BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
ĐỖ NGỌC MINH
PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
: Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 01 07
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Thị Bảo Ánh
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chƣa đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào
khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác,
tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán
tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Đại học Luật Hà Nội.
1.2. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI THỂ
DOANH NGHIỆP
1.2.1. Khái niệm pháp luật về giải thể doanh nghiệp
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về giải thể doanh nghiệp
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TRẠNG
ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA
2.1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP VÀ THỰC TRẠNG ÁP DỤNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
SƠN LA
2.1.1. Các trƣờng hợp giải thể và điều kiện giải thể doanh nghiệp
2.1.2. Cơ quan có thẩm quyền trong thực hiện giải thể doanh nghiệp
2.1.3. Trình tự, thủ tục giải thể
2.1.4. Bảo đảm quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan
trong quá trình giải thể doanh nghiệp
2.2. TÌNH HÌNH GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
SƠN LA
2.2.1. Tình hình phát triển doanh nghiệp của tỉnh Sơn La
2.2.2. Tình hình giải thể doanh nghiệp tại Sơn La
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM TIẾP
TỤC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Trang
1
6
6
6
10
KẾT LUẬN
52
54
54
56
57
60
62
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Trang
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu các trƣờng hợp doanh nghiệp giải thể của năm 2015
26
Biểu đồ 2.2: Các loại hình doanh nghiệp đã giải thể của năm 2015
27
Biểu đồ 2.3: Tình hình doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La
48
Biểu đồ 2.4: Tổng số doanh nghiệp của tỉnh Sơn La so với tỉnh
Lai Châu, Điện Biên, Hòa Bình, Yên Bái (tính đến
hết năm 2015)
thế giới đều rất quan tâm đến việc xây dựng chế định pháp luật về giải thể
doanh nghiệp. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam các quy định về giải thể
doanh nghiệp đƣợc quy định từ năm 1990 trong Luật Công ty, Luật Doanh
nghiệp tƣ nhân, đến Luật Doanh nghiệp năm 1999, năm 2005 và nay là
Luật Doanh nghiệp năm 2014 cùng hệ thống các văn bản hƣớng dẫn thi
hành; ngoài còn đƣợc quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành
khác nhƣ Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Chứng khoán năm, Luật Các tổ
chức tín dụng… Việc thể chế hóa kịp thời các quy định về giải thể doanh
nghiệp đã tạo khung pháp lý để chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp, đồng
thời bảo vệ quyền lợi của những chủ thể có liên quan, nhất là quyền lợi của
2
chủ nợ và ngƣời lao động; tạo điều kiện để doanh nghiệp rút khỏi thị
trƣờng thuận lợi, bảo đảm lợi ích của các bên có liên quan. Tuy nhiên,
trong quá trình thực thi, các quy định của pháp luật về giải thể doanh
nghiệp đã bộc lộ nhiều vƣớng mắc, thiếu sót, còn có sự chồng chéo, thiếu
sự thống nhất giữa Luật Doanh nghiệp và các văn bản pháp luật khác, một
số quy định chƣa rõ ràng, chƣa phù hợp với thực tiễn… Trên cơ sở tình
hình thực thi pháp luật về giải thể doanh nghiệp nêu trên thì việc nghiên
cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về giải thể doanh nghiệp, thực trạng
pháp luật giải thể doanh nghiệp ở tỉnh Sơn La, để từ đó góp phần định
hƣớng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp là điều
rất cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu và các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý cho giải
thể doanh nghiệp không phải là một vấn đề hoàn toàn mới ở Việt Nam và
đã đƣợc nhiều nhà khoa học và học viên nghiên cứu; trong đó có thể kể đến
một số công trình nghiên cứu về pháp luật giải thể doanh nghiệp nhƣ: Quy
chế thành lập và giải thể, phá sản và cơ chế quản lý của Luật Công ty và
triển cả về số lƣợng và chất lƣợng, tháo gỡ mọi rào cản, chống tiêu cực,
chống tham nhũng trong bộ máy nhà nƣớc. Trong đó, chƣa có công trình
nào nghiên cứu riêng pháp luật về giải thể doanh nghiệp và thực tiễn áp
dụng tại tỉnh Sơn La. Vì vậy, đề tài “Pháp luật về giải thể doanh nghiệp
và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Sơn La” lần đầu tiên đƣợc nghiên cứu ở cấp
độ luận văn thạc sĩ một cách chuyên sâu, toàn diện, hệ thống và logic; bảo
đảm không có sự trùng lắp với các công trình nghiên cứu đã đƣợc công bố.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý
luận về giải thể doanh nghiệp cũng nhƣ pháp luật về giải thể doanh nghiệp,
đánh giá thực trạng về giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La, trên
cơ sở đó có thể đƣa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải
thể doanh nghiệp ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể đƣợc sử dụng cho công tác
nghiên cứu, tham khảo tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu về luật học, các
cấp chính quyền địa phƣơng nghiên cứu, ứng dụng vào thực tiễn. Một số
kiến nghị của đề tài có giá trị tham khảo cho các cơ quan nhà nƣớc trong
quá trình vận dụng thực thi pháp luật, xây dựng và hoàn thiện hệ thống luật
khung, các quy phạm điều chỉnh công tác ban hành văn bản, nhất là công
tác ban hành văn bản tại các địa phƣơng trên cả nƣớc.
Để thực hiện mục đích nêu trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải
quyết là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận về giải thể doanh nghiệp, đặc biệt là
khái niệm và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp, chỉ ra những điểm tƣơng
đồng và khác biệt giữa giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp.
- Nghiên cứu khái niệm, nội dung cơ bản của pháp luật về giải thể
doanh nghiệp.
Chương 2: Quy định pháp luật và thực trạng áp dụng pháp luật về
giải thể doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Sơn La.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp ở
Việt Nam.
6
CHƢƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI THỂ DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của giải thể doanh nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm giải thể doanh nghiệp
Khi tham gia thị trƣờng, có những doanh nghiệp đƣợc thành lập mới
thì cũng có không ít các doanh nghiệp rút khỏi thị trƣờng; đối với doanh
nghiệp và các thực thể xã hội khác thì việc gia nhập và rút khỏi thị trƣờng
là một quá trình tất yếu đã đƣợc pháp luật Việt Nam cũng nhƣ các nƣớc
trên thế giới nghiên cứu và ghi nhận bằng các văn bản luật.
Trong quá trình hình thành, phát triển, tồn tại của doanh nghiệp, khi
gặp khó khăn, doanh nghiệp có thể ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh
trong một thời gian nhất định; đây là một dạng rút lui tạm thời khỏi thị
trƣờng. Tuy nhiên, đến khi không thể tiếp tục hoạt động kinh doanh, doanh
nghiệp phải rút lui khỏi thị trƣờng theo trình tự, thủ tục quy định và một
trong số đó là giải thể doanh nghiệp.
Về thuật ngữ giải thể trong tiếng Anh, có khá nhiều thuật ngữ đƣợc
dùng để thể hiện khái niệm này nhƣ: “dissolution”, “disband” hay “break
up” [1] ; đây là các thuật ngữ đƣợc dùng để chỉ việc chấm dứt sự tồn tại của
doanh nghiệp. Trong tiếng Việt thì giải thể là không còn hoặc làm cho
Pháp luật Kinh tế - Khoa Luật Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân: “Giải
thể doanh nghiệp được nhìn nhận là việc một doanh nghiệp chấm dứt
hoạt động kinh doanh, không tiếp tục tồn tại trên thị trường với tư cách
là một chủ thể kinh doanh”
[5]
… Qua đây, có thể thấy các nhà nghiên cứu
luật hiểu về khái niệm giải thể doanh nghiệp tƣơng đối tƣơng đồng khi
xác định rằng giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của
doanh nghiệp với tƣ cách là một chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, cần nhìn
nhận rằng, giải thể doanh nghiệp không phải là một sự kiện pháp lý mà
là một quá trình và quá trình này phải tuân theo các quy định của pháp
[2] Viện Ngôn ngữ học (2005), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội - Đà Nẵng.
[3] Bộ Tƣ pháp, Viện Khoa học pháp lý (2008), Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa - Nxb Tƣ
pháp, Hà Nội
[4] Viện Đại học Mở Hà Nội (2013), Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam, Nxb Tƣ pháp, Hà Nội
[5] Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân - Khoa Luật (2012), Giáo trình Pháp luật Kinh tế, Nxb Đại học
Kinh tế quốc dân, Hà Nội
8
luật
[6]
. Trong đó, pháp luật quy định điều kiện giải thể doanh nghiệp khi
và tài chính, hủy con dấu, làm thủ tục giải thể tại cơ quan đăng ký kinh
doanh, xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký doanh nghiệp,… đây đều là
những thủ tục đƣợc tiến hành tại cơ quan đăng kí kinh doanh, là cơ quan
hành chính nhà nƣớc.
Ba là, giải thể doanh nghiệp mang tính tự nguyện hoặc bắt buộc:
Trƣờng hợp tự nguyện giải thể bắt nguồn từ ý chí của chủ sở hữu
hoặc các chủ sở hữu doanh nghiệp, họ có quyền quyết định việc giải thể
doanh nghiệp, đây là trƣờng hợp giải thể mang tính chất hoàn toàn
tự nguyện.
Ngoài ra, nếu những doanh nghiệp không còn đáp ứng các điều kiện
để tiếp tục kinh doanh hay vi phạm các quy định của pháp luật nhƣ nội
dung kê khai trong hồ sơ đăng kí doanh nghiệp là giả mạo, doanh nghiệp
ngừng hoạt động kinh doanh 01 năm mà không thông báo với cơ quan đăng
ký kinh doanh và cơ quan thuế,… theo Điều 211 Luật doanh nghiệp năm
2014 thì sẽ bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp. Trƣờng hợp
này, doanh nghiệp bị giải thể theo ý chí của cơ quan nhà nƣớc có thẩm
quyền, việc giải thể mang tính bắt buộc.
Bốn là, việc giải thể doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết
các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp và doanh
nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án hoặc cơ
quan trọng tài:
10
Doanh nghiệp có thể giải thể xuất phát từ lý do khác nhau nhƣng chỉ
đƣợc giải thể khi bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ và nghĩa vụ tài
sản khác và doanh nghiệp không trong quá trình giải quyết tranh chấp tại
Tòa án hoặc cơ quan trọng tài; nhƣ vậy, dù doanh nghiệp giải thể với bất
kỳ lí do gì thì doanh nghiệp phải đảm bảo thanh toán hết các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp và chỉ khi đáp ứng điều kiện
Đối với giải thể doanh nghiệp có thể do chủ sở hữu hoặc các chủ sở
hữu doanh nghiệp quyết định đối với trƣờng hợp giải thể tự nguyện hoặc
do cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền cho phép thành lập doanh
nghiệp quyết định đối với trƣờng hợp giải thể bắt buộc.
Phá sản doanh nghiệp do cơ quan nhà nƣớc duy nhất có thẩm quyền
quyết định đó là Tòa án.
Bốn là, điều kiện giải thể doanh nghiệp và phá sản doanh nghiệp:
Đối với giải thể doanh nghiệp thì điều kiện để doanh nghiệp đƣợc
phép giải thể đó là khi doanh nghiệp bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ
và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp; các chủ nợ sẽ đƣợc thanh toán
đầy đủ các khoản nợ theo thứ tự pháp luật quy định.
Đối với phá sản doanh nghiệp thì bảo đảm thanh toán hết các
khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp không phải là điều
kiện bắt buộc. Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, các chủ nợ sẽ
đƣợc thanh toán các khoản nợ theo thứ tự luật định trên cơ sở số tài sản
12
còn lại của doanh nghiệp; trừ trƣờng hợp đối với chủ doanh nghiệp tƣ
nhân, thành viên hợp danh công ty hợp danh. Trƣờng hợp giá trị tài sản
không đủ để thanh toán theo quy định thì các đối tƣợng thuộc cùng một
thứ tự ƣu tiên đƣợc thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tƣơng ứng với số nợ;
phần nợ còn thiếu thì các chủ nợ phải chịu rủi ro. Nhƣ vậy, doanh nghiệp
bị phá sản có thể thanh toán hết hoặc không thanh toán hết các khoản nợ
cho các chủ nợ.
Năm là, hậu quả pháp lý của việc giải thể và phá sản doanh nghiệp:
Giải thể doanh nghiệp dẫn đến chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp
và doanh nghiệp bị xóa tên trong sổ đăng ký doanh nghiệp.
Phá sản doanh nghiệp không phải bao giờ cũng cũng là chấm dứt
hoạt động của doanh nghiệp, không phải trƣờng hợp mở thủ tục phá sản
nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp đó.
Tạm ngừng kinh doanh đƣợc hiểu là trƣờng hợp doanh nghiệp tạm
ngừng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất
định và phải thông báo bằng văn bản về thời điểm bắt đầu và thời hạn tạm
ngừng hoặc tiếp tục kinh doanh cho cơ quan đăng ký kinh doanh chậm nhất
15 ngày trƣớc ngày tạm ngừng. Sau khoảng thời gian đó, doanh nghiệp trở
lại hoạt động bình thƣờng.
14
Hai là, giải thể doanh nghiệp có thể là quyền của doanh nghiệp nếu
giải thể tự nguyện, nhƣng nó cũng là giải thể bắt buộc nếu doanh nghiệp đó
vi phạm pháp luật và bị thu hồi giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh. Tạm
ngừng kinh doanh là quyền của doanh nghiệp.
Ba là, hậu quả pháp lý của giải thể doanh nghiệp bao giờ cũng dẫn
đến hậu quả pháp lý là chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp, đóng Mã số
thuế của doanh nghiệp.
Tạm ngừng kinh doanh không làm chấm dứt hoàn toàn hoạt động của
doanh nghiệp; doanh nghiệp chỉ tạm ngừng kinh doanh trong một khoảng
thời gian nhất định, hết thời hạn đó, doanh nghiệp sẽ tiếp tục hoạt động
bình thƣờng; trong thời hạn tạm ngừng, doanh nghiệp phải nộp đủ số
thuế còn nợ, tiếp tục thanh toán các khoản nợ, hoàn thành việc thực hiện
hợp đồng đã ký với khách hàng và ngƣời lao động, trừ trƣờng hợp có
quy định khác.
Bốn là, trình tự, thủ tục pháp lý khi tiến hành tạm ngừng kinh doanh
thƣờng nhanh chóng và đơn giản hơn so với trình tự, thủ tục pháp lý khi
tiến hành giải thể doanh nghiệp.
Năm là, giải thể doanh nghiệp phải trả các khoản nợ và nghĩa vụ tài
chính thì tạm ngừng kinh doanh là doanh nghiệp có thể bớt đi nỗi lo về tiền
lƣơng cho ngƣời lao động, thuế, các khoản chi khác; nhờ đó, doanh
Chƣơng IX Luật Doanh nghiệp năm 2014. Các quy định về giải thể doanh
16
nghiệp không phải là quy định mới mà đã đƣợc ra đời và gắn liền với sự
phát triển của các quy định pháp luật liên quan đến doanh nghiệp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thì pháp luật về giải thể
doanh nghiệp cũng đã có sự thay đổi để dần phù hợp với yêu cầu quản lý
và quy luật thị trƣờng. Nếu nhƣ trƣớc đây quy định về giải thể doanh
nghiệp đƣợc thể chế tƣơng ứng và không thống nhất giữa các loại hình
doanh nghiệp nhƣ: Đối với khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh thì các
quy định về giải thể doanh nghiệp đƣợc ghi nhận tại Luật Công ty năm
1990, Luật Doanh nghiệp tƣ nhân năm 1990, Luật Doanh nghiệp năm
1999; đối với doanh nghiệp nhà nƣớc, việc giải thể đƣợc quy định tại
Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc năm 1995, Luật Doanh nghiệp Nhà nƣớc
năm 2003.
Nhằm tạo môi trƣờng pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho doanh nghiệp
phát triển, khắc phục sự không thống nhất giữa các loại hình doanh nghiệp
Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định thống nhất, không phân biệt tính
chất sở hữu, thành phần kinh tế và ngành, nghề kinh doanh đối với các loại
hình doanh nghiệp nói chung và giải thể doanh nghiệp nói riêng.
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về giải thể doanh nghiệp
Đối với mỗi quốc gia có điều kiện kinh tế - xã hội, cơ chế quản lý,
thị trƣờng, trình độ phát triển, trình độ, phong tục tập quán… khác nhau thì
pháp luật về giải thể doanh nghiệp cũng đƣợc quy định khác nhau. Hiện
nay ở Việt Nam các quy định về giải thể doanh nghiệp nói chung đƣợc ghi
nhận cơ bản trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 và hệ thống các văn bản
hƣớng dẫn thi hành, gồm những nội dung cơ bản quyền và lợi ích của các
chủ thể có liên quan trong quá trình giải thể doanh nghiệp.
Về các trƣờng hợp giải thể của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần quy định các trƣờng hợp giải thể doanh nghiệp:
Trường hợp 1, thời gian hoạt động của doanh nghiệp quy định tại
điều lệ hoạt động hết hoặc có định về vấn đề giải thể của công ty quy định
tại điều lệ hoạt động của công ty.
Trường hợp 2, hội đồng thành viên hoặc hội nghị của thành viên
công ty quyết định giải thể công ty; xét thấy cần thiết giải thể hoặc chia
tách công ty.
Trường hợp 3, giấy phép kinh doanh bị thu hồi hoặc đóng cửa hoặc
huỷ bỏ theo quy định của pháp luật hoặc Toà án nhân dân quyết định giải
thể theo quy định.
Pháp luật Hoa Kỳ
[8]
quy định khác nhau cho mỗi loại hình doanh
nghiệp nhƣ pháp luật, về các trƣờng hợp giải thể doanh nghiệp đƣợc
ghi nhận tại các Luật mẫu điều chỉnh đối với từng loại hình doanh
nghiệp; nhƣ:
Điều 701 Luật mẫu về công ty trách nhiệm hữu hạn:
Trường hợp 1, xảy ra sự kiện hay hoàn cảnh mà đã thỏa thuận trong
hợp đồng thành lập công ty là sự kiện hay hoàn cảnh đó dẫn tới việc giải
thể công ty.
Trường hợp 2, đƣợc sự đồng ý của tất cả các thành viên.
[8] Trần Quỳnh Anh (2010), “Công ti trách nhiệm hữu hạn theo pháp luật Hoa Kỳ”, Tạp chí Luật học ,
(12), tr.3-10
19