Một số gải pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường Trung học phổ thông huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang - Pdf 31

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

QUÁCH TẤN TRIỀU

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHỆ AN, 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

QUÁCH TẤN TRIỀU

MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Tác giả luận văn
QUÁCH TẤN TRIỀU


5

MỤC LỤC


KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1

AG

An Giang

2
3
4
5
6
7
8
9
10

Bộ GD&ĐT
CBGV
GV
KĐCLGD


Bảng 2.8: Thực trạng tổ chức và chỉ đạo công tác kiểm tra nội bộ
Bảng 2.9: Thực trạng kiểm tra, đánh giá công tác KTNB và xử lý kết quả
kiểm tra nội bộ
Bảng 2.10: Đánh giá chung về thực trạng quản lý công tác KTNB
Biểu mẫu 3.1: Kế hoạch kiểm tra nội bộ trong năm học ... của trường THPT ...
Biểu mẫu 3.2: Kế hoạch kiểm tra tháng... năm...
Biểu mẫu 3.3: Kế hoạch kiểm tra tuần ......tháng... năm...
Bảng 3.1. Một số nội dung cần kiểm tra trong những lĩnh vực trọng yếu trong
nhà trường
Bảng 3.2: Đánh giá về tính cần thiết và khả thi của các biện pháp quản lý
công tác KTNB trong các trường THPT


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quản lý là một trong những nhân tố quan trọng trong sự phát triển xã
hội. Quản lý là một hoạt động phổ biến diễn ra ở mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ
và liên quan đến mọi người. C.Mác đã coi quản lý là một đặc điểm vốn có và
bất biến về mặt lịch sử của đời sống xã hội. Ông viết: “Bất cứ lao động xã hội
trực tiếp hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều
yêu cầu phải có một sự chỉ đạo”.
Quản lý là một hoạt động rất phức tạp. Ở nước ta đang thực hiện cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa,
chúng ta đang thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, cải cách mở
cửa để tiến nhanh đến sự hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới,
từng bước đưa đất nước ta ngang tầm với các nước tiên tiến. Điều đó đòi hỏi
rất lớn vào trình độ tổ chức, vào hiệu quả, vào chất lượng quản lý ở mỗi
ngành, mỗi lĩnh vực cụ thể. Giáo dục và Đào tạo, Khoa học - Công nghệ trong
công cuộc phát triển đất nước, đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định là

biệt quan trọng trong chu trình quản lý đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược,
thường xuyên, kịp thời, giúp người quản lý hình thành cơ chế điều chỉnh
hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường.
Ngoài ra, kiểm tra nội bộ trường học còn là một biện pháp, là công cụ sắc
bén tăng cường hiệu lực quản lý trường học; góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả trong công tác giáo dục và đào tạo.
Theo yêu cầu của công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay thì thực trạng
hoạt động kiểm tra nội bộ trường học ở các trường phổ thông hiện nay còn


nhiều tồn tại, yếu kém. Trong đó, các trường THPT huyện Thoại Sơn, tỉnh An
Giang là một ví dụ.
Vì vậy việc đổi mới hoạt động kiểm tra, tìm ra các giải pháp để khắc
phục tồn tại, yếu kém trong hoạt động kiểm tra nội bộ trường học là một yêu
cầu bức thiết, góp phần đổi mới công tác quản lý nhà trường, quản lý giáo
dục, thúc đẩy nền giáo dục phát triển, đáp ứng nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào
tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Đặc biệt công việc này còn là một trong các giải pháp để
thực hiện thành công cuộc vận động: “Nói không với tiêu cực trong thi cử và
bệnh thành tích trong giáo dục”.
Với những lý do nêu trên, để góp phần đổi mới quản lý trường THPT nói
riêng và đổi mới quản lý giáo dục nói chung, chúng tôi chọn đề tài nghiên
cứu: “Một số giải pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường
trung học phổ thông huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang”.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng hoạt động
kiểm tra nội bộ trường trung học phổ thông huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở trường
trung học phổ thông.

8. Đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận:
- Về mặt thực tiễn:
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tư liệu tham khảo về
công tác KTNB cho đội ngũ quản lý các trường THPT.
9. Cấu trúc của luận văn


Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục luận văn gồm có 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận của quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các
trường trung học phổ thông
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các trường
trung học phổ thông huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Chương 3: Một số giải pháp quản lý hoạt động kiểm tra nội bộ ở các
trường trung học phổ thông huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.


CHƯƠNG 1: CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong nghiên cứu về lý luận quản lý nói chung và trong quản lý giáo
dục nói riêng, nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam cũng đã quan tâm về công tác
kiểm tra, KTNB trong quản lý. Có rất nhiều đầu sách, bài giảng của các tác
giả, giảng viên nghiên cứu về quản lý, quản trị học, quản trị doanh nghiệp,
quản lý hành chính như: Giáo trình Luật hành chính và tài phán hành chính
Việt Nam do tác giả Phạm Hồng Thái và tác giả Đinh Văn Mậu biên soạn
[36], tác giả Trần Kiểm với cuốn: “Khoa học quản lý giáo dục - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn” [25], tác giả Thái Văn Thành với cuốn “Quản lý giáo

và Đào tạo quy định về tổ chức, quyền hạn, trách nhiệm và tổ chức thực hiện
hoạt động của thanh tra, chức năng của thanh tra trong các cơ sở giáo dục đại
học, trường trung cấp chuyên nghiệp là tổ chức thanh tra nội bộ của nhà
trường.
- Quyết định số 14/2006/QĐ-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo thì
hoạt động KTNB các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp
được nâng lên thành hoạt động thanh tra nội bộ.
- Nghị định số 99/2005/NĐ-CP ngày 28 tháng 07 năm 2005 quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thanh tra về tổ chức và
hoạt động của Ban thanh tra nhân dân.
- Nghị định số 42/2013/NĐ-CP ngày 09/04/2013 của Chính phủ ban
hành Nghị định về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục.
Các nghiên cứu về công tác thanh tra, kiểm tra giáo dục nói chung và
công tác thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo nói riêng cũng được đề


cập khá nhiều trong các công trình nghiên cứu về quản lý giáo dục. Chúng ta
có thể điểm qua một số kết quả nghiên cứu của các tác giả sau đây:
+ Tác giả Lưu Xuân Mới - Nguyễn Thị Chín (2001), Bài giảng về
Thanh tra và KTNB trường học. [28]
+ Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng kiểm tra là giai đoạn cuối
cùng của chu trình quản lý. Kiểm tra giúp cho việc chuẩn bị tích cực cho kỳ
kế hoạch (năm học) tiếp theo: “theo lý thuyết Xinbecnetic, kiểm tra giữ vai
trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý. Nó giúp cho chủ thể quản lý điều
khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra không có quản lý”. [39,
tr 73].
+ Tác giả Đặng Quốc Bảo xác định: Quản lý giáo dục có 4 chức năng
cụ thể: kế hoạch hóa, chỉ huy, điều hành, kiểm tra. Trong đó, “kiểm tra là
công việc gắn bó với sự đánh giá tổng kết kinh nghiệm giáo dục, điều chỉnh
mục tiêu”.

các quá trình xã hội và hành vi con người nhằm duy trì tính ổn định và phát
triển của đối tượng theo mục tiêu đã định”. [37]
- Từ điển Tiếng Việt, Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội xuất bản,
1992, quản lý có nghĩa là:
“1. Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định.
2. Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”.
Như vậy, quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể
quản lý lên các đối tượng của quản lý nhằm đảm bảo các quá trình hoạt động
của đối tượng theo định hướng để đạt được mục tiêu, yêu cầu đã đề ra.
Các chức năng quản lý:
- Lập kế hoạch
- Tổ chức


- Chỉ đạo
- Kiểm tra
Ngoài 4 chức năng quản lý trên, nguồn thông tin là yếu tố cực kỳ quan
trọng trong quản lý, nhờ có thông tin mà sự trao đổi qua lại giữa các chức
năng được cập nhật thường xuyên, từ đó có biện pháp xử lý kịp thời và hiệu
quả.
1.2.2. Quản lý giáo dục
Giáo dục là một hoạt động cơ bản xã hội, vì vậy QLGD là quản lý một
quá trình xã hội. QLGD là bộ phận không thể tách rời của hệ thống quản lý xã
hội, QLGD được định nghĩa:
+ “QLGD được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích,
có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả mắt
xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường).
Nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào
tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”. [25, tr.36]
Vậy, QLGD được hiểu là sự tác động của chủ thể quản lý đến công tác

công tác quản lý của hiệu trưởng. [27]
1.3. Một số vấn đề về kiểm tra nội bộ trường trung học phổ thông
1.3.1. Mục đích, nội dung của kiểm tra nội bộ trường học
- Mục đích kiểm tra: Phải đánh giá tiến độ và kết quả giáo dục, phát
hiện thiếu sót; đề xuất phương hướng, biện pháp để phát huy thành tích và sửa
chữa khuyết điểm; điều chỉnh chỉ tiêu kế hoạch;
- Nội dung kiểm tra: Kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật,
nhiệm vụ, kế hoạch của cá nhân và các bộ phận thuộc quyền, tập trung là


kiểm tra chuyên môn; tổ chức kiểm tra toàn diện các đơn vị bộ phận trong
trường trước thời điểm tổng kết năm học.
1.3.2. Vai trò của kiểm tra nội bộ trường học
Vai trò cần thiết của việc KTNB trường học là thu thập thông tin phản
hồi về diễn biến và kết quả hoạt động của các cá nhân, bộ phận trong nhà
trường; đây là yêu cầu quan trọng trong quá trình kiểm tra các bộ phận, cá
nhân trong nhà trường, là một trong những yếu tố quyết định đến hiệu lực,
hiệu quả của hoạt động kiểm tra. Do đó, hoạt động kiểm tra có chất lượng là
việc tiến hành kiểm tra mà trong đó hoạt động thu thập, tìm các minh chứng
được tiến hành đúng pháp luật, đúng thủ tục, trình tự và phương pháp khoa
học, hợp lý; cung cấp thông tin chính xác, rõ ràng, kịp thời, khách quan, cần
được thể hiện qua văn bản.
1.3.3. Chức năng của kiểm tra nội bộ trường học
Kiểm tra nội bộ trường học có 4 chức năng, đó là:
1.3.3.1. Tạo lập kênh thông tin phản hồi vững chắc
Tạo mối liên hệ nghịch trong quản lý, cung cấp thông tin đã được xử lý
chính xác để hiệu trưởng hoạt động quản lý có hiệu quả. Thu thập thông tin là
chức năng trung tâm của kiểm tra nội bộ trường học, chỉ có kiểm tra mới có
những thông tin đáng tin cậy, việc xử lý đúng đắn các thông tin giúp hiệu
trưởng tác động kịp thời vào các tổ chức, điều chỉnh mục tiêu và ra quyết định

nhờ đó mà người quản lý sẽ xây dựng một cơ chế kiểm tra thích hợp và tiến
hành kiểm tra khoa học, hiệu quả. Nguyên tắc chung đó là: So sánh thực tế
với các tiêu chuẩn.
1.3.4.1. Nguyên tắc pháp chế


Nguyên tắc pháp chế là nguyên tắc tuân thủ pháp luật. Hiệu trưởng
trường THPT là người đại diện nhà nước để quản lý nhà trường, do đó phải áp
dụng các văn bản quy phạm pháp luật làm hành lang pháp lý trong hoạt động
quản lý nhà trường.
1.3.4.2. Kiểm tra phải được thiết kế căn cứ trên kế hoạch hoạt động của
nhà trường và căn cứ theo thứ bậc của đối tượng được kiểm tra
Bản chất của KTNB là tạo lập mối liên hệ thông tin ngược trong quản
lý trường học. Do đó, để tiến hành kiểm tra phải dựa vào kế hoạch thực hiện
nhiệm vụ của cá nhân, tổ chức, vì chính kế hoạch hoạt động của chúng ta thấy
được đó là công việc gì, mục đích của công việc, ai làm, tiến độ thực hiện,
nguồn lực thực hiện. Việc kiểm tra phải được thiết kế theo kế hoạch hoạt
động tổ chức, kế hoạch hoạt động của tổ chức phải được xây dựng tỉ mỉ, chu
đáo, đầy đủ các yêu cầu thì thiết kế việc kiểm tra mới dễ dàng đạt hiệu quả
cao, nếu kế hoạch hoạt động chỉ xây dựng sơ sài thiếu các nguyên lý cần thiết
thì cũng khó có căn cứ để so sánh khi kiểm tra..
Mặt khác, kiểm tra còn cần được thiết kế căn cứ theo cấp bậc của đối
tượng được kiểm tra. Trong việc thực hiện quản lý nhà trường, người Hiệu
trưởng phải ủy quyền cho các Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng để thực hiện quản
lý trong nhà trường và chính trong khi tiếp xúc với cha mẹ học sinh, học sinh,
giáo viên và nhân viên cũng đã thực hiện quyền hạn của mình để tổ chức quản
lý lớp học, trao đổi, làm việc với cha mẹ học sinh. Và một nhà quản lý giỏi
không thể giao quyền hành của mình cho cấp dưới mà không kiểm tra. Mục
đích của việc kiểm tra trong quản lý là nhằm đảm bảo việc quyền hạn được
giao đang được sử dụng đúng hướng, đúng mục đích và có hiệu quả. Cho nên

trường THPT, việc xác định được những điểm trọng yếu trong kiểm tra không
phải dễ dàng và thuận lợi.


1.3.4.6. Kiểm tra phải khách quan, chính xác, công khai, kịp thời
Quá trình quản lý bao gồm nhiều yếu tố chủ quan của nhà quản lý,
nhưng nếu như thực hiện kiểm tra với những định kiến có sẵn, không kịp thời
sẽ không cho chúng ta những nhận xét và đánh giá đúng mức về đối tượng
được kiểm tra, kết quả kiểm tra sẽ bị sai lệch. Vì vậy, kiểm tra cần phải được
thực hiện với thái độ khách quan, chính xác, công khai, kịp thời trong quá
trình thực hiện nó.
1.3.4.7. Hệ thống kiểm tra phải phù hợp với văn hóa của nhà trường
Để cho việc kiểm tra có hiệu quả cao cần xây dựng một qui trình và các
nguyên tắc kiểm tra phù hợp với nét văn hóa của nhà trường. Tùy theo tình
hình thực tế, mối liên kết của các bộ phận, cá nhân; truyền thống của tập thể
nhà trường mà người Hiệu trưởng thiết lập tổ chức hệ thống kiểm tra phù hợp
với đơn vị môi trường văn hoá của đơn vị.
1.3.4.8. Việc kiểm tra phải đưa ra được các minh chứng sai lệch và các
kiến nghị hữu hiệu
Kiểm tra nhằm cung cấp thực trạng của tình hình của đối tượng kiểm
tra, cho nên nhiệm vụ của người kiểm tra phải đưa ra được các minh chứng về
tính chính xác, khách quan của thông tin kết quả kiểm tra, phải đưa ra các
nhận xét, kiến nghị phù hợp để người quản lý chọn lựa. Và đây cũng chính là
nhiệm vụ của Ban KTNB với tư cách là hội đồng tư vấn của Hiệu trưởng nhà
trường về việc thực hiện chức năng kiểm tra trong quản lý nhà trường. Nội
dung kết quả kiểm tra được minh chứng chính xác, khách quan trong biên bản
cũng nói lên tính lao động nghiêm túc, tính chuyên nghiệp, tầm nhìn bao quát
và trình độ chuyên môn của người kiểm tra.
1.3.4.9. Việc kiểm tra phải đưa đến hành động
Việc kiểm tra chỉ được coi là đúng đắn nếu những thông tin qua kiểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status