BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ VĂN TOẢN
PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ CÔNG VÀ THỰC TIỄN
THI HÀNH TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
: Luật kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Bảo Ánh
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực.
NGƢỜI CAM ĐOAN
MTQG
:
Mục tiêu quốc gia
NSĐP
:
Ngân sách địa phương
NSNN
:
Ngân sách nhà nước
NSTW
:
Ngân sách trung ương
ODA
:
Hỗ trợ phát triển chính thức (Official Development
Assistance)
2.1.3. Thực trạng các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt, giao
kế hoạch và việc triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra,
đánh giá, thanh tra kế hoạch đầu tư công
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về đầu tư công từ thực tiễn tỉnh
Điện Biên
2.2.1. Khái quát tình hình kinh tế - xã hội và đầu tư công ở tỉnh
Điện Biên
2.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật đầu tư công ở tỉnh Điện Biên
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƢ CÔNG TỪ THỰC
TIỄN TỈNH ĐIỆN BIÊN
Trang
1
7
7
7
9
15
15
17
21
26
26
26
38
42
59
59
61
62
64
64
66
66
67
69
71
73
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đầu tư công được hiểu là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các
chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng KTXH và đầu tư vào các
chương trình, dự án phục vụ phát triển KTXH. Đầu tư công gắn liền với quan
niệm về công hữu và vai trò của Nhà nước trong phát triển nền kinh tế. Thời
gian qua, trên địa bàn cả nước, đầu tư công đã góp phần quan trọng vào việc
xây dựng, hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng KTXH, cung ứng các dịch vụ
công; tạo môi trường thúc đẩy phát triển nền kinh tế, xóa đói giảm nghèo, bảo
đảm an sinh và công bằng xã hội, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh.
Không thể phủ nhận vai trò quan trọng của đầu tư công đến phát triển
lập dự án có quy mô lớn hơn nhiều so với nhu cầu sử dụng thực tế chất lượng
xây dựng dự án của tư vấn lập dự án, lập báo cáo kinh tế kỹ thuật sơ sài chưa
cập nhật đủ thông tin, số liệu về hiện trạng, do đó không phản ánh hết sự cần
thiết của việc đầu tư; khâu thẩm tra thiết kế thi công - tổng dự toán chưa chặt
chẽ dẫn đến dự án có quy mô nhỏ, kỹ thuật không phức tạp, phải điều chỉnh
dự án, dự toán hoặc hợp đồng nhiều lần, ảnh hưởng đến tiến độ, hiệu quả dự
án; công tác quản lý giá vật liệu đầu vào của chủ đầu tư còn thiếu chặt chẽ,
dẫn tới làm tăng xuất đầu tư của công trình; chủ đầu tư áp dụng hình thức lựa
chọn nhà thầu không phù hợp với kế hoạch đấu thầu được phê duyệt, chậm
đưa ra những phương án xử lý vướng mắc trong quá trình thi công để tồn
đọng kéo dài dẫn đến chậm tiến độ thực hiện hợp đồng, gây khó khăn cho
việc kiểm soát chi phí của dự án, ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư, lãng phí
ngân sách.
Nhằm tạo lập hệ thống cơ sở pháp lý thống nhất, đồng bộ, nâng cao hiệu
quả đầu tư công, ngày 18/6/2014, kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XIII đã thông
qua Luật Đầu tư công. Luật này được nghiên cứu, xây dựng một cách công
phu, nghiêm túc, trên cơ sở kế thừa và hoàn thiện các quy định trong các văn
bản quy phạm pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư công, đồng thời bổ sung
những chế tài mới, như chế định đầy đủ toàn bộ quá trình đầu tư công từ chủ
trương đầu tư, thẩm định nguồn vốn đối với các chương trình, dự án sử dụng
vốn đầu tư công, lập, thẩm định, phê duyệt kế hoạch đầu tư, triển khai thực
hiện kế hoạch, theo dõi, đánh giá, kiểm tra, thanh tra kế hoạch đầu tư công.
Với thực trạng trên, đầu tư công ở Điện Biên không phải là ngoại lệ, bởi
vậy, việc nghiên cứu các vấn đề lý luận pháp luật, các yếu tố tác động và ảnh
hưởng đến cơ chế thực thi pháp luật về đầu tư công, gắn với thực tiễn thi hành
3
ở tỉnh Điện Biên là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm tìm ra các giải pháp để
nâng cao hiệu quả pháp luật về đầu tư công trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Đây
4
Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” của TS. Vũ Thành Tự Anh, Chương trình
giảng dạy kinh tế Fulbright… “Vai trò của pháp luật trong kiểm soát đầu tư
công” của PGS, TS. Phạm Duy Nghĩa, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh - Bài
đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 201, tháng 8/2011… Bên cạnh đó còn
rất nhiều các bài viết trao đổi, góp ý cho quá trình xây dựng Luật Đầu tư công
năm 2014… Cho đến nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách
tổng thể vấn đề này cả về lý luận, thực tiễn và phướng hướng hoàn thiện dưới
góc độ pháp lý để góp phần xây dựng hệ thống pháp luật về đầu tư công một
cách toàn diện. Do vậy, đây là luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống dưới
góc độ lý luận về lịch sử nhà nước và pháp luật vấn đề đầu tư công ở Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận văn này là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề về lý
luận, khái quát và đánh giá thực trạng pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam,
mà đặc biệt là việc thực hiện pháp luật về đầu tư công từ thực tiễn tỉnh Điện
Biên. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật về đầu tư công ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Điện Biên nói riêng.
Với mục đích nghiên cứu ở trên, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn
được xác định là:
Một là: Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận pháp luật về đầu tư công, bao
gồm khái niệm, đặc điểm, vai trò của đầu tư công; khái niệm pháp luật về đầu
tư công; mục đích, quan điểm điều chỉnh và nguyên tắc quản lý đầu tư công,
nội dung cơ bản của pháp luật về thực hiện đầu tư công và kinh nghiệm quản
lý đầu tư công của một số quốc gia trên thế giới;
Hai là: Khái quát, phân tích và đánh giá về thực trạng quy định pháp luật
cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam nói chung
và tại tỉnh Điện Biên nói riêng, chỉ ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân;
Ba là: Từ các nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn đề xuất các giải
bạch trong quản lý, sử dụng nguồn lực của Nhà nước; góp phần và tạo điều
kiện pháp lý để đẩy mạnh công cuộc phòng chống tham nhũng, lãng phí và
thực hành tiết kiệm trong đầu tư xây dựng cơ bản; tạo điều kiện thuận lợi và
bình đẳng cho các doanh nghiệp tư nhân trong việc tiếp cận và thực hiện các
dự án công là có tầm quan trọng đặc biệt và ý nghĩa to lớn.
Về mặt thực tiễn, Luận văn đặt vấn đề nghiên cứu từ thực tiễn thực hiện
pháp luật từ tỉnh Điện Biên, một tỉnh miền núi Tây Bắc với những thuận lợi
và khó khăn riêng có sẽ góp phần đưa ra các bài học kinh nghiệm quý báu cho
các địa phương khác khi thực hiện pháp luật về đầu tư công. Bên cạnh đó, kết
quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu tham khảo có giá trị đối với công
tác nghiên cứu, giảng dạy và thực thi pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam.
6
7. Kết cấu Luận văn
Bên cạnh phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, đề
tài luận văn được triển khai với kết cấu ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về đầu tư công
Chương 2: Thực trạng pháp luật về đầu tư công ở Việt Nam và thực tiễn
thực hiện tại tỉnh Điện Biên
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về đầu tư công từ thực tiễn tỉnh Điện Biên
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT
VỀ ĐẦU TƢ CÔNG
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ CÔNG
các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố định bằng vốn sự nghiệp; các
dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ từ vốn nhà nước theo quy định của
pháp luật; các chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định
của Chính phủ.
1.1.1.2. Vai trò của đầu tư công
Đầu tư công có vai trò cung cấp những hàng hóa công nhằm tạo mới
nâng cấp, củng cố năng lực hoạt động của nền kinh tế thông qua giá trị gia
tăng giá trị các tài sản công, nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống hạ tầng
kinh tế, hạ tầng xã hội, đồng thời thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến
lược phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành, vùng và các địa phương.
Trong nền kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân thường không muốn tham gia
vào việc cung cấp các hàng hóa công do khó thu lợi. Những hàng hóa công
này thường là các công trình hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội
như: đường xá, cầu cống, trường học, bệnh viện… Vai trò của những hàng
hóa công này là vô cùng quan trọng vì nếu không có hệ thống hạ tầng giao
thông thì nền kinh tế không vận hành được, không có hệ thống công trình
trường học, bệnh viện, nhà văn hóa phục vụ phát triển con người thì yêu cầu
phát triển xã hội cũng không được đáp ứng… Hoạt động đầu tư công của nhà
nước là nhằm cung cấp những hàng hóa công nên vai trò của hoạt động này
đối với phát triển kinh tế - xã hội là không thể phủ nhận được và tác động của
việc sản xuất những hàng hóa công không thể đo trực tiếp bằng các chỉ tiêu
thông thường như đối với các hàng hóa do doanh nghiệp tư nhân kinh doanh
mà phải thông qua hiệu quả đem lại cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Chính vì
thế việc đánh giá kết quả của đầu tư công của một địa phương phải thông qua
kết quả phát triển kinh tế - xã hội của chính địa phương đó.
Phải khẳng định rằng hoạt động đầu tư được coi là động lực chính thức
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản chất của mối quan hệ này đã được nghiên
cứu trong nhiều công trình cả tính lý thuyết và thực nghiệm, theo đó đầu tư
công thường phục vụ cho việc phát triển kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như
diện ở hầu khắp các lĩnh vực của nền kinh tế, từ xây dựng hệ thống giao
thông, hạ tầng cơ sở, khai khoáng, chế biến - chế tạo cho đến thông tin truyền thông, giáo dục - đào tạo... Và được thực hiện bởi các cơ quan Nhà
nước từ trung ương tới địa phương. Thời gian gần đây cơ cấu đầu tư gần như
chia đều giữa cấp trung ương và cấp địa phương và đang có xu hướng dịch
chuyển chậm từ vai trò đầu tư của cấp trung ương là chủ yếu sang cấp địa
10
phương, theo đó Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan trung ương;
Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp; Kiểm toán Nhà nước, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam… Đều là chủ thể của hoạt động đầu tư công, tuy nhiên
việc triển khai các hoạt động đầu tư công của những cơ quan này lại được
thực hiện trực tiếp bởi một số đơn vị sau:
Chủ đầu tư: Chủ đầu tư trong dự án đầu tư công chính là cơ quan, tổ
chức nhà nước được giao quản lý dự án đầu tư công và để đảm bảo quá trình
triển khai hoạt động đầu tư được thực hiện theo đúng quy trình thủ tục trên cơ
sở xác định đúng trách nhiệm của người trực tiếp quản lý và sử dụng vốn,
Nhà nước sẽ chỉ định chủ đầu tư của dự án. Chủ đầu tư của dự án đầu tư công
sẽ do người có thầm quyền ra quyết định đầu tư quyết định trước khi lập dự
án và trao cho họ một số quyền hạn, nghĩa vụ nhất định thay mặt nhà nước để
thực hiện hoạt động đầu tư, như: Tổ chức lập, trình duyệt dự án, sử dụng các
nguồn vốn hợp pháp cho dự án; yêu cầu kiến nghị các cơ quan nhà nước liên
quan có thẩm quyền cung cấp các thông tin cho các tổ chức tư vấn liên quan
đến dự án; tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, tuyển
chọn tư vấn dự án, lựa chọn nhà thầu, thực hiện các giao dịch, đàm phán ký
kết với các bên; tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện dự án,
thành lập ban quản lý dự án; kiến nghị các chính sách đề xuất với cơ quan nhà
nước để đảm bảo dự án đúng tiến độ, chất lượng và kinh phí đầu tư được
duyệt. Đồng thời chủ đầu tư chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và độ tin cậy
của các thông tin, tài liệu cung cấp cho tư vấn lập dự án đầu tư công; tổ chức
nhiệm của chủ đầu tư; theo dõi, giám sát quá trình thực hiện đầu tư đảm bảo
an toàn, tiến độ, chất lượng, chi phí cho dự án, kiến nghị chủ đầu tư giải quyết
các vấn đề vượt thẩm quyền. Đồng thời, ban quản lý dự án có nghĩa vụ thực hiện
các thủ tục đầu tư theo quy định của pháp luật; bảo đảm triển khai dự án đạt tiến
độ, chất lượng; báo cáo chủ đầu tư về nghiệm thu, quyết toán; chịu trách nhiệm
về các sai phạm, lãng phí trong quá trình thực hiện quản lý dự án đầu tư công.
Nhà thầu: Nhà thầu là nhà tổ chức, cá nhân có đủ năng lực thực hiện
hoạt động đầu tư khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động đầu tư công.
Nhà thầu có thể bao gồm nhà thầu chính và nhà thầu phụ.
Nhà thầu chính ký kết hợp đồng nhận thầu trực tiếp với chủ đầu tư, thực
hiện phần việc chính của một loại công việc trong dự án.
Nhà thầu phụ là nhà thầu ký kết hợp đồng với nhà thầu chính hoặc tổng
thầu xây dựng để thực hiện một phần công việc của nhà thầu chính hoặc tổng
thầu xây dựng.
Tổ chức tư vấn: Tổ chức tư vấn là các tổ chức, cá nhân được chủ đầu tư
12
thuê để làm nhiệm vụ thực hiện những phần công việc của dự án trong quá trình
thực hiện dự án đầu tư. Tổ chức tư vấn đầu tư thực hiện các dịch vụ tư vấn một
phần hoặc toàn bộ các hoạt động đầu tư gồm: Khảo sát, thiết kế, lập, thẩm tra,
giám sát, kiểm toán, đánh giá dự án đầu tư và các dịch vụ tư vấn khác.
1.1.2.2. Mục đích đầu tư công là nhằm tạo mới nâng cấp, củng cố
năng lực hoạt động của nền kinh tế thông qua giá trị gia tăng các tài sản
công, qua đó nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống hạ tầng kinh tế, hạ
tầng xã hội dưới hình thức sở hữu toàn dân
Đầu tư công để thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến lược phát
triển kinh tế xã hội của quốc gia, ngành, vùng và các địa phương, thông qua
đó giải quyết được nhiều vấn đề về xã hội, văn hóa, môi trường, phát triển
bền vững. Cụ thể như các chương trình mục tiêu Quốc gia: Chương trình 134,
dự án, chương trình; yếu tố hợp tác quốc tế; đánh giá tổng quan hiệu quả
KTXH chung của chương trình và dự án mang lại.
Thứ hai, đầu tư theo các dự án công, là hình thức đầu tư của Nhà nước
sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công vào các dự án phục vụ phát
triển KTXH. Các dự án đầu tư công được triển khai trên nhiều lĩnh vực, như
phát triển kết cấu hạ tầng, kỹ thuật, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh
do Nhà nước đầu tư (trừ các khoản đầu tư cho quốc phòng, an ninh, thuộc chi
tiêu đặc biệt ngoài cân đối kế hoạch hoặc viện trợ từ nước ngoài); dự án đầu
tư không có điều kiện xã hội hóa thuộc các lĩnh vực kinh tế xã hội, y tế, giáo
dục - đào tạo, khoa học công nghệ; dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan
nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sửa chữa tài sản cố
định bằng vốn sự nghiệp; dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính
trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp được hỗ trợ vốn nhà
nước theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) là đầu tư được thực
hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu
tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng,
cung cấp các dịch vụ công. Với nguồn vốn ngân sách hạn hẹp hiện nay, việc
kêu gọi các nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách, đặc biệt là mô hình hợp tác
công tư (PPP) được xem là giải pháp hiệu quả. Với mô hình PPP, Nhà nước
sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích
cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ. Đây là hình thức
hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch vụ công cộng chất lượng
cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân.
1.1.2.4. Nguồn vốn đầu tư công
Nguồn vốn đầu tư công được hình thành từ các nguồn vốn đầu tư nguồn
ngân sách nhà nước; vốn đầu tư nguồn công trái quốc gia; vốn đầu tư nguồn
14
+ Vốn đầu tư từ nguồn thu xổ số kiến thiết đến trước thời điểm Luật
NSNN sửa đổi năm 2015 có hiệu lực;
+ Khoản phí, lệ phí được để lại đầu tư của Bộ, ngành trung ương và địa phương;
15
+ Tiền lãi dầu khí của nước chủ nhà từ hợp đồng phân chia sản phẩm
dầu khí (PSC), lợi nhuận được chia từ liên doanh dầu khí và tiền đọc và sử
dụng tài liệu dầu khí;
+ Nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công lập để lại cho đầu tư;
+ Vốn đầu tư từ nguồn thu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, chuyển
đổi sở hữu doanh nghiệp nhà nước được thu lại hoặc trích lại để đầu tư
chương trình, dự án kết cấu hạ tầng KTXH thuộc nhiệm vụ NSNN của Bộ,
ngành trung ương và địa phương;
+ Nguồn thu của tổ chức tài chính, bảo hiểm xã hội được trích lại để đầu
tư dự án kết cấu hạ tầng KTXH của Bộ, ngành trung ương và địa phương;
+ Nguồn thu từ chuyển mục đích, chuyển quyền sử dụng đất của Bộ,
ngành trung ương và địa phương chưa đưa vào cân đối NSNN để đầu tư dự án
kết cấu hạ tầng KTXH.
- Khoản vốn vay của chính quyền cấp tỉnh được hoàn trả bằng nguồn
vốn cân đối NSĐP và thu hồi vốn từ các dự án đầu tư bằng các khoản vốn vay
này, bao gồm:
+ Khoản huy động vốn trong nước của chính quyền cấp tỉnh theo quy
định của Luật NSNN, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vay
từ nguồn vốn nhàn rỗi của Kho bạc Nhà nước và huy động từ các nguồn vốn
vay trong nước khác để đầu tư kết cấu hạ tầng;
+ Vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi của nhà tài trợ nước ngoài do Chính
phủ cho vay lại.
Việc phân định rõ nguồn vốn đầu tư công sẽ là cơ sở để xác định phạm
vi và đối tượng điều chỉnh của Luật Đầu tư công, đồng thời quy định về
luật đầu tư công như sau: “Pháp luật đầu tư công được hiểu là hệ thống các
quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh
các quan hệ KTXH phát sinh trong quá trình đầu tư của Nhà nước vào các
chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ phát triển KTXH theo
nguyên tắc đầu tư toàn diện và hiệu quả dưới sự đảm bảo của Nhà nước vì
mục tiêu ổn định xã hội và phát triển kinh tế”. Theo khái niệm này bản chất
của pháp luật đầu tư công được thể hiện với vai trò đảm bảo việc quản lý sử
dụng có hiệu quả các nguồn lực của Nhà nước, trên cơ sở phù hợp với chiến
lược phát triển KTXH, kế hoạch đầu tư của quốc gia, vùng, ngành, địa
phương đã được phê duyệt, thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến lược
phát triển KTXH của quốc gia, ngành, vùng và các địa phương, thông qua đó
giải quyết được nhiều vấn đề về xã hội, văn hóa, môi trường, phát triển bền
vững. Mặt khác các dự án đầu tư công thường được triển khai để đáp ứng
nhiều mục tiêu bao gồm các mục tiêu về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,
17
quốc phòng - an ninh… Trong đó mục tiêu kinh tế được đảm bảo hiệu quả để
các mục tiêu còn lại phát huy tác dụng, tạo ra được kết quả đầu tư với hệ
thống năng lực phục vụ được cải thiện, đáp ứng yêu cầu phát triển chung của
xã hội và nền kinh tế, tránh lãng phí, dàn trải. Do vậy đầu tư công cần phải
được quản lý một cách thống nhất bằng các quy định của pháp luật.
1.2.2. Mục đích, quan điểm điều chỉnh, nguyên tắc và nội dung pháp
luật đầu tƣ công
1.2.2.1. Mục đích điều chỉnh
Pháp luật Đầu tư công nhằm điều chỉnh các mục tiêu chủ yếu sau:
Một là: Đảm bảo cơ sở pháp lý để quản lý sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực của Nhà nước trong đầu tư công phù hợp với chủ trương tái cấu
trúc nền kinh tế nói chung và tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là tái cơ cấu đầu
tư công nói riêng.
công trong toàn bộ quá trình đầu tư, từ khâu quyết định chủ trương đầu tư,
quyết định đầu tư; lập, triển khai thực hiện, theo dõi và đánh giá thực hiện kế
hoạch, chương trình, dự án đầu tư công.
Ba là: Quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá
nhân trong tất cả các khâu liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công;
trong đó quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức,
cơ quan đơn vị liên quan đến việc quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
Bốn là: Bảo đảm tính công khai, minh bạch trong quản lý và sử dụng
vốn đầu tư công. Các quy định phải rõ ràng, cụ thể, không chồng chéo, trùng lắp,
phù hợp với thực tiễn và xu thế chung, đồng thời bảo đảm phù hợp với yêu cầu
cải cách hành chính và với thông lệ quốc tế trong quản lý đầu tư công.
1.2.2.3. Nguyên tắc quản lý đầu tư công
Việc triển khai hoạt động đầu tư công được thực hiện trên cơ sở các
nguyên tắc sau:
Thứ nhất: Tuân thủ các quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
Thứ hai: Phù hợp với chiến lược, kế hoạch phát triển KTXH 05 năm của
đất nước, quy hoạch phát triển KTXH và quy hoạch phát triển ngành.
Thứ ba: Đảm bảo thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan quản
lý nhà nước, tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý và sử dụng vốn đầu tư công.
Thứ tư: Quản lý việc sử dụng vốn đầu tư công theo đúng quy định đối
với từng nguồn vốn; bảo đảm đầu tư tập trung, đồng bộ, chất lượng, tiết kiệm,
hiệu quả và khả năng cân đối nguồn lực; không để thất thoát, lãng phí. Bảo
đảm công khai, minh bạch trong hoạt động đầu tư công.
19
Thứ năm: Khuyến khích tổ chức, cá nhân trực tiếp đầu tư hoặc đầu tư
theo hình thức đối tác công tư (PPP) vào dự án kết cấu hạ tầng KTXH và
cung cấp dịch vụ công.
1.2.2.4. Nội dung cơ bản của pháp luật đầu tư công
công là có hạn, xu thế tỷ trọng vốn đầu tư công ngày càng giảm, nên việc phê
duyệt quyết định đầu tư cần được cân nhắc, tính toán chặt chẽ.
Việc pháp luật đầu tư công quy định rõ về lập, thẩm định, quyết định chủ
trương đầu tư, quyết định đầu tư chương trình, dự án đầu tư công sẽ góp phần
quan trọng để tăng tính hiệu quả của dự án, ngăn chặn tinh trạng đầu tư kém
hiệu quả, dàn trải, phân tán, lãng phí, thất thoát, đồng thời giúp làm rõ trách
nhiệm của cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong việc quyết định chủ
trương đầu tư dự án.
Hai là: Các quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và giao kế hoạch đầu
tư công.
Kế hoạch đầu tư công là một công cụ quản lý về đầu tư công nhằm đảm
bảo sử dụng tập trung, có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công của Nhà nước
và địa phương. Kế hoạch vừa là tiền đề vừa là căn cứ để xem xét, quyết định
đầu tư. Phần lớn các dự án đầu tư đều bị chậm về tiến độ do nhiều nguyên
nhân khác nhau như không cân đối được vốn đầu tư; vướng mắc trong đền bù,
giải phóng mặt bằng, tái định cư; năng lực tổ chức đấu thầu kém; năng lực
quản lý thực hiện dự án kém; vướng mắc trong giải ngân, thanh toán, quyết
toán vốn đầu tư, nghiệm thu, bàn giao công trình… Nhưng nguyên nhân
chính vẫn là không cân đối được vốn đầu tư. Việc không làm tốt kế hoạch đầu
tư ở nhiều dự án, chương trình đầu tư công đã dẫn đến tình trạng phân bổ vốn
đầu tư dàn trải, nợ đọng trong đầu tư và kéo dài tiến độ thực hiện gây lãng
phí, thất thoát trong đầu tư, hiệu quả đầu tư thấp hoặc đầu tư không hiệu quả.
Việc pháp luật đầu tư công quy định về lập, thẩm định, phê duyệt và giao
kế hoạch đầu tư công sẽ giúp cho các Bộ, ngành, UBND các cấp và các cơ
quan quản lý nhà nước nói chung có cơ sở pháp lý khi lập kế hoạch đầu tư
công trung hạn cho từng thời kỳ 5 năm và hàng năm.
Ba là: Các quy định việc triển khai thực hiện, theo dõi, kiểm tra, đánh
giá, thanh tra kế hoạch đầu tư công.
Để biết được các kế hoạch, chương trình, dự án đầu tư công thực hiện
như thế nào, kết quả đạt được ra sao thì theo dõi, đánh giá kế hoạch, chương