Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai của
cơ quan hành chính Nhà nước
(qua thực tiễn tỉnh Nghệ An) Phan Duy Hùng Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và Pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS.TS Nguyễn Đăng Dung
Năm bảo vệ: 2011
Abstract. Tổng quan về khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai. Khảo sát thực trạng
khiếu nại, giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính nhà nước (qua thực
tiễn tỉnh Nghệ An). Đưa ra những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải
quyết khiếu nại về đất đai của cơ quan hành chính nhà nước.
Keywords: Luật đất đai; Giải quyết khiếu nại; Cơ quan hành chính nhà nước; Nghệ An;
Luật tư pháp
Content. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân, được Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 ghi nhận: "Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan
nhà nước có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ
chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào".
Khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai (sau đây gọi là khiếu
mặt lý luận và thực tiễn hiện nay. Với nhận thức như vậy, tôi đã lựa chọn đề tài: "Giải quyết khiếu
nại trong lĩnh vực đất đai của cơ quan hành chính nhà nước (qua thực tiễn tỉnh nghệ an)" làm
luận văn thạc sĩ luật học của mình.
Các kết quả nghiên cứu của luận văn này này có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo tại
các cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo đối
với các cơ quan xây dựng và thực thi pháp luật trong quá trình xây dựng, hoàn thiện và tổ chức
thực hiện pháp luật đất đai nói chung và pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai nói riêng ở nước
ta. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng
nghiên cứu hồ sơ của cơ quan, cán bộ thực hiện trách nhiệm thẩm tra, xác minh để giải quyết tốt
khiếu nại về đất đai.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích của luận văn là nêu rõ nhưng vấn đề chung về khiếu nại, phân tích, đánh giá thực
trạng khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Nghệ An; qua đó đề xuất các giải pháp hoàn
thiện pháp luật về đất đai, pháp luật khiếu nại về đất đai và bài học kinh nghiệm, phương pháp thẩm
tra, xác minh để giải quyết có hiệu quả hơn các khiếu nại về đất đai.
- Để đạt được mục đích này, luận văn có nhiệm vụ nghiên cứu những quy định của pháp luật về
đất đai, pháp luật về khiếu nại, thực trạng giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Nghệ An. Trên cơ sở
đó chỉ ra những thiếu sót, tồn tại của pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại hiện hành và đề xuất
các giải pháp nhằm hoàn hiện pháp luật khiếu nại về đất đai, pháp luật về đất đai, nâng cao hiệu quả
của công tác giải quyết khiếu nại về đất đai, góp phần hoàn thiện cả về mặt lý luận và thực tiễn trong
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
3. Phương pháp nghiên cứu
- Tìm hiểu các văn bản pháp luật, các văn bản dưới luật, các tạp chí chuyên ngành và các tài liệu
có liên quan đến đất đai, việc giải quyết khiếu nại, tranh chấp trong lĩnh vực đất đai do cơ quan nhà
nước có thẩm quyền ban hành; nghiên cứu các hồ sơ giải quyết khiếu nại, tranh chấp trong lĩnh vực
đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An.
- So sánh giữa lý luận và thực tiễn tình hình giải quyết khiếu nại về đất đai ở địa phương với
pháp luật đất đai, pháp luật về khiếu nại của Nhà nuớc.
- Để giải quyết các vấn đề do đề tài đặt ra, người viết luận văn sử dụng phương pháp lịch sử,
phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, trao đổi chuyên gia.
trong trường hợp này là quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lý đất đai. Khi người khiếu
nại cho rằng, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi
hành chính trong quản lý đất đai xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình, thì có quyền khiếu nại,
yêu cầu chấm dứt, cải sửa, thu hồi, huỷ bỏ quyết định hành chính, hành vi hành chính đó, thậm chí phải
bồi thường thiệt hại xảy ra.
Điều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
năm 2003, đã quy định các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại trong lĩnh
vực đất đai như sau:
* Quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm:
- Quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử
dụng đất:
- Quyết định bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư:
- Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- Quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất:
* Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại:
Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước
khi giải quyết công việc thuộc phạm vi quy định đã nêu trên.
Như vậy, có rất nhiều quyết định hành chính, hành vi hành chính trong công tác quản lý nhà nước về
đất đai, nhưng chỉ những Quyết định, hành vi hành chính theo quy định Điều 162 Nghị định
181/2004/NĐ-CP được điều chỉnh theo pháp luật về đất đai; các quyết định hành chính, hành vi hành
chính khác trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai điều chỉnh theo Luật khiếu nại, tố cáo.
1.1.3. Đặc điểm khiếu nại về đất đai
Thứ nhất, chủ thể của khiếu nại về đất đai chỉ có thể là chủ thể của quyền quản lý và quyền sử
dụng đất mà không phải là chủ thể của quyền sở hữu đất đai.
Thứ hai, nội dung của khiếu nại về đất đai rất đa dạng và phức tạp.
Thứ ba, khiếu nại về đất đai phát sinh gây hậu quả xấu về nhiều mặt.
Thứ tư, đối tượng của khiếu nại về đất đai là quyền quản lý và quyền sử dụng đất.
1.1.4. Nội dung khiếu nại về đất đai
Nội dung khiếu nại về đất đai của các tổ chức, cá nhân rất đa dạng, phức tạp, nhưng chủ yếu tập
trung vào các vấn đề sau:
Nghị định 181/2004/NĐ-CP) theo pháp luật về đất đai
b) Về giải quyết khiếu nại về quyết định hành chính, hành vi hành chính khác trong lĩnh vực đất
đai:
Công dân, cơ quan, tổ chức khiếu nại
Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Tòa án nhân dân
cấp huyện
Tòa án nhân dân
cấp tỉnh
Tòa án nhân dân
cấp tỉnh
Điều 165 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai
năm 2003 quy định: Việc giải quyết khiếu nại đối với Quyết định hành chính, hành vi hành chính về
quản lý đất đai không thuộc Quyết định quy định tại Điều 162 Nghị định Nghị định 181/2004/NĐ-
CP được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.
Sơ đồ 1.2: Sơ đồ về giải quyết khiếu nại các quyết định hành chính, hành vi hành chính đất đai khác
theo pháp luật về đất đai, pháp luật về khiếu nại (các quyết định, hành vi từ cấp tỉnh trở xuống)
Chủ tịch
Ủy ban
nhân dân
cấp huyện Tòa án
nhân dân
cấp huyện
Chủ tịch
Ủy ban
nhân dân
cấp tỉnh
Tòa án
nhân dân
cấp huyện
Chủ tịch Ủy
ban nhân dân
cấp tỉnh hoặc
Bộ Tài nguyên
và Môi trường
Tòa án
nhân dân
cấp tỉnh
Tòa án
Sơ đồ 1.3: Sơ đồ về giải quyết tranh chấp đất đai đối với trường hợp
không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong
các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai
1.3.3. Phân biệt khiếu nại, giải quyết khiếu nại với tranh chấp, giải quyết tranh chấp về đất đai
Bảng 1.1: So sánh sự khác nhau giữa khiếu nại, giải quyết khiếu nại
về đất đai với tranh chấp đất đai, giải quyết tranh chấp đất đai
TT
Nội dung
phân biệt
Khiếu nại, giải quyết
khiếu nại về đất đai
Tranh chấp, giải quyết tranh
chấp về đất đai
1
Mối quan hệ
chủ thể
tham gia
quan hệ đất
đai
Thể hiện mối quan hệ giữa người sử dụng đất
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản
lý trong lĩnh vực đất đai
Thể hiện mối quan hệ giữa các
cá nhân, tổ chức bình đẳng về
quyền và nghĩa vụ trong việc
sử dụng đất.
2
Tòa án nhân dân
cấp cấp huyện
Tranh chấp giữa tổ chức, cơ sở tôn giáo,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức,
cá nhân nước ngoài với nhau hoặc với hộ gia đình,
cá nhân, cộng đồng dân cư cưnhau
Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức hòa giải
Chủ tịch UBND cấp tỉnh
Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường
Tòa án nhân dân
cấp tỉnh
khiếu nại,
đề nghị giải
quyết tranh
chấp đất đai.
nhân dân cấp huyện là 90 ngày; của Uỷ ban
nhân dân cấp tỉnh là 30 ngày.
- Khiếu nại tiếp theo là 45 ngày
về đất đai không quy đinh.
- Khiếu nại tiếp theo là 15 ngày
4
Thời hạn
giải quyết
- Giải quyết lần đầu là 30 ngày (nếu vùng sâu,
vùng xa đi lại khó khăn là 45 ngày), nhưng có
thể kéo dài 45 ngày nếu vụ việc phức tạp (nếu
(QUA THỰC TIỄN TỈNH NGHỆ AN)
2.1. Khái quát tình hình quản lý, sử dụng đất đai
2.1.1. Đặc điểm đất đai tỉnh Nghệ An
Nghệ An nằm ở vị trí trung tâm vùng Bắc Trung bộ, có bờ biển dài 82 km và gần 700 km ranh
giới tiếp giáp hai tỉnh Thanh Hóa, Hà Tĩnh và nước Cộng Hòa dân chủ nhân dân Lào. Tỉnh Nghệ An
có 17 huyện, 02 thị xã, 01 thành phố và 479 đơn vị hành chính cấp xã.
Đến 01/01/2011, tỉnh Nghệ An có tổng diện tích tự nhiên là 1.649.368,62 ha (chiếm 32% diện
tích của vùng Bắc Trung bộ và chiếm 4,98% diện tích cả nước).
- Tổng diện tích đất nông nghiệp: 1.239.676,85 ha (chiếm 75,16% diện tích đất tự nhiên). Trong đó:
- Tổng diện tích đất phi nông nghiệp: 125.251,69 ha (chiếm 7,59% diện tích đất tự nhiên). Trong đó:
- Tổng diện tích đất chưa sử dụng: 284.440,07 ha (chiếm 17,25% diện tích đất tự nhiên). Trong đó:
2.1.2. Đánh giá chung về tình hình quản lý, sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Nghệ An
a) Những kết quả đạt được trong công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Ban hành 35 văn bản quy phạm pháp luật
- Đã lập phương án điều chỉnh Quy hoạch sử dụng đất cấp tinh, huyện, xã.
- Về giao đất, cho thuê đất, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá
nhân: giao 11.612 lô đất; cho chuyển nhượng quyền sử dụng đất 12.833 trường hợp; cho 30 trường
hợp thuê đất; cho chuyển mục đích 904 trường hợp.
- Về giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất đối với tổ chức: cho 214 tổ chức đang sử
dụng đất trước 01/7/2004 thuê đất; giao đất mới 198 trường hợp; chuyển mục đích cho 05 trường hợp.
- Thu hồi 33.356,84 ha để thực hiện 485 dự án; thu hồi 51 vị trí do không sử dụng đất hoặc dự án
chậm tiến độ quy định và thu hồi 7,42 ha đất của 03 tổ chức sử dụng không hiệu quả, để hoang hóa.
- Thu hồi, bồi thường giải phóng mặt bằng 6129.67 ha đất với tổng kinh phí bồi thường là 840,44
tỷ đồng.
- Đã hoàn thành đo đạc bản đồ được 66 xã và 127.831 ha bản đồ lâm nghiệp cho 8 huyện.
- Đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị cho 107.635 hộ; đất nông nghiệp và đất ở
nông thôn cho 493.629 hộ; đất lâm nghiệp cho 68.304 hộ gia đình, cá nhân; đất chuyên dùng cho
2201 vị trí.
b) Những hạn chế, vướng mắc trong công tác quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An
- Về ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đất đai: Số lượng văn bản quy phạm pháp luật về
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An đã tiếp được 2.037 lượt người đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị (trong đó có 1.038 lượt người khiếu nại về đất đai, chiếm tỉ lệ 51% lượt người).
+ Giám đốc các Sở, ngành (Sở Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra tỉnh Nghệ An) đã tiếp được
3.038 lượt người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị (trong đó có 1.914 lượt người khiếu nại về đất đai,
chiếm tỉ lệ 63% lượt người).
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện đã tiếp được 13.047 lượt người đến khiếu nại, tố cáo,
kiến nghị (trong đó có 7.776 lượt người khiếu nại về đất đai, chiếm tỉ lệ 55% lượt người).
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã đã tiếp được 21.064 lượt người đến khiếu nại, tố cáo, kiến
nghị (trong đó có 12.428 lượt người khiếu nại về đất đai, chiếm tỉ lệ 59% lượt người).
- Về tình hình khiếu nại, tố cáo, tranh chấp: Từ năm 2004 đến 2010, các cơ quan hành chính tỉnh
Nghệ An đã nhận được 38.987 đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp; trong đó:
+ Khiếu nại, tranh chấp, kiến nghị, phản ánh: 27.849 đơn (khiếu nại, tranh chấp, kiến nghị phản
ánh về đất đai là 18.967đơn, chiếm 69%).
+Tố cáo: 7.742 đơn (tố cáo về đất đai là 3.251 đơn, chiếm 42%)
b) Nguyên nhân khiếu nại về đất đai
* Nguyên nhân khách quan
Có sự biến động lớn về chủ sử dụng đất; sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai;
sự yếu kém trong công tác tổ chức thi hành pháp luật về đất đai; sự yếu kém trong công tác bồi
thường giải phóng mặt là nguyên nhân dẫn đến khiếu nại về công tác thu hồi đất, bồi thường giải
phóng mặt bằng chiếm tỷ lệ đơn thư khá cao.
* Nguyên nhân chủ quan
Việc áp dụng pháp luật của Uỷ ban nhân dân các cấp còn có tình trạng tuỳ tiện, nhất là ở cấp
huyện và cấp xã;
- Đất đai có giá trị đặc biệt, nhưng trong thời gian dài đã quản lý lỏng lẻo, dẫn tới những sai phạm có
tính phổ biến, trong đó đáng lưu ý là một bộ phận cán bộ, công chức đã lợi dụng chức quyền để chia chác
đất đai hoặc trục lợi từ đất đai.
- Một bộ phận người dân chưa nhận thức đầy đủ các quy định của pháp luật, nên khiếu nại chưa
đúng quy định.
- Tình trạng vi phạm pháp luật, mất dân chủ, tham nhũng, tiêu cực xảy ra khá phổ biến, nhất là ở
cơ sở gây bất bình, bức xúc trong nhân dân, làm phát sinh khiếu kiện.
bản phối hợp về vấn đề này.
- Về cơ bản, đơn thư khiếu nại về đất đai của công dân, tổ chức đó được các cấp, ngành tỉnh Nghệ An
xử lý, tham mưu giải quyết đúng quy định của pháp luật.
- Qua công tác giải quyết khiếu nại về đất đai đã thu hồi cho Nhà nước hàng trăm tỷ đồng, hàng
nghìn ha đất, đem lại quyền lợi chính đáng cho các tổ chức, cá nhân
- Cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư ngày càng có kinh nghiệm, am hiểu pháp luật,
có nhiệt huyết, phương pháp làm việc với công dân ngày càng uyển chuyển, mềm dẻo.
- Các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong tỉnh đã quan tâm nhiều hơn đến công tác giải
quyết khiếu nại nói chung và khiếu nại về đất đai nói riêng.
- Đối với những vụ việc phức tạp, đông người, tồn đọng kéo dài, mỗi cấp, ngành đã thực hiện
những biện pháp, giải pháp phù hợp trước khi ban hành quyết định thành lập và tham khảo ý kiến của
Hội đồng tư vấn, do đó tạo được sự đồng thuận khi kết luận, giải quyết vụ việc.
* Những tồn tại trong công tác giải quyết khiếu nại về đất đai:
- Một số cấp ủy, Ủy ban nhân dân cấp cấp huyện, xã còn coi nhẹ công tác giải quyết khiếu nại
của công dân.
- Chưa làm tốt việc tiếp dân, nhận đơn, chưa hướng dẫn cụ thể theo pháp luật về việc nộp đơn.
- Các vụ việc đã được giải quyết nhưng việc tổ chức thực hiện chưa tốt, thiếu kiểm tra, đôn đốc kịp
thời để khiếu kiện kéo dài, gây bức xúc, làm phát sinh những quan hệ khiếu nại mới phức tạp hơn.
- Đội ngũ cán bộ hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu Không ít thủ trưởng cơ quan hành
chính đùn đẩy, né tránh việc gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại.
- Việc áp dụng pháp luật của Uỷ ban nhân dân các cấp còn có tình trạng tuỳ tiện, nhất là cấp
huyện và cấp xã.
- Việc phân công thực hiện nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân trong việc giải quyết các
khiếu nại về đất đai không thống nhất.
- Nhiều công chức làm nhiệm vụ tiếp dân, giải quyết khiếu nại của công dân còn yếu kém về
trình độ, năng lực chuyên môn.
- Việc tiếp công dân còn bị coi nhẹ và chưa được tổ chức tốt, cán bộ tiếp dân chưa am hiểu pháp luật
- Tình trạng vi phạm về thời hạn giải quyết khiếu nại xảy ra khá phổ biến.
- Hiệu lực thi hành của các quyết định giải quyết cũng còn rất hạn chế.
- Việc phối hợp giải quyết khiếu nại về đất đai giữa các cơ quan có thẩm quyền chưa được chặt
yên tâm sản xuất, kinh doanh, giảm chi phí tốn kém trong việc khiếu kiện.
d) Về phương diện nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước
Giải quyết tốt khiếu nại về đất đai tạo điều kiện cho hoạt động quản lý nhà nước về đất đai đạt
hiệu quả cao và tạo điều kiện thực hiện tốt các nội dung quản lý khác.
3.1.2. Định hƣớng về hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai
Khuyến khích việc đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai giữa cơ quan hành chính với
người khiếu nại; mở rộng thẩm quyền và nâng cao vai trò của Tòa án nhân dân trong việc thụ lý, xét xử các
vụ việc khiếu nại về đất đai. a) Quan điểm của Đảng, Nhà nước về hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai
Thứ nhất, tăng cường hòa giải trong quá trình giải quyết tranh chấp về đất đai và đối thoại trong
quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai; thứ hai, đổi mới cách giải quyết khiếu nại về đất đai theo
hướng đưa hệ thống tòa án nhân dân nhập cuộc, giảm bớt áp lực của bộ máy hành chính nhà nước
nói chung và lên Trung ương nói riêng; thứ ba, việc giải quyết tố cáo về đất đai thực hiện theo pháp
luật về tố cáo.
b) Định hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai
- Đối thoại trong quá trình giải quyết khiếu nại về đất đai là thủ tục bắt buộc: Đối thoại là một
nội dung quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của công tác giải quyết khiếu nại, đặc biệt là
các vụ khiếu nại đông người.
- Cơ quan giải quyết khiếu nại cuối cùng về đất đai là cơ quan tòa án: Mọi khiếu nại về đất đai
của bất kỳ các chủ thể (cá nhân, tổ chức) đều phải được giải quyết bằng cơ quan tòa án nếu như việc
giải quyết khiếu nại của các cơ quan hành chính không đạt được.
- Giải quyết các mẫu thuẫn, chồng chéo về thẩm quyền giải quyết khiếu nại về đất đai: Trình tự,
thủ tục giải quyết khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai được thực hiện theo
quy định của pháp luật về khiếu nại. Còn trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính,
hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
3.1.3. Định hƣớng về cơ chế tổ chức thực hiện những quy định của pháp luật khiếu nại về đất đai
a) Cần tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai, pháp luật về
khiếu nại cho nhân dân
tác giải quyết khiếu nại về đất đai; cần quy định thủ tục ra quyết định hành chính ban đầu để đảm bảo
công bằng và minh bạch hơn trong quá trình ra quyết định.
3.2.3. Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai và pháp luật về khiếu nại
a) Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về đất đai
Sửa đổi, bổ sung vai trò của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu về đất đai và quyền của người
sử dụng đất; sửa đổi, bổ sung chính sách giao đất nông nghiệp, thời hạn sử dụng đất nông nghiệp
trồng cây hàng năm đã giao theo Nghị định số 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ; sửa đổi, bổ
sung vấn đề xây dựng giá đất và công bố bảng giá đất hàng năm; sửa đổi, bổ sung vấn đề quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất; sửa đổi, bổ sung vấn đề cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
b) Sửa đổi, bổ sung chính sách, pháp luật về khiếu nại, tranh chấp đất đai
Về cơ chế giải quyết khiếu nại, tranh chấp đất đai; về vấn đề thời hiệu khiếu nại, tranh chấp, thời
hạn giải quyết; Vấn đề khiếu nại đòi lại đất cũ; Về một số quy định chưa phù hợp thực tiễn:
KẾT LUẬN
1. Khiếu nại về đất đai là một hiện tượng xảy ra phổ biến trong xã hội, đặc biệt khi nước ta
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý mới bằng việc trả lại đất
đai những giá trị vốn có thì khiếu nại về đất đai phát sinh có xu hướng ngày càng tăng cả về số lượng
cũng như tính chất phức tạp về mặt nội dung. Tuy nhiên, khiếu nại về đất đai kéo dài với số lượng
ngày càng đông người dân tham gia thì lại là vấn đề rất đáng quan tâm tìm hiểu nguyên nhân nảy
sinh để đề ra các biện pháp giải quyết phù hợp nhằm "tháo ngòi nổ" xung đột không để phát sinh trở
thành "điểm nóng" gây mất ổn định chính trị, tình hình trật tự an toàn xã hội. Tính phức tạp của
khiếu nại về đất đai, khiếu kiện kéo dài không chỉ bắt nguồn từ những xung đột gay gắt về lợi ích
kinh tế, từ hệ quả của sự quản lý thiếu hiệu quả của các cơ quan nhà nước, sự bất hợp lý và thiếu
đồng bộ của hệ thống chính sách, pháp luật đất đai…mà còn do những nguyên nhân có tính lịch sử
trong quản lý và sử dụng đất đai qua các thời kỳ. Việc nghiên cứu, tìm hiểu khiếu nại về đất đai dưới
khía cạnh những nguyên nhân có tính lịch sử là rất cần thiết không những giúp Nhà nước trong nỗ
lực xác lập cơ chế giải quyết khiếu nại về đất đai một cách có hiệu quả mà còn góp phần vào việc bổ
sung, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước hiện nay.
4. Xây dựng và hoàn thiện chế định giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan hành chính
nhà nước (qua thực tiễn ở tỉnh Nghệ An) phù hợp với điều kiện và đặc điểm của nền kinh tế nước ta
là một quá trình đòi hỏi phải được dựa trên các định hướng sau:
- Thống nhất việc điều chỉnh pháp luật đối với hoạt động sử dụng đất của mọi đối tượng sử dụng
đất trong xã hội.
- Căn cứ vào các quan điểm phát triển kinh tế trong lĩnh vực đất đai của Đảng và chế độ sở hữu
đất đai đặc thù của nước ta. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thống
nhất quản lý; đồng thời chú trọng đến các yếu tố xã hội của việc sử dụng đất đai như truyền thống,
phong tục, tập quán của mỗi địa phương.
- Đảm bảo cho các quy định về giải quyết khiếu nại về đất đai ngày càng "tiệm cận" gắn với hệ
thống pháp luật và tập quán quốc tế.
Theo hướng đó, luận văn đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm xây dựng và hoàn thiện pháp luật giải
quyết khiếu nại về đất đai trong thời gian tới, bao gồm:
- Sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Đất đai 2003 và pháp luật về khiếu nại liên quan đến
khiếu nại về đất đai, để tạo ra sự thống nhất, đảm bảo các quyền khiếu nại của công dân và việc giải
quyết khiếu nại được thực hiện đầy đủ, kịp thời.
- Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất, phấn
đấu đến năm 2013 cấp xong toàn bộ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho mọi đối tượng sử dụng
đất trong cả nước.
- Khẩn trương sửa đổi, bổ sung Luật Đất đai năm 2003, đặc biệt là các quy định về giá đất, về
bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích
quốc gia, lợi ích công cộng và các quy định về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm tạo cơ
sở pháp lý để giải quyết tốt các khiếu nại về đất đai liên quan đến các lĩnh vực này.
- Kiện toàn hệ thống cơ quan giải quyết khiếu nại về đất đai, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao
năng lực chuyên môn nghiệp vụ, trình độ hiểu biết pháp luật đất đai cho đội ngũ các cán bộ làm
công tác thẩm tra, xác minh, giải quyết khiếu nại về đất đai.
- Hoàn thiện công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai, hoàn thiện hồ sơ địa chính, đăng ký
biến động về đất đai nhằm tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả công tác giải quyết khiếu
nại về đất đai.
Xây dựng các luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật giải quyết khiếu nại về đất đai trong điều
Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
10. Hiến pháp Việt Nam (năm 1946, 1959, 1980 và 1992) (1995), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Nguyễn Thị Liên (2006), Các quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo và thanh tra, Nxb Tư
pháp, Hà Nội.
12. Quốc hội (1998), Luật Khiếu nại, tố cáo, Hà Nội.
13. Quốc hội (2004), Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
14. Quốc hội (2005), Luật Khiếu nại, tố cáo (sửa đổi, bổ sung), Hà Nội.
15. Quốc hội (2005), Bộ luật Dân sự, Hà Nội.
16. Quốc hội (2010), Luật Tố tụng hành chính, Hà Nội.
17. Quốc hội (2010), Nghị quyết số 56/2010/QH 12 về việc thi hành Luật Tố tụng hành chính, Hà
Nội.
18. Sở Tài nguyên Môi trường Nghệ An (2005 - 2010), Báo cáo về công tác thanh tra, giải quyết
khiếu nại, tranh chấp, Nghệ An.
19. Sở Tài nguyên Môi trường Nghệ An (2006), Báo cáo tình hình thực hiện Nghị quyết Trung ương
VII (khóa IX) về chính sách, pháp luật về Đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện
đại hóa, Nghệ An.
20. Tạp chí Địa chính và Thanh tra Tổng cục Địa chính (1997), Các văn bản pháp quy về quản lý
đất đai ban hành ở Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1997, tập 2, Nxb Bản đồ, Hà Nội.
21. Tạp chí Thanh tra (2005), Giải quyết tranh chấp, khiếu nại về đất đai, giải tỏa, đền bù, Nxb Lao
động, Hà Nội.
22. Thanh tra tỉnh Nghệ An (2005 - 2010), Báo cáo tổng kết công tác thanh tra, Nghệ An.
23. Thuật ngữ pháp lý phổ thông (1986), Nxb Pháp lý, Hà Nội.
24. Tỉnh ủy Nghệ An (2001), Chỉ thị số 04 CT/TU ngày 16/7 về việc yêu cầu cấp ủy Đảng, chính
quyền, sở, ban, ngành, đoàn thể các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc giải
quyết khiếu nại, tố cáo, Nghệ An.
25. Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học (Phần Luật Đất đai,
Lao động, Tư pháp quốc tế), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
26. Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật Đất đai, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
27. Từ điển Anh - Việt (1990), Nxb Đồng Nai.
28. Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An (2007), Tuyển tập các văn bản quy phạm về đất đai và Môi