Pháp luật về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai và thực tiễn thực thi tại quận dương kinh, thành phố hải phòng - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT
ĐAI VÀ THỰC TỄN THỰC THI TẠI QUẬN DƯƠNG KINH,
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

LƯƠNG THỊ DUYÊN
CHUYÊN NGÀNH

: LUẬT KINH TẾ

MÃ SỐ

: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN MINH HẰNG

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được
thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Minh Hằng. Các thông tin, số liệu,
các luận điểm kế thừa được trích dẫn rõ ràng. Kết quả nghiên cứu của luận
văn hoàn toàn trung thực.
XÁC NHẬN CỦA
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC


3. Mục đích nghiên cứu ..................................................................................... 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
5. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 4
6. Nội dung của luận văn ................................................................................... 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC
ĐẤT ĐAI ................................................................................................................ 6
1.1. Khái quát chung về quyền của phụ nữ ...................................................... 6
1.1.1. Khái niệm quyền của phụ nữ ............................................................... 6
1.1.2. Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội ....................................... 7
1.1.3. Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về đảm bảo
quyền bình đẳng của phụ nữ ......................................................................... 9
1.2.Khái quát chung về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai .............. 122
1.2.1. Khái niệm quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai ....................... 122
1.2.2. Các loại quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai .......................... 133

1.2.3. Các yếu tố bảo đảm việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh
vực đất đai………………………………………………………………… 14
1.3.Sơ lược về việc ghi nhận quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai qua
các thời kỳ lịch sử .......................................................................................... 188
1.3.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 ........................... 18
1.3.1.1. Thời kỳ phong kiến ..................................................................... 18
1.3.1.2. Thời kỳ Pháp thuộc .................................................................... 21
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1980............................................... 22
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1980 đến nay....................................................... 255

Kết luận chương 1……………………………………………………..30


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC THI
QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TẠI QUẬN DƯƠNG

2.3. Thực tiễn thực thi pháp luật về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
tại quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng ................................................. 62
2.3.1. Đôi nét về quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng ......................... 62
2.3.2. Tình hình thực thi pháp luật về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất
đai tại quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng ........................................ 62
2.3.2.1 Kết quả đạt được ........................................................................... 62
2.3.2.2. Tồn tại, hạn chế ............................................................................ 68
2.3.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế ...................................... 73

Kết luận chương 2………………………………………………....78
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
THI QUYỀN CỦA PHỤ NỮ TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI TẠI QUẬN
DƯƠNG KINH, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG …………………………………79
3.1. Một số định hướng chủ yếu cho việc hoàn thiện pháp luật về quyền của
phụ nữ trong lĩnh vực đất đai ......................................................................... 79
3.3. Một vài kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực thi quyền của
phụ nữ trong lĩnh vực đất đai ......................................................................... 80
3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật........................................................... 81
3.2.2. Giải pháp nhằm bảo đảm công tác thực thi quyền của phụ nữ trong
lĩnh vực đất đai ............................................................................................. 83
3.2.2.1. Nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về đảm bảo thực thi
quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai ................................................... 83
3.2.2.2. Nâng cao nhận thức và ý thức của người sử dụng đất.................. 86
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 91


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy
vai trò của mình trong xã hội2. Theo lẽ đó, phụ nữ được nhà nước trao quyền sử
dụng đất bình đẳng với các chủ thể khác. Do đó khi bàn đến quyền của phụ nữ trong
lĩnh vực đất đai chính là quyền của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất.
Quyền của người sử dụng đất nói chung và quyền của phụ nữ trong lĩnh vực
đất đai nói riêng đã được ghi nhận theo hướng ngày càng mở rộng các quyền không
chỉ trong mối quan hệ với Nhà nước mà cơ bản là quyền trong quá trình vận hành
quyền sử dụng đất trong đời sống thực tế. Mặc dù các văn bản pháp ý đều khẳng
định sự bình đẳng về địa vị pháp lý giữa nam và nữ, trong lĩnh vực đất đai cũng vậy,
pháp luật quy định các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất nói chung cho
người sử dụng đất, không phân biệt nam hay nữ. Tuy nhiên, việc thực thi các quy
định này trên thực tế chưa thực sự đạt hiệu quả. Ở nhiều địa phương, xuất phát từ
nhiều nguyên nhân khác nhau mà vấn đề thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực
1
2

Điều 53 Hiến pháp năm 2013
Điều 26 Hiến pháp năm 2013

1


đất đai hay quyền của phụ nữ với vai trò là người sử dụng đất vẫn bị hạn chế hơn so
với nam giới. Chẳng hạn về vấn đề đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nam giới đứng tên trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lớn hơn nhiều so với phụ nữ…
Do vậy việc nghiên cứu và đánh giá “Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất
đai và tình hình thực thi tại địa bàn Quận Dương Kinh, thành phố Hải phòng” –
nơi tác giả sinh sống, học tập và làm việc là vấn đề hết sức cấp thiết.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu

của người phụ nữ trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà chưa hệ thống hóa
hết các quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai.
Một số công trình nghiên cứu khác có liên quan như: “Quyền của phụ nữ
trong hệ thống pháp luật Việt Nam” 5 , bài viết này mặc dù đề cập đến quyền của
phụ nữ trong một số văn bản pháp luật như Luật bảo hiểm xã hội, Luật hôn nhân và
gia đình, Luật lao động, Luật bình đẳng giới… nhưng lại chưa đề cập đến quyền của
phụ nữ trong lĩnh vực đất đai.
Như vậy, có thể thấy trên thực tế, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai rất
được nhiều luật gia, các cơ quan, tổ chức và đoàn thể quan tâm tới. Trong các công
trình của mình, mỗi tác giả đều có những phân tích, nhận định vấn đề quyền của
phụ nữ ở những khía cạnh khác nhau nhưng chưa khái quát được dưới góc độ chung
nhất các vấn đề về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai và chưa có công trình
nghiên cứu nào đi tìm hiểu tình hình thực hiện quyền của phụ nữ trong lĩnh vực này
tại Quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng.
3. Mục đích nghiên cứu
Mặc dù Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận sự bình đẳng của nam nữ trong mọi
lĩnh vực, đồng thời ghi nhận Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ
phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế
quyền của phụ nữ trong mọi lĩnh vực nói chung và đặc biệt trong lĩnh vực đất đai
3

Xem tại website: />4
Xem tại: truy cập ngày 03/7/2017
5
Xem tại: truy cập ngày
03/7/2017

3




- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ mức độ tương quan
giữa những quy định của pháp luật qua các thời kỳ lịch sử và đặc biệt là
thông qua phương pháp này để có được những đánh giá khách quan giữa quy
định của pháp luật với thực tiễn thực hiện các quy định đó;
- Phương pháp tổng hợp và thống kê được sử dụng để khái quát hoá nội dung
nghiên cứu một cách hệ thống, làm cho vấn đề nghiên cứu trở nên ngắn gọn, súc
tích, dễ hiểu. Đồng thời phương pháp này được dùng để thu thập và cung cấp một
số số liệu liên quan đến việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai trên
thực tiễn;
- Phương pháp xã hội học được dùng để đánh giá, phân tích những điều
kiện kinh tế, chính trị xã hội với việc thực hiện quyền của phụ nữ trong lĩnh vực
đất đai…;
6. Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận
văn gồm 3 chương được kết cấu chi tiết như sau:
Chương 1: Tổng quan về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh
vực đất đai tại Quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Một vài kiến nghị nhằm nâng cao hiêu quả thực thi quyền của phụ nữ
trong lĩnh vực đất đai tại Quận Dương Kinh, Thành phố Hải Phòng

5


CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ QUYỀN CỦA PHỤ NỮ
TRONG LĨNH VỰC ĐẤT ĐAI
1.1. Khái quát chung về quyền của phụ nữ
1.1.1. Khái niệm quyền của phụ nữ

nảy sinh trong đời sống cộng đồng, gắn liền với một nhà nước cụ thể, với một chế
độ chính trị, pháp luật cụ thể. Dựa trên những tiêu chí khác nhau có thể có
nhiều cách phân loại nội dung quyền con người. Theo cách tiếp cận quyền con
người của khoa học pháp lý thì quyền con người được chia thành những nhóm
chính sau: (i) Các quyền tự do dân chủ về chính trị bao gồm: Quyền tham gia quản
lý nhà nước và xã hội; quyền bầu cử, ứng cử, quyền bình đẳng nam nữ, quyền tự
do tín ngưỡng, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí… (ii) Các quyền dân sự
(quyền tự do cá nhân) bao gồm: Quyền tự do đi lại cư trú trú trong nước, quyền ra
nước ngoài và từ nước ngoài về nước; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền
được an toàn về thư tín, điện thoại, quyền khiếu nại, tố cáo… (iii) Các quyền trong
lĩnh vực kinh tế – xã hội bao gồm: Quyền lao động, quyền tự do kinh doanh, quyền
được bảo hộ hôn nhân và gia đình, quyền sở hữu hợp pháp và quyền thừa kế, được
bảo vệ sức khoẻ, quyền được giáo dục đào tạo, quyền nghiên cứu, phát minh…
Từ khái niệm quyền con người có thể hiểu quyền của phụ nữ là những đặc
quyền được pháp luật công nhận, điều chỉnh, hay nói cách khác, quyền của phụ nữ
chính là những xử sự pháp lý được pháp luật quy định cho phép phụ nữ được thực
hiện.
1.1.2. Vị trí, vai trò của người phụ nữ trong xã hội
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê và Quỹ Dân số Liên hợp quốc ở nước
ta hiện nay, tính đến giữa năm 2014 tổng dân số Việt Nam đạt gần 90,5 triệu người,
trong đó nam chiếm hơn 49 %, nữ chiếm gần 51 % và chiếm khoảng 50 % lực
lượng lao động. Phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong xã hội. Có thể thấy, phụ nữ
ngày càng tham gia tích cực vào tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chẳng hạn,
trong lĩnh vực chính trị, xã hội của đất nước, phụ nữ tham gia và giữ những chức vụ
quan trọng trong bộ máy nhà nước, hiện có tới 33,1 % đại biểu nữ trong Quốc hội
(khóa XII) - cao nhất ở châu Á và là một trong những nước có tỷ lệ nữ đại biểu
Quốc hội cao nhất thế giới; số phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân các cấp trên
20 % (theo số liệu của Ủy ban quốc gia về sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam). Bên

7

pháp, các đạo luật và các văn bản pháp luật khác. Khi chưa có công ước của Liên
hợp Quốc về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước
CEDAW) Việt Nam là một trong số ít các quốc gia ở Châu Á sớm công nhận và thể
chế hóa một cách chính thức các quyền cơ bản của phụ nữ như quyền kinh tế chính
trị, văn hóa, xã hội và gia đình. Ngay trong các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý
cao nhất là Hiến pháp, quyền bình đẳng nam nữ được khẳng định và nhất quán thực
hiện. Điều này được thể hiện ngay từ Hiến pháp năm 1946 – Bản hiến pháp đầu tiên
của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ghi nhận: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông
về mọi phương diện”(Điều 9). Quy định này đã đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại về
địa vị pháp lý của phụ nữ Việt Nam. Lần đầu tiên trong lịch sử, phụ nữ Việt Nam
được pháp luật thừa nhận và bảo đảm có những quyền bình đẳng với nam giới trên
tất cả các lĩnh vực. Tiếp đó, Hiến pháp năm 1959 ghi nhận “Phụ nữ Việt nam dân

10


chủ cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về mặt sinh hoạt kinh tế, chính trị,
văn hóa , xã hội và gia đình” (Điều 24). Điều này tiếp tục được kế thừa trong Hiến
pháp 1980: “Phụ nữ và nam giới có quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội và gia đình” (Điều 63). Đến Hiến pháp 1992 quy định “Công dân
nữ và nam có quyền ngang nhau về mọi mặt, nghiêm cấm mọi hành vi đối xử với
phụ nữ, xâm phạm nhân phẩm phụ nữ” (Điều 63).
Đặc biệt, các quy định về quyền bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong
Hiến pháp 2013 đã có nội dung toàn diện hơn, đáp ứng nguyện vọng chung của xã
hội, phù hợp với công cuộc đổi mới đất nước và các tiêu chuẩn được ghi nhận trong
các công ước quốc tế mà nước ta tham gia. Điều 26 Hiến pháp 2013 quy định:
“Công dân nam nữ bình đẳng về mọi mặt; Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
và cơ hội bình đẳng giới; Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát
triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội, Nghiêm cấm phân biệt đối
xử về giới”. So với Hiến pháp năm 1992, nội dung không phân biệt đối xử chuyển

đai, đó là sở hữu toàn dân, do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Với vai trò đại diện chủ sở hữu, Nhà nước trao quyền hoặc công nhận quyền sử
dụng đất cho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình để họ trở thành chủ thể có quyền sử
dụng đất mà không phải là chủ sở hữu đất đai. Tổ chức, cá nhân, hộ gia đình nói
chung và phụ nữ nói riêng chỉ được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và
được thực hiện các quyền và nghĩa vụ quy định trong pháp luật đất đai với tư cách
là người sử dụng đất. Do vậy, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được hiểu là
quyền của người sử dụng đất.
Quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai chính là quyền của người sử dụng
đất, là khả năng mà pháp luật cho phép người sử dụng đất được thực hiện những
hành vi nhất định trong quá trình sử dụng đất nhằm sử dụng đất đúng mục đích, hợp
lí và tiết kiệm và đạt hiệu quả kinh tế cao. Tùy thuộc vào hình thức trao quyền sử
dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, pháp luật sẽ quy định quyền cụ thể của
người sử dụng đất để từ đó người sử dụng đất nói chung và phụ nữ nói riêng thực
hiện các quyền năng của sử dụng đất một cách thuận lợi và hiệu quả nhất.

10

Nguyễn Quang Tuyến, Nguyễn Xuân Trọng, “Bàn về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”,
xem
tại:
/>truy cập ngày 05/7/2017.

12


1.2.2. Các loại quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Khi được Nhà nước trao quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất, người sử
dụng đất nói chung và phụ nữ nói riêng sẽ được thực hiện các quyền năng của
người sử dụng đất theo quy định của pháp luật đồng thời được pháp luật bảo vệ khi

Thứ hai, nhóm quyền riêng của người sử dụng đất, bên cạnh việc quy định
các quyền chung, người sử dụng đất không phân biệt nam và nữ được pháp luật quy
định những quyền năng riêng, đây là những quyền mà không phải chủ sử dụng đất
nào cũng được phép thực hiện mà phụ thuộc vào hình thức nhà nước trao quyền
hoặc công nhận, nói cách khác quyền riêng mà người sử dụng đất mà Nhà nước cho
phép phụ thuộc vào các hình thức trao quyền và công nhận quyền sử dụng đất như:
Giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất
trả tiền thuê đất hàng năm; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian
thuê hoặc được công nhận quyền sử dụng đất. Theo đó, tùy thuộc vào hình thức trao
quyền hoặc công nhận quyền sử dụng đất, người sử dụng đất không phân biệt nam
hay nữ sẽ có những quyền trong nhóm các quyền riêng sau: Quyền chuyển đổi
quyền sử dụng đất; quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất; quyền cho thuê quyền
sử dụng đất; quyền thừa kế quyền sử dụng đất; quyền tặng cho quyền sử dụng đất;
quyền thế chấp quyền sử dụng đất; quyền góp vốn quyền sử dụng đất…
Có thể thấy, quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được pháp luật ghi nhận
khá đa dạng, tùy thuộc vào hình thức trao quyền và công nhận quyền sử dụng đất,
người sử dụng đất nói chung hay phụ nữ sẽ được trao những quyền năng nhất định,
đây là cơ sở quan trọng để Nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ
trong quan hệ pháp luật đất đai khi có hành vi xâm phạm.
1.2.3. Các yếu tố bảo đảm việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai
Như đã phân tích ở trên, quyền của phụ nữ trong mọi phương diện nói chung
và trong lĩnh vực đất đai nói riêng được pháp luật ghi nhận bình đẳng với nam giới
và với các chủ thể sử dụng đất khác. Tuy nhiên, việc thực thi các quyền này của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai có hiệu quả thì mới đem lại ý nghĩa lớn trong hoạt động
quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời mới phát huy được hết các ý nghĩa của các
chính sách bình đẳng giới được ghi nhận trong các chủ trương, đường lối, chính
sách của Đảng và Nhà nước. Để làm được được điều này, vấn đề đặt ra là chúng

14


15


Nam, Hội Nông dân Việt Nam... luôn phát huy tốt vai trò của mình trong việc
giám sát việc thực thi quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai.
Có thể nói, ở nước ta, pháp luật được ban hành thể hiện ý chí của đại đa
số nhân dân lao động, bảo vệ quyền lợi cho người lao động, cộng với những
ổn định về tình hình chính trị, nhất là chủ trương, chính sách, đường lối lãnh
đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội đã
phát huy tốt vai trò của mình trong lĩnh vực của đời sống, đây là một trong
những điều kiện quan trọng để đảm bảo cho hoạt động thực thi quyền của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai.
Thứ hai, yếu tố bảo đảm về pháp luật. Cùng với sự bảo đảm về chính trị,
thì pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng để đảm bảo cho việc
thực thi quyền của phụ nữ nói chung và trong lĩnh vực đất đai nói riêng. Có
thể thấy được điều này bởi chúng ta biết rằng tất cả chủ thể thực hiện pháp
luật đều hoạt động trên cơ sở pháp luật, giải quyết các vấn đề của đời sống xã
hội bằng pháp luật. Cho nên, muốn giải quyết được tốt các vấn đề phát sinh
trong xã hội thì phải đảm bảo được các điều kiện pháp luật mà trước hết hệ
thống những quy định đó phải hoàn thiện, đảm bảo được tính toàn diện, tính
đồng bộ, và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, bên cạnh đó, việc áp dụng
pháp luật được tốt cần phải có cơ chế thực hiện đúng đắn. Có thể nói, với hệ
thống pháp luật hoàn thiện và cơ chế thực hiện đúng đắn sẽ góp phần đảm bảo
cho việc áp dụng pháp luật đạt chất lượng, hiệu quả cao.
Ở nước ta, hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, các quy định không
phù hợp luôn được sửa đổi, bổ sung phù hợp với tình hình mới, liên quan đến
quy định về quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai, các quy định của Luật
đất đai, Luật hôn nhân và gia đình, Luật bình đẳng giới…. luôn được sửa đổi,
bổ sung và hoàn thiện để đáp ứng với điều kiện kinh tế - xã hội trong tình
hình mới, bên cạnh đó, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã có nhiều

trong việc nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật của người dân.
Thứ năm, yếu tố về tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có
17


năng lực và đạo đức trong công tác thi hành pháp luật. Có thể nói, trình độ
năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức có thẩm quyền
giải quyết tranh chấp có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ tới hoạt động áp dụng
pháp luật. Nếu cán bộ, công chức không có năng lực và đạo đức công vụ thì
không thể hiểu đầy đủ bản chất của quy phạm pháp luật áp dụng cũng như
bản chất của vụ việc cần giải quyết, do đó việc áp dụng pháp luật để giải
quyết sẽ không đạt hiệu quả, và ngược lại nếu có một đội ngũ cán bộ công
chức vừa có trình độ năng lực vừa có đạo đức công vụ thì việc áp dụng luật
chính xác, giải quyết tranh chấp đất đai có lý, có tình là điều đương nhiên.
Qua đó, các tranh chấp đất đai liên quan đến phụ nữ hoặc các quan hệ pháp
luật đất đai khác trong đó có liên quan đến phụ nữ sẽ được giải quyết một
cách chính xác, thông qua đó quyền của phụ nữ cũng được bảo đảm.
1.3.

Sơ lược về việc ghi nhận quyền của phụ nữ trong lĩnh vực đất đai qua

các thời kỳ lịch sử
Ở nước ta, các quy định của pháp luật hiện hành nói chung và pháp luật đất
đai nói riêng không có sự phân biệt các chính sách theo giới nam hay nữ bình đẳng
trước pháp luật trong việc sử dụng đất. Tuy nhiên mỗi thời kỳ lịch sử, quyền của
phụ nữ trong lĩnh vực đất đai được tiếp cận dưới góc độ khác nhau, tùy từng giai
đoạn lịch sử mà quyền này có được ghi nhận bình đẳng với nam giới hay không, có
thể thấy được điều này qua việc nghiên cứu các giai đoạn lịch sử về quyền của phụ
nữ trong lĩnh vực đất đai trong các văn bản pháp luật.
1.3.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status