BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
---------------
LÊ VĂN HỒNG PHƢƠNG
PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC TIỄN THI HÀNH
TẠI QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS Nguyễn Thị Nga
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính
xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã
thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Kinh
tế - Trường Đại học Luật Hà Nội.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có
thể bảo vệ Luận văn.
Nhà nƣớc thu hồi đất ................................................................................... 9
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của bồi thƣờng tài sản gắn liền với đất khi Nhà
nƣớc thu hồi đất ......................................................................................... 13
1.2. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG TÀI SẢN GẮN
LIỀN VỚI ĐẤT KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT ................................. 15
1.2.1. Tính tất yếu khách quan cần phải điều chỉnh bằng pháp luật về
bồi thƣờng tài sản gắn liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất ............... 15
1.2.2. Khái niệm và cơ cấu pháp luật điều chỉnh về bồi thƣờng tài sản
gắn liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất ............................................... 16
1.2.3. Các yếu tố chủ yếu tác động đến pháp luật về bồi thƣờng tài sản
gắn liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất ............................................... 18
1.2.3.1. Đường lối, quan điểm của Đảng ...................................................... 18
1.2.3.2. Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ................................................... 19
1.2.3.3. Các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường ..................... 19
1.2.3.4. Yêu cầu của hội nhập quốc tế........................................................... 20
1.2.4. Khái quát lịch s phát triển pháp luật về bồi thƣờng tài sản gắn
liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất ở nƣớc ta ..................................... 20
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .............................................................................. 27
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG TÀI SẢN
GẮN LIỀN VỚI ĐẤT KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT TỪ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI QUẬN BÌNH TÂN – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH.............................................................................................................. 28
2.1. NỘI DUNG PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG TÀI SẢN GẮN LIỀN
VỚI ĐẤT KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT ............................................ 28
2.1.1. Nội dung quy định về nguyên tắc bồi thƣờng tài sản gắn liền với
đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất .................................................................... 28
2.1.2. Nội dung quy định về phạm vi và đối tƣợng đƣợc bồi thƣờng tài
sản gắn liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất ........................................ 30
thƣờngtài sản gắn liền với đất khi Nhà nƣớc hồi đất từ thực tiễn thi hành
tại quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí Minh............................................ 78
3.2.1. Nh m giải pháp g p phần hoàn thiện pháp luật về i thườngtài
sản g n liền v i đất khi Nhà nư c h i đất t th c ti n thi hành tại uận
Bình Tân - Thành phố H Chí Minh ........................................................ 78
3.2.2. Nh m giải pháp g p phần nâng cao hiệu quả th c thi pháp luật về
i thường tài sản g n liền v i đất khi Nhà nư c h i đất t th c ti n thi
hành tại quận Bình Tân - Thành phố H Chí Minh ................................ 80
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .............................................................................. 83
KẾT LUẬN .................................................................................................... 84
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Thu hồi đất là vấn đề tất yếu khách quan đặt ra của sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhà nước cần đất để đẩy mạnh hoạt động đầu tư xây
dựng phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh, xây dựng hệ
thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình hiện đại, tập trung vào
hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn. Mặt khác, thu hồi đất cũng nhằm
từng bước chuyển dịch hợp lý cơ cấu kinh tế nông nghiệp, phi nông nghiệp vốn
bất cân xứng ở Việt Nam trong thời gian qua. Theo đó, khi Nhà nước thu hồi đất
của những người đang sử dụng đất để sử dụng cho các mục đích khác, họ không
chỉ mất đi quyền sử dụng đất, mà các tài sản được tạo ra trên đất, những thu nhập
hợp pháp trên đất cũng bị ngừng và thiệt hại đối với họ là điều không thể tránh
khỏi. Chính bởi vậy, Nhà nước với tư cách là chủ thể của quyền lực chính trị,
kinh tế và pháp lý, lại là chủ sở hữu đại diện đối với toàn bộ đất đai, là người đại
diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân phải có trách nhiệm bồi thường, bù
đắp những thiệt hại này cho người bị thu hồi đất bởi nguyên nhân thiệt hại không
thực tiễn trong giai đoạn hiện nay.
Với các lý do cơ bản trên, tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về
bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thi
hành tại quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ luật
học. Kết quả của luận văn sẽ góp phần nâng cao hiệu quả thực thi Luật Đất đai năm
2013 nói chung và chế định bồi thường thiệt hại về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất
nói riêng ở nước ta.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về bồi thường nói chung và bồi thường về tài sản gắn liền với
đất nói riêng khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề không mới, đã được nghiên
cứu và bàn thảo rất nhiều, nhất là trong những năm gần đây nước ta đẩy mạnh
hoạt động đầu tư xây dựng để phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng
- an ninh, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số công trình
hiện đại, tập trung vào hệ thống giao thông và hạ tầng đô thị lớn,… Xuất phát
từ thực tiễn đó, một số nhà nghiên cứu đã có những bài viết, những công trình
nghiên cứu sau liên quan đến đề tài:
+ Phạm Văn Võ (2009), Chế độ pháp lý về sở hữu đối với đất đai ở Việt
Nam hiện nay, Luận án tiến sỹ, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Lưu Quốc Thái (2009), Thị trường quyền sử dụng đất - Thực trạng và
hướng hoàn thiện, Luận án tiến sỹ, thành phố Hồ Chí Minh.
+ Dương Tấn Vinh (2006), Các khía cạnh pháp lý về hoạt động bồi
thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Thực trạng và giải pháp, Luận văn Thạc sỹ, thành phố Hồ Chí Minh.
3
+ Hoàng Thị Biên Thùy (2010), Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất, Luận văn Thạc sỹ, thành phố Hồ Chí Minh.
+ ThS. Lê Ngọc Thạnh (2009), “Một số ý kiến về bồi thường khi Nhà
nước thu hồi đất theo quy định pháp luật hiện hành”, Tạp chí khoa học pháp
nước, nhà đầu tư và người có đất bị thu hồi? khi bồi thường, thiệt hại vô hình
có được tính đến không? thể thức bồi thường được thực hiện như thế nào, có
đảm bảo các quyền công bằng, bình đẳng giữa các chủ thể trong điều kiện
Đảng và Nhà nước ta không ngừng dân chủ hóa đời sống xã hội hay không?
Vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất vẫn đang được tiếp tục tranh luận
và có nhiều quan điểm khác nhau cần được đào sâu nghiên cứu về vấn đề này.
Đặc biệt, theo quan sát của cá nhân em thấy rằng, các công trình nghiên cứu
thường tập trung ở khí cạnh bồi thường về đất, chính sách hỗ trợ và tái định
cư; rất ít các công trình nghiên cứu riêng về bồi thường tài sản gắn liền với
đất. Trong quá trình hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực này, em nhận thấy, bồi
thường tài sản gắn liền với đất cũng hết sức phức tạp như: tài sản là nhà, công
trình xây dựng trên đất chưa đăng ký quyền sở hữu; tài sản trên đất được tạo
ra trên đất không hợp pháp nhưng ở các thời điểm khác nhau; tài sản trên đất
trái phép nhưng không có bất kỳ văn bản xử lý nào của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền,... Những vấn đề nêu trên dường như rất ít các công trình nghiên
cứu đề cập đến. Vì vậy, luận văn nghiên cứu của tác giả là rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu các quy định của pháp
luật hiện hành của cơ quan trung ương và các quy định cụ thể của địa phương
về vấn đề bồi thường về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất; nghiên cứu việc tổ
chức thực thi hệ thống pháp luật này trên thực tế tại quận Bình Tân; phát hiện
những bất cập, vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện, tìm hiểu
nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng đáo để đề xuất các giải
pháp góp phần nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về bồi thường thiệt hại
về tài sản khi Nhà nước thu hồi đất.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục đích nghiên cứu, luận văn xác định các nhiệm vụ nghiên
cứu cơ bản như sau:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận pháp luật về bồi thường tài sản khi Nhà
hành về bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi
đất trên địa bàn quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Pháp luật về bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam là
một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp
luật khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật,
tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cụ thể sau:
6
- Nghiên cứu, tìm hiểu các quy định về bồi thường thiệt hại đối với tài sản
khi Nhà nước thu hồi đất của Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng
dẫn thi hành;
- Tìm hiểu thực tiễn thi hành pháp luật về bồi thường thiệt hại đối với tài
sản khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí
Minh.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Khi thực hiện nghiên cứu này, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cơ bản sau đây:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin;
- Ngoài ra, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
i) Phương pháp phân tích, phương pháp lịch sử, phương pháp đối chiếu,…
được sử dụng tại Chương 1 khi nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật
bồi thường về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất;
ii) Phương pháp đánh giá, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê,
phương pháp tổng hợp,... được sử dụng tại Chương 2 khi nghiên cứu thực
trạng pháp luật về bồi thường về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi
Ngoài phần lời cam đoan, mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo và phụ lục, luận văn được bố cục với 03 chương cụ thể như sau:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận về bồi thương tài sản và pháp luật bồi
thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất.
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về bồi thường tài sản gắn liền với đất khi
Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn thi hành tại quận Bình Tân - Thành phố Hồ
Chí Minh.
- Chương 3. Giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về
bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất từ thực tiễn tại
quận Bình Tân - Thành phố Hồ Chí Minh.
8
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƢỜNG TÀI SẢN VÀ
PHÁP LUẬT BỒI THƢỜNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT KHI NHÀ
NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.1. TỔNG QUAN VỀ BỒI THƢỜNG TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI
ĐẤT KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.1.1. Khái niệm và phân loại tài sản gắn liền với đất
Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và
quan hệ pháp luật nói riêng. Hiểu theo nghĩa thông thường “tài sản” được hiểu
là của cải của con người, là mọi giá trị vật chất (hữu hình) hoặc vô hình (tinh
thần) đem lại lợi ích thiết thực đối với chủ sở hữu. Theo Điều 163 BLDS 2005
thì “Tài sản gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng như theo pháp luật Việt Nam
được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự việc phân chia tài sản thành 2 nhóm động
sản và bất động sản. Điều 174 BLDS năm 2005 quy định:
“ Bất động sản và động sản:
Và dựa trên căn cứ là chứng thư pháp lí - Giấy chứng nhận đối với tài sản
gắn liền với đất có thể phân loại tài sản gắn liền với đất thành hai loại:
- Tài sản gắn liền với đất có giấy chứng nhận đối với tài sản gắn liền với
đất;
- Tài sản gắn liền với đất không có giấy chứng nhận đối với tài sản gắn
liền với đất.
1.1.2. Khái niệm, đặc điểm của bồi thƣờng tài sản gắn liền với đất khi
Nhà nƣớc thu hồi đất
Thu hồi đất là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các văn bản
pháp luật đất đai. Thu hồi đất ở đây là một biện pháp làm chấm dứt quan hệ
pháp luật đất đai bằng một quyết định hành chính của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền. Thông qua những hoạt động này, Nhà nước thể hiện rất rõ quyền
định đoạt đất đai, với tư cách là đại diện chủ sở hữu đối với đất đai.
Theo Từ điển tiếng Việt thông dụng: “Thu hồi: Lấy lại cái đã đưa ra, đã
cấp phát ra hoặc bị người khác lấy” [46, tr 759].
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học, thu hồi đất được hiểu là: “Cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi quyền sử dụng đất của người vi phạm
quy định về sử dụng đất để Nhà nước giao cho người khác sử dụng hoặc trả
lại cho chủ sử dụng đất hợp pháp bị lấn chiếm. Trường hợp thật cần thiết, Nhà
nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục
đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng” [1, tr221]. Khái
niệm này thực ra cũng chưa hẳn là một định nghĩa rõ ràng về thu hồi đất, mặc
dù có đề cập các trường hợp thu hồi đất nhưng nội hàm của khái niệm này
chưa bao quát hết các trường hợp thu hồi đất của Nhà nước. Nhà nước không
10
chỉ thu hồi đất của người có hành vi vi phạm về sử dụng đất hay thu hồi đất để
sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
là một trong những chế định pháp lý xuất hiện sớm trong lịch sử pháp luật dân
sự. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi thường là trả lại cho người khác cái có giá
11
trị (thường bằng tiền) tương xứng với những thiệt hại mà mình đã gây ra [45,tr
67]. Như vậy, việc bồi thường đặt ra trong trường hợp một người có hành vi
gây thiệt hại cho người khác và họ phải có trách nhiệm bồi thường cho người
bị thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
Thuật ngữ bồi thường (hay đền bù thiệt hại) trong pháp luật đất đai ở Việt
Nam đã được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của
Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ) “Quy định thể lệ tạm thời về trưng
dụng ruộng đất”, tại Chương II đã đề cập đến việc “Bồi thường cho người có
ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970
của Thủ tướng Chính phủ về “Quy định một số điểm tạm thời về bồi thường
nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa mầu cho Nhân dân ở những vùng
xây dựng kinh tế mở rộng thành phố” cũng đề cập đến vấn đề bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất. Đặc biệt sau khi Luật Đất đai năm 1987 ra đời, Hội
đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT
ngày 31/5/1990 quy định “Về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng
khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác”, thuật ngữ “bồi thường” được
thay thế bằng thuật ngữ “đền bù thiệt hại”. Mặc dù pháp luật không đưa ra sự
giải thích về vấn đề này, song có thể hiểu “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu
hồi đất là việc bù đắp lại những thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra, trả lại
tương xứng với giá trị quyền sử dụng đất và công lao mà người sử dụng đất đã
đầu tư vào đất trong quá trình sử dụng.
Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật Đất đai năm 1993, Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và các Nghị định
hướng dẫn thi hành. Tuy nhiên, việc “đền bù thiệt hại” khi Nhà nước thu hồi
trên đất là giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Song trên thực tế pháp luật
ghi nhận cả những trường hợp chứng minh quyền sở hữu tài sản hợp pháp
bằng những giấy tờ hợp lệ hoặc trường hợp được pháp luật quy định là đủ
điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất.
1.1.3. Mục đích, ý nghĩa của bồi thƣờng tài sản gắn liền với đất khi
Nhà nƣớc thu hồi đất
Việc thu hồi đất phục vụ cho các mục đích quốc gia mang tính tất yếu
khách quan bởi lẽ trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc thu hồi
đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc
gia, công cộng. Và để đạt được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa chúng
ta phải đầu tư xây dựng đầy đủ, đồng bộ hệ thống các cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và hạ tầng xã hội; muốn vậy, Nhà nước phải có một quỹ đất cần thiết, phù
hợp. Tuy nhiên, Nhà nước không thể có đủ quỹ đất này nếu không thực hiện
việc thu hồi đất của người đang sử dụng. Bởi vậy, cần có sự chuyển đổi mục
đích sử dụng một phần đất nông nghiệp, đất ở để chuyển sang đất chuyên
dụng phục vụ công nghiệp và phát triển đô thị.
Ở nước ta đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu
song trên thực tế Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất mà giao đất, cho thuê đất,
công nhận quyền sử dụng đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định
lâu dài (gọi chung là người sử dụng đất). Điều này có nghĩa là Nhà nước không
giao quyền sở hữu đất đai mà chỉ giao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất.
Song cho dù đất đai không thuộc sở hữu của người sử dụng đất nhưng khi được
giao đất, cho thuê đất họ vẫn có một số quyền năng nhất định đối với đất đai như
quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền tạo lập tài sản gắn liền với đất v.v.
Như vậy, tài sản gắn liền với đất được tạo ra bởi sự đầu tư công sức, thời gian và
14
tiền vốn v.v của người sử dụng đất. Nó là thành quả lao động, kết quả đầu tư trên
bồi thường đối với tài sản hợp pháp trên đất.
Mặt khác, xét về thực tiễn, việc thu hồi đất sẽ gây ra những tác động lớn
về cả chính trị, kinh tế, xã hội cũng như môi trường mà nếu như không giải
15
quyết tốt vấn đề bồi thường hỗ trợ nói chung và bồi thường về tài sản trên đất
nói riêng thì sẽ dẫn đến những hệ quả nghiêm trọng như: xung đột lợi ích
trong xã hội giữa ba bên Nhà nước, chủ sở hữu tài sản hợp pháp và doanh
nghiệp; người dân phải gánh chịu những thiệt hại nặng nề về vật chất; có thể
dẫn đến bất ổn về tình hình chính trị - an ninh,…
Chính bởi vậy, việc bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất nhằm
mục đích bù đắp những thiệt hại về tài sản của chủ sở hữu tài sản hợp pháp
trên đất. Và công tác này thể hiện ý nghĩa to lớn không chỉ trên phương diện
lý luận mà còn ngay trong thực tiễn đời sống xã hội.
1.2. TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƢỜNG TÀI SẢN GẮN
LIỀN VỚI ĐẤT KHI NHÀ NƢỚC THU HỒI ĐẤT
1.2.1. Tính tất yếu khách quan cần phải điều chỉnh bằng pháp luật về
bồi thƣờng tài sản gắn liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất
Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Song sự vận hành của nền kinh tế luôn tồn tại những nhóm lợi ích đan xen đôi
khi khác biệt, mâu thuẫn và thậm chí là đối đầu bởi nền kinh tế có sự tham gia
của nhiều thành phần như Nhà nước, cộng đồng, tập thể, doanh nghiệp, nhà
đầu tư, cá nhân,... Chính bởi vậy, các quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bởi
những chế định pháp luật nhằm mục đích dung hòa lợi ích giữa các thành
phần kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội, định hướng các quan hệ pháp luật
tuân theo những chuẩn mực chung.
Mà lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và bồi thường
thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng gặp rất
ra một cách có trật tự
Pháp luật quy định cụ thể các nguyên tắc, đối tượng phạm vi, điều kiện,
mức bồi thường, trình tự thủ tục cũng như giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lí
vi phạm liên quan đến bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất. Như vậy,
một cách chung nhất, bằng những quy định của pháp luật công tác bồi thường
tài sản khi Nhà nước thu hồi đất sẽ được đẩm bảo vận hành thống nhất đúng
đắn bởi cơ quan có thẩm quyền cùng với sự giám sát kiểm tra của Nhân dân.
1.2.2. Khái niệm và cơ cấu pháp luật điều chỉnh về bồi thƣờng tài sản
gắn liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất
Bất cứ một lĩnh vực nào, một quan hệ xã hội nào phát sinh trong đời sống
xã hội cũng rất cần đến sự điều chỉnh của pháp luật, nhằm định hướng các
quan hệ này đi theo một trật tự chung thống nhất, phù hợp với lợi ích của Nhà
nước, của các bên tham gia quan hệ và vì lợi ích chung của toàn xã hội. Pháp
luật được xem là một trong những phương thức hiệu quả để thực hiện chức
năng quản lý nhà nước. Hệ thống pháp luật được chia thành những bộ phận
cấu thành khác nhau để điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội riêng biệt, nhưng
có sự tác động qua lại với nhau, đảm bảo cho các quan hệ này tồn tại, phát
triển hợp quy luật. Trong lĩnh vực đất đai, cùng với quá trình thu hồi đất là
hàng loạt các quy phạm pháp luật được ban hành quy định về nguyên tắc, điều
17
kiện, nội dung và phương thức bồi thường, trình tự, thủ tục cũng như việc giải
quyết các khiếu nại, tố cáo về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Nghiên
cứu, tìm hiểu nội dung các quy định này, có thể thấy pháp luật về bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất là một chế định quan trọng của pháp luật đất đai Việt
Nam và được hiểu về mặt lý luận như sau: “Pháp luật về bồi thường tài sản
khi Nhà nước thu hồi đất là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình bồi
Thứ năm, nhóm quy phạm quỵ định về trình tự, thủ tục bồi thường tài sản
khi Nhà nước thu hồi đất.
Luật Đất đai quy định một cách tổng quát, về trình tự, thủ tục bồi thường,
hỗ trợ, khi Nhà nước thu hồi đất nói chung. Trên cơ sở đó, các văn bản hướng
dẫn thi hành có những quy định cụ thể về từng bước lập, bổ sung, thẩm định,
thực hiện, cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc
bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và bồi thường thiệt hại
khi Nhà nước thu hồi đất nỏi riêng. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi các
quy định trên phụ thuộc rất nhiều vào chính sách của từng địa phương cũng
như trình độ, năng lực, trách nhiệm của các cơ quan chuyên môn và cán bộ
thực thi.
Thứ sáu, nhóm quy phạm quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên
quan đến bồi thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất. Theo đó, nếu chủ thể sử
dụng đất bị thu hồi đất nếu không đồng ý với quyết định về bồi thường, hỗ trợ
thì được quyền khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan có thẩm quyền. Luật Đất đai
2003 hiện hành và Luật Đất đai 2013 dành những điều khoản cụ thể quy định
về khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai. Sau này, các quy định này đã được
sửa đổi, bổ sung bởi Luật Tố tụng hành chính để đảm bảo việc khiếu nại, tố
cáo trong lĩnh vực đất đai tuân theo các quy định về trình tự, thủ tục về khiếu
nại, tố cáo nói chung.
Thứ ảy, nhóm quy phạm các nội dung về xử lí vi phạm pháp luật về bồi
thường tài sản khi Nhà nước thu hồi đất. Đối với xử lí vi phạm pháp luật đất
đai khi Nhà nước thu hồi đất nói chung cũng như xử lí vi phạm pháp luật về
bồi thường tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng được áp
dụng theo Điều 206 Luật Đất đai 2013. Theo đó, người có hành vi vi phạm
pháp luật về đất đai thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành
chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
1.2.3. Các yếu tố chủ yếu tác động đến pháp luật về bồi thƣờng tài sản
gắn liền với đất khi Nhà nƣớc thu hồi đất
tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo hướng ngày càng khó khăn, phức
tạp. Vì vậy, các quy định của pháp luật về vấn đề này thường xuyên được rà
soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn vận
động, phát triển đất nước.
1.2.3.3. Các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường
Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nói chung và bồi thường
tài sản nói riêng là một lĩnh vực pháp luật nhạy cảm. Nó thu hút sự quan tâm
của mọi người dân trong xã hội, đặc biệt là những người dân bị thu hồi đất.
Các quy định phải được ban hành phù hợp với thực tiễn, bảo hộ quyền và lợi
ích hợp pháp của người dân thì được họ đồng tình ủng hộ; hậu quả là việc thu
hồi đất được thực hiện nhanh chóng, dứt điểm. Ngược lại, các quy định không
phù hợp với thực tế sẽ tác động tiêu cực đến tâm lý, suy nghĩ của người dân
thì sẽ không nhận được sự đồng thuận, phát sinh các tranh chấp, khiếu kiện
20
kéo dài tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định chính trị - xã hội; hậu quả là việc thu hồi
đất gặp nhiều khó khăn, phức tạp và thậm chí không thực hiện được.
1.2.3.4. Yêu cầu của hội nhập quốc tế
Hiện nay Việt Nam chúng ta đã trở thành thành viên chính thức của nhiều
tổ chức quốc tế trong khu vực và thế giới như Hiệp hội các nước Đông Nam Á
(ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO),v.v... và là nước thứ 12 đàm phán gia nhập Hiệp
định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Quá trình hội
nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đặt ra yêu cầu Việt Nam phải cam kết tuân
thủ luật lệ của các tổ chức này. Muốn vậy, hệ thống pháp luật nói chung và
pháp luật về đất đai nói riêng của nước ta phải tương thích với các quy tắc và
luật lệ chung của thế giới. Mặt khác, việc xây dựng và thực thi pháp luật về
bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở nước ta dựa trên chế độ sở hữu toàn