấp
đã có hiệu lực pháp luật còn chậm, có vụ việc để kéo dài, không những ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích của các bên liên quan vụ việc khiếu nại, tranh
chấp mà còn tạo dư luận không tốt trong xã hội.
24
CHƯƠNG 2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHIẾU NẠI
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TẠI THÀNH PHỐ,
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1.
Giải pháp chung đối với tỉnh Thừa Thiên Huế
Để nâng cao hiệu quả của việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vựa đất
đai cần phải tiến hành các công việc sau:
+ Từng bước hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt
là luật đất đai và luật khiếu nại.