BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thu Hà
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN
BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Lê Thị Thu Hà
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI QUẬN
BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành :
Quản lý Giáo dục
Mã số
đang công tác tại Khoa Tâm lý - Giáo dục của trường đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí
Minh. Quí thầy, cô đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và tạo điều kiện cho tôi
hoàn thành đề tài luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự cộng tác giúp đỡ của Thầy cô là Cán bộ quản lý, tập thể
giáo viên , nhân viên và học sinh các trường THPT An Lạc, THPT Nguyễn Hữu Cảnh,
THPT Bình Tân, THPT Vĩnh Lộc, THPT Bình Hưng Hòa, THPT Ngôi Sao, THPT Phan
Châu Trinh, Nhà giáo ưu tú Nguyễn Văn Măn_Cố vấn trường THPT Phú Lâm.
Đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của tác giả đến Tiến sĩ Võ Văn Nam đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tác giả nghiên cứu đề tài và hoàn chỉnh luận văn.
Mặc dù bản thân đã rất cố gắng nhưng chắc chắn luận văn không tránh khỏi những
thiếu sót, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp bổ sung của quý thầy cô và các đồng
nghiệp.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 9/2013
Tác giả luận văn
2
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 1
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN ................................... 6
MỞ ĐẦU....................................................................................................................... 7
1. Lý do chọn đề tài ............................................................................................................. 7
2. Mục đích nghiên cứu ...................................................................................................... 8
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu .............................................................................. 8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu ...................................................................................................... 9
5. Giả thuyết khoa học ........................................................................................................ 9
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ................................................................................... 9
2.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội của quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh ............................................................................................................................ 48
2.2. Khái quát về tình hình giáo dục thành phố Hồ Chí Minh và bậc THPT tại quận
Bình Tân, TP HCM .......................................................................................................... 48
2.2.1. Khái quát tình hình giáo dục thành phố Hồ Chí Minh .......................................... 49
2.2.2. Khái quát tình hình giáo dục bậc THPT tại quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí
Minh ................................................................................................................................ 49
2.3. Thực trạng hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận Bình Tân, thành phố
Hồ Chí Minh. ..................................................................................................................... 49
2.3.1. Nhận thức của CB, GV, NV và HS về hoạt động TVHĐ ..................................... 52
2.3.2. Chương trình và nội dung hoạt động TVHĐ ........................................................ 53
2.3.3. Hình thức tổ chức hoạt động TVHĐ ..................................................................... 55
2.3.4. Điều kiện, phương tiện tổ chức hoạt động TVHĐ ................................................ 56
2.3.5. Kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHĐ .................................................................... 59
2.3.6. Những thuận lợi và khó khăn trong công tác TVHĐ ............................................ 59
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động TVHĐ ở các trường THPT tại quận Bình Tân, TP
HCM ................................................................................................................................... 61
2.4.1 Chủ thể quản lý hoạt động TVHĐ ......................................................................... 61
2.4.2. Xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động TVHĐ ...................................................... 62
2.4.3. Tổ chức thực hiện hoạt động TVHĐ ..................................................................... 71
2.4.4. Chỉ đạo thực hiện hoạt động TVHĐ ..................................................................... 76
2.4.5. Kiểm tra, đánh giá hoạt động TVHĐ .................................................................... 91
2.4.6. Đánh giá hiệu quả quản lý hoạt động TVHĐ của HT ở các trường THPT trên địa
bàn quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh .................................................................. 93
2.5. Nguyên nhân dẫn đến thực trạng kết quả thực hiện quản lý hoạt động TVHĐ ở
các trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM ............................................................ 95
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT TẠI QUẬN
BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ......................................................... 100
cán bộ quản lý
GV
giáo viên
HS
học sinh
HT
hiệu trưởng
LLGD
lực lượng giáo dục
NV
nhân viên
PHHS
phụ huynh học sinh
QL
quản lý
tạp làm cho đời sống tâm lý con người nói chung và HS nói riêng đang có những ảnh
hưởng đáng kể. HS hiện tại đang có những biến động to lớn với nhiều biểu hiện đáng lo
ngại, đặc biệt HS ở lứa tuổi vị thành niên. Ở tuổi này, các em có những biến đổi mạnh
mẽ cả về thể chất lẫn tâm hồn. Các em rất dễ xúc động, khả năng kiềm chế kém và luôn
muốn tự khẳng định mình. Các em thường gặp những khúc mắc trong học tập, tâm sinh
lí, trong mối quan hệ với thầy cô, gia đình, bạn bè… Các em có những điều băn khoăn,
trăn trở nhằm làm thế nào để khẳng định bản thân với những “giá trị” mà các em đang
theo đuổi mặc dù những “giá trị” ấy có thể chưa phù hợp với những chuẩn mực của xã
hội. Những băn khoăn, vướng mắc của HS nếu không được điều chỉnh, giải tỏa kịp thời,
thì rất dễ dẫn đến hậu quả đáng tiếc: nhẹ thì chán học, bỏ học; nặng thì trầm cảm, bạo
lực học đường... thậm chí tự tử, gây án mạng. Trước những áp lực căng thẳng về học tập
và các mối quan hệ xã hội và có những biểu hiện sai lệch về hành vi của HS phổ thông
như vậy, thực trạng này cho thấy các em thật sự cần một người đáng tin cậy và có
chuyên môn để chia sẻ tâm sự hoặc trợ giúp các em tìm cách thức giải quyết vấn đề một
cách tốt nhất. Do đó, việc tổ chức hoạt động TVHĐ là hoạt động rất cần thiết ở trường
học nói chung và bậc THPT nói riêng.
Luật Giáo dục (2005) cũng đã nêu rõ: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt
Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung
7
thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân
cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”. Để đạt được mục tiêu này, việc nghiên cứu và nhận diện về hành vi
của HS nói chung và HS cấp THPT nói riêng là cần thiết bởi có như vậy mới xác định
được những yếu tố ảnh hưởng đưa đến những hành vi sai lệch, gây bất lợi cho sự phát
triển của của các em. Do vậy, việc xây dựng một mạng lưới chăm sóc sức khỏe tâm thần
cho HS với sự lồng ghép những kiến thức về tâm lý, giáo dục sẽ giúp cho việc phát hiện
sớm những biểu hiện bất thường của các em, giúp các em phòng ngừa và điều chỉnh
những hành vi sai lệch của mình, có đủ sức khỏe và trí tuệ để tiếp thu, lĩnh hội tri thức ở
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.Hệ thống hóa, khái quát hóa lý thuyết làm cơ sở lý luận cho đề tài.
4.2. Khảo sát thực trạng và phân tích nguyên nhân thực trạng QL hoạt động TVHĐ ở các
trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM.
4.3. Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác QL hoạt động TVHĐ ở các
trường THPT tại quận Bình Tân, TP HCM, đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công tác này.
5. Giả thuyết khoa học
Công tác QL hoạt động TVHĐ ở các trường trung học tại quận Bình Tân, TP HCM
đạt được những thành tựu như: Hiệu trưởng xây dựng được chương trình TVHĐ; thực
hiện đầy đủ chế độ chính sách cho người phụ trách công tác TVHĐ. Bên cạnh đó còn
một số hạn chế: CBQL chưa quan tâm đúng mức đến hoạt động này; chưa tạo được sự
phối hợp giữa TVV và các LLGD khác và chưa đánh giá được hiệu quả của hoạt động
tham vấn tại trường.
Có khắc phục những hạn chế trên mới có thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu của công tác
TVHĐ.
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động TVHĐ với đối tượng tham vấn gồm HS, PHHS, CB, GV, NV. Trong
khuôn khổ của đề tài, tác giả chỉ nghiên cứu đối với đối tượng tham vấn chủ yếu là HS,
các lực lượng còn lại đóng vai trò hỗ trợ đối với hoạt động tham vấn cho HS. Chủ thể
quản lý hoạt động tham vấn là hiệu trưởng nhà trường.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Cơ sở phương pháp luận:
Một số quan điểm phương pháp luận như sau:
• Quan điểm hệ thống - cấu trúc
9
- Mục đích: Phương pháp này nhằm thu thập thông tin một cách trực tiếp về thực
trạng QL hoạt động TVHĐ.
10
- Đối tượng phỏng vấn: CBQL, TVV, GV, HS.
3) Phương pháp chuyên gia
- Mục đích:
+ Lấy ý kiến về các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL hoạt động TVHĐ, các biện
pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL hoạt động tham vấn ở trường THPT.
+ Hoàn thiện hệ thống công cụ điều tra, công cụ đánh giá và toàn bộ nội dung luận
văn.
- Đối tượng xin ý kiến: một số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý giáo
dục cấp THPT, một số chuyên gia giảng dạy và nghiên cứu về giáo dục học, tâm lý học
và quản lý giáo dục, một số chuyên viên tham vấn học đường…
Phương pháp toán thống kê:
Chủ yếu sử dụng kiến thức cơ bản về toán thống kê và thực hiện tính toán bởi các
hàm trên phần mềm SPSS để xử lý các số liệu điều tra.
11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THAM VẤN
HỌC ĐƯỜNG Ở CÁC TRƯỜNG THPT
1.1. Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay ở nước ta, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, nền kinh tế thị trường đã đem
lại nhiều chuyển biến tích cực như đời sống vật chất của nhân dân ngày càng được cải
thiện, an ninh trật tự ngày càng ổn định... Tuy nhiên, cũng đồng thời xuất hiện những
tiêu cực ảnh hưởng trực tiếp đến công tác giáo dục. Trong đó, vấn đề nổi cộm là tình
đạo trong trường học. Cũng vào thời gian thế chiến thứ hai này, chính phủ Hoa Kỳ đã
đưa ra yêu cầu cho các nhà tham vấn làm công việc sàng lọc, tuyển chọn các quân nhân
và những chuyên gia cho các ngành công nghiệp.[49]
Những năm 1930, lý thuyết đầu tiên về Khải đạo được giới thiệu: Lý thuyết về các
nhân tố và đặc điểm của E. G. Williamson, (E. G. Williamson’s Trait and Factor theory).
Lý thuyết này trở nên nổi tiếng như là một sự chỉ đạo cho hoạt động tham vấn. [49]
Năm 1940, đạo luật George Barden (George Barden Act) – đạo luật về giáo dục
hướng nghiệp – ra đời đã mang lại những nguồn lực quan trọng cho sự phát triển và hỗ
trợ hoạt động khải đạo và tham vấn trong môi trường học đường cũng như những môi
trường khác. Đây là lần đầu tiên những nhà TVHĐ, những kiểm huấn viên địa phương
và các tiểu ban nhận được những sự hỗ trợ chính thức từ chính phủ (sự điều hành, tài
chính và nguồn nhân lực…)[49]
Năm 1957, năm mà vệ tinh Sputnik của Nga được phóng vào quỹ đạo cũng là thời
điểm mà ngành tham vấn và khải đạo được “phóng lên”. Tiếp theo đó, đạo luật Nat’l
Defense Ed. Act (NDEA) ra đời năm 1958. Đạo luật NDEA tập trung vào hai vấn đề: 1).
Cung cấp những nguồn lực để các bang thiết lập và duy trì các hoạt động tham vấn, trắc
nghiệm và khải đạo trong trường học; 2). Ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và
đại học thiết kế các chương trình đào tạo TVHĐ.[49]
Năm 1953, hiệp hội các nhà tham vấn tâm lý học đường Hoa Kỳ (ASCA) tham gia
vào APGA (American Personnel and Guidance Association), tiền thân của hiệp hội tham
vấn tâm lý Hoa Kỳ ACA (American Counseling Association) ngày nay. Năm 1962, cuốn
sách của Wrenn, Nhà tham vấn trong một thế giới thay đổi (The Counselor in a
Changing World) đã định chế hóa các mục tiêu của TVHĐ. Năm 1964, ASCA phát triển
các vai trò và chức năng dành cho các nhà TVHĐ. [49]
13
Năm 1965, đạo luật Giáo dục Tiểu học và Trung học (Elementary and Secondary
Education Act) ra đời và cung cấp nguồn quỹ để phát triển những cơ hội giáo dục cho
những gia đình nghèo. Đến những năm 80s và 90s, nhu cầu về việc làm rõ những đặc
Nguyễn Minh Hằng đã có công trình nghiên cứu về một số biểu hiện về hành vi lệch
chuẩn của HS trong nhà trường nhằm xác định nhu cầu tham vấn trong trường phổ
thông. Từ đó đề xuất mô hình tham vấn tâm lý học đường trong nhà trường phổ thông.
Kết quả nghiên cứu giúp cho các nhà QL bước đầu định hướng hoạt động tham vấn tại
trường phổ thông.
Năm 2004, Trung tâm Hỗ trợ tư vấn tâm lý (CACP) thuộc trường Đại học khoa học
xã hội và nhân văn Hà Nội được thành lập và cũng đề cập đến hoạt động nghiên cứu và
hỗ trợ hoạt động TVHĐ. [49]
Năm 2005, với sự chấp thuận của Ủy ban Dân số – Gia đình – Trẻ em TP HCM và
sự hỗ trợ của UNICEF, Văn phòng tư vấn trẻ em TP HCM đã tổ chức hội thảo “Kinh
nghiệm bước đầu thực hiện mô hình tham vấn trong trường học” cũng nhận được sự
quan tâm và chia sẻ kinh nghiệm thực tế của nhiều chuyên gia và những nhà lãnh đạo
các trường học. Đầu năm 2006, hội nghị toàn quốc về “Tư vấn tâm lý – giáo dục – thực
tiễn và định hướng phát triển” do Hội khoa học Tâm lý – Giáo dục TP HCM tổ chức
cũng đề cập đến vấn đề TVHĐ như là một điều “khẩn thiết” nhằm hỗ trợ học sinh và nhà
trường trong hoạt động giáo dục. Sở Giáo dục – Đào tạo TP HCM cũng tổ chức những
buổi sinh hoạt đề cập đến hoạt động tư vấn học đường trong thời gian này với sự tham
gia của các nhà tâm lý, giáo dục, nhà trường và PHHS [49]. Từ năm học 2005 - 2006, Sở
Giáo dục và Đào tạo TP HCM đã chỉ đạo đưa hoạt động tư vấn học đường vào các
trường học trên địa bàn thành phố (nơi nào có điều kiện thì thành lập phòng tư vấn, nơi
nào chưa có điều kiện thì phân công một bộ phận kiêm nhiệm công tác tư vấn học
đường).
Trong khoảng thời gian này, một văn bản của Bộ Giáo dục đã được ban hành nhằm
chỉ đạo và hướng dẫn các Sở và trường học cùng những tổ chức liên quan trong việc
triển khai thực hiện chương trình TVHĐ.
Ngoài ra, chuyên mục TVHĐ do báo Phụ nữ TP HCM khởi xướng (ThS. Nguyễn
Thị Oanh phụ trách) cũng nhận được sự hưởng ứng rất nhiệt tình của đông đảo HS, phụ
huynh và các trường học. Tháng 06 năm 2006, cuốn sách “Tư vấn tâm lý học đường”
của tác giả Nguyễn Thị Oanh đã được nhà xuất bản Trẻ phát hành trên toàn quốc.[49]
vấn. Chẳng hạn, Carl Rogers (1952) đã mô tả tham vấn như một quá trình trợ giúp, trong
mối quan hệ an toàn với nhà tham vấn, thân chủ tìm thấy được sự thoải mái, chia sẻ và
những trải nghiệm đã từng bị chối bỏ để hướng tới sự thay đổi. D.Bloccher (1966) cho
rằng tham vấn là sự giúp đỡ thân chủ nhận thức được bản thân và những hành vi có ảnh
hưởng đến môi trường xung quanh, đồng thời trợ giúp họ xây dựng được hành vi có ý
16
nghĩa, thiết lập được mục tiêu và phát triển những giá trị cho hành vi được mong đợi.
J.Hunchinson Haney & Jacqueline L. (1999) cũng cho rằng tham vấn là mối quan hệ
tương tác mà nhà tham vấn tập trung vào những trải nghiệm, cảm xúc, suy nghĩ và hành
vi của thân chủ, để giúp họ khám phá, chấp nhận và đối mặt với chúng [38]
Theo hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kì (ACA, 1997) cho rằng: Tham vấn là sự áp
dụng nguyên tắc tâm lí, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người
thông qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi,
tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn
đề bệnh lý. Định nghĩa của Hiệp hội Tham vấn Hoa Kì xác định quá trình tham vấn được
hiểu như một mối quan hệ tự nguyện giữa nhà tham vấn và khách hàng. Trong mối quan
hệ này, nhà tham vấn giúp khách hàng tự xác định và tự giải quyết vấn đề của mình.
P.K.Onner cho rằng tham vấn là quá trình, vì vậy nó đòi hỏi các nhà tham vấn phải
dành thời gian nhất định và sử dụng các kỹ năng một cách thuần thục để giúp đỡ thân
chủ tìm hiểu, xác định vấn đề và triển khai các giải pháp trong điều kiện cho phép.
Ở Việt Nam, vấn đề tham vấn được đề cập khá nhiều ở các bài báo và các bài tham
luận tại các hội nghị, hội thảo cũng như một số sách nước ngoài và các tài liệu tập huấn
về tham vấn. Một số khái niệm về tham vấn được các tác giả Việt Nam đề cập đến.
Sau đây là một số khái niệm về tham vấn được các tác giả Việt Nam đề cập đến và
được tác giả Huỳnh Mai Trang (2007) [38, tr 20] tổng hợp:
- Tham vấn là một mối quan hệ, một quá trình nhằm giúp đỡ thân chủ cải
thiện cuộc sống của họ bằng cách khai thác nhận thức và thấu hiểu những suy nghĩ,
cảm xúc và hành vi của họ. Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnh tự giải quyết vấn
Chúng ta có thể phân biệt 2 khái niệm này một cách cụ thể hơn qua bảng đối
chiếu sau dây:
18
Tư vấn (Consultation)
Tham vấn (Counseling)
- Là cuộc nói chuyện mang đậm tính cá - Là cuộc nói chuyện mang đậm tính
nhân giữa NTV với TC.
công việc giữa NTV với TC.
Trọng tâm: TC
Trọng tâm: NTV
- Chủ thể quyết định: TC
- Chủ thể quyết định: NTV
+TC tự đưa ra lựa chọn tối ưu
+NTV đưa ra chỉ dẫn cụ thể, tỉ mỉ.
+TC tự giải quyết nan đề. TC không ỷ +NTV cầm tay chỉ việc cho TC. TC
hoàn toàn ỷ lại vào NTV.
- Có tính tam phương (3 bên):
TC NTV
TC NTV nan đề
Nan đề luôn là của thân chủ.
Nan đề có thể không phải là của TC.
1.2.1.2. Khái niệm tham vấn học đường
Hiệp hội TVHĐ của Mỹ - ASCA (1990) định nghĩa TVHĐ là “Giúp đỡ tất cả các
HS trong học tập, trong quan hệ xã hội, trong công việc, trong việc nâng cao năng lực
19
cá nhân và giúp họ trở thành người có trách nhiệm và hữu ích. Nhà TVHĐ trợ giúp hình
thành và tổ chức tất cả chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt động can thiệp
tham vấn thích hợp”[38, tr 25]
Tương tự, các tác giả Trương Bích Nguyệt (2003), Trần Thị Hương (2006) đã định
nghĩa TVHĐ là tiến trình tương tác giữa chuyên viên tham vấn và HS nhằm khơi dậy
tiềm năng của các em, để họ có đủ sức mạnh vượt qua những khủng hoảng của lứa tuổi
và những khó khăn trong học tập cũng như trong cuộc sống, để tự giải quyết vấn đề của
mình, ổn định việc học, phát triển nhân cách đúng đắn [38, tr 26]
Có thể nói, các tác giả trên quan niệm đối tượng hướng đến của TVHĐ là các vấn
đề của HS và công việc của nhà tham vấn là hỗ trợ cho từng cá nhân học sinh. Như thế,
TVHĐ chỉ là một hoạt động hẹp của hoạt động tham vấn, ở đó thân chủ là những HS
đang gặp khó khăn và cần được giúp đỡ.
Tuy nhiên, TVHĐ là hoạt động không chỉ dành cho HS mà còn dành cho cả PHHS
nghiên cứu nhận thấy TVHĐ cũng không mang ý nghĩa khác với khái niệm tham vấn nói
trên, nhưng ở đây mang tính cụ thể hơn. Đó là hoạt động tham vấn diễn ra trong môi
trường trường học, thân chủ ở đây là những học sinh với những đặc điểm tâm sinh lí đặc
thù cho từng lứa tuổi với những mối quan hệ bạn bè, thầy cô, gia đình, xã hội... thân chủ
ở đây còn là những CBQL, GV, NV của nhà trường_những người có mối quan hệ giao
tiếp trực tiếp với nhau và với HS, PHHS trong việc giáo dục HS... thân chủ ở đây còn có
cả PHHS_những người đang có những vướng mắc trong việc giáo dục, dạy dỗ con cái.
1.2.2. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường
1.2.2.1. Khái niệm quản lý
QL là một loại hình hoạt động xã hội quan trọng của con người trong cộng đồng,
nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra [1]. Khi nói đến hoạt động QL người ta
thường nhắc tới ý tưởng sâu sắc của Các Mác: “Một nhạc sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển
mình, còn dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [2]. Đã có nhiều nhà khoa học trong nước
và nước ngoài nghiên cứu về QL dưới các góc độ khác nhau, đa dạng về cách tiếp cận
nên cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về QL như sau:
Trong tác phẩm những vấn đề cốt yếu của QL, tác giả Harold Kontz viết: “QL là
một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các
mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà QL là nhằm hình thành một môi trường mà
trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự
bất mãn cá nhân ít nhất” [12].
21
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Hoạt động QL là tác
động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị
QL) nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [3].
Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “QL là một quá trình tác động gây ảnh hưởng
của chủ thể QL đến khách thể QL nhằm đạt được mục tiêu chung” [1].
Như vậy, khái niệm QL được các nhà nghiên cứu định nghĩa bằng nhiều cách khác
trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục
thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [31].
Do đó, có thể nói QL giáo dục là QL quá trình giáo dục và đào tạo ở một cơ sở
giáo dục nhất định nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành, đảm bảo được các tính
chất và nguyên lý của nền giáo dục Việt Nam, đạt được mục tiêu giáo dục thông qua
việc thực hiện các chức năng QL.
1.2.2.3. Quản lý nhà trường
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “…Trường học là một thiết chế xã hội trong đó có
diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: “Thầy Trò”. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo
dục quốc dân nó là đơn vị cơ sở” [1]. Trong trường học, người đứng đầu một nhà trường
có chức danh HT. HT là người chịu trách nhiệm QL các hoạt động của nhà trường do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm hoặc công nhận. Như vậy, QL nhà trường thực
chất là QL quá trình lao động sư phạm của thầy giáo, QL hoạt động học tập - tự học tập,
rèn luyện của học trò và QL cơ sở vật chất - thiết bị phục vụ dạy và học.
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “QL trường học có thể hiểu là một hệ thống những
tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể QL đến tập thể GV, HS và các
lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm huy động và phối hợp sức lực và trí
tuệ của họ vào mọi mặt hoạt động của nhà trường hướng vào hoàn thành có chất lượng
và hiệu quả mục tiêu dự kiến” [18].
Tóm lại, QL trường học về bản chất là QL con người (tập thể cán bộ, GV và HS) và
QL các nguồn lực cơ sở vật chất - thiết bị giáo dục của nhà trường bằng những tác động
tối ưu của chủ thể QL (HT nhà trường) đến GV, HS và các cán bộ khác nhằm tận dụng
các nguồn lực nhằm đẩy mạnh các hoạt động của nhà trường, thúc đẩy quá trình đào tạo
thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục tiêu, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mong
muốn.
Điều 19 Thông tư số 12/2011/TT-BGDĐT ban hành ngày 28 tháng 3 năm 2011 về
23