LƯƠNG THỊ HÒA
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬT KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TRUNG TÂM
DỊCH VỤ VIỆC LÀM TẠI TỈNH THÁI BÌNH
2014 - 2016
LƯƠNG THỊ HÒA
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TRUNG TÂM
DỊCH VỤ VIỆC LÀM TẠI TỈNH THÁI BÌNH
LƯƠNG THỊ HÒA
Học viên
Lương Thị Hòa
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ
NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP .. 4
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm thất nghiệp………………………….............4
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp………………………………..................4
1.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm thất nghiệp…………………………….................5
1.1.3. Ý nghĩa, vai trò của bảo hiểm thất nghiệp ….............................................7
1.2. Nội dung pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp...............................8
1.2.1. Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp...................................8
1.2.2. Các chế độ hưởng..........................................................................................11
1.2.2.1. Trợ cấp thất nghiệp (điều kiện hưởng, mức hưởng, thời gian hưởng; tạm
dừng, chấm dứt hưởng…).........................................................................................11
1.2.2.2 Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm ................................................................18
1.2.2.3.Hỗ trợ học nghề.............................................................................................19
1.2.2.4 Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc
làm cho người lao động.............................................................................................19
1.2.3. Thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp ...................................................... 21
Kết luận chương 1....................................................................................................26
CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP TẠI TRUNG TÂM DỊCH VỤ VIỆC LÀM TỈNH THÁI BÌNH ...... 27
2.1. Vài nét về Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Thái Bình ...............................27
2.2. Thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại
Trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh Thái Bình........................................................30
BHXH
Bảo hiểm xã hội
LVL
Luật việc làm
ASXH
An sinh xã hội
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
HĐLV
Hợp đồng làm việc
SLĐTBXH
Sở lao động thương binh xã hội
BLLĐ
Bộ luật lao động
TCTN
của một quốc gia.
Đối với bất kỳ quốc gia nào, BHTN luôn là trụ cột quan trọng trong hệ thống
An sinh xã hội. Tại Việt Nam chính sách BHTN đã góp phần to lớn vào việc ổn
định đời sống cho người lao động nhằm bù đắp một phần thu nhập của người lao
động bị thiếu hụt do thất nghiệp. Ngày 29 tháng 6 năm 2006, Quốc hội nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội, trong đó đã quy
định về Bảo hiểm thất nghiệp và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2009. Đây là chính sách mới có tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của người
lao động, người sử dụng lao động và vấn đề an sinh xã hội. Qua 5 năm triển khai
thực hiện bảo hiểm thất nghiệp đã đảm bảo được quyền lợi của người lao động và
người sử dụng lao động. Người lao động được hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm việc làm
được hưởng chế độ bảo hiểm y tế…Tuy nhiên ngoài những thành tựu đã đạt được,
chính sách bảo hiểm thất nghiệp trong luật BHXH năm 2006. Qua quá trình thực thi
đã phát hiện ra một số vướng mắc, bất cập ảnh hưởng đến hiệu quả thực thi của chế
độ BHTN trong thực tiễn.
Qua quá trình triển khai thực hiện để phù hợp với điều kiện thực tế riêng và
đặc thù nhằm đáp ứng nhu cầu cụ thể của từng quốc gia. Chính sách bảo hiểm thất
nghiệp được xây dựng, sửa đổi bổ sung và quy định trong luật việc làm số
38/2013/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015 để phù hợp hơn, đảm bảo hơn
với điều kiện kinh tế xã hội ở Việt Nam, đảm bảo được các quyền lợi của các đối
tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Đặc biệt đối tượng người lao động phải chịu
sự chi phối mạnh mẽ từ sự biến động của nền kinh tế thị trường. Do vậy pháp luật
1
về bảo hiểm thất nghiệp phải điều chỉnh cách giải quyết, thực hiện chế độ trợ cấp
đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người lao động và chủ sử dụng lao động tham gia
bảo hiểm thất nghiệp.
Tuy vậy, qua một thời gian ngắn đi vào thực hiện, bên cạnh những ưu điểm,
thành tựu đã đạt được không thể phủ nhận, chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong Luật
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về BHTN tại Trung tâm Dịch vụ việc làm
tỉnh Thái Bình
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiểu quả thực hiện pháp
luật về BHTN.
3
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
VÀ NỘI DUNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP
1.1. Khái quát chung về bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Trước hết, cần tìm hiểu về khái niệm “thất nghiệp” và “người thất nghiệp”.
Theo quan niệm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), “thất nghiệp là sự
ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được một việc làm thích hợp trong
trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc” (Đ. 4 Công ước số
102 (1952).
Từ điển kinh tế học hiện đại cho rằng, thất nghiệp là những người lao động
không có việc làm, bao gồm cả những người đang trong giai đoạn tìm việc làm mới
hoặc những người không thể tìm được việc làm với đồng lương thực tế hiện hành
[19].
Như vậy, có thể đi đến khái niệm chung: thất nghiệp là tình trạng trong đó
có những người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không tìm được
việc làm với mức tiền công đang thịnh hành.
Từ khái niệm này, có thể hiểu khái niệm người thất nghiệp là người trong độ
tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc nhưng không tìm được
việc làm.
Thất nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến nhiều mặt trong xã hội. Đối với cá
nhà nước.
Bên cạnh đó BHTN có những đặc trưng riêng so với các chế độ bảo hiểm xã
hội khác; cụ thể:
Một là, BHTN được coi là một phương án dự phòng về việc làm của người
lao động. Sở dĩ như vậy mặc dù bảo hiểm thất nghiệp xuất phát từ quan hệ lao động
5
nhưng BHTN chủ yếu nghiêng về lĩnh vực việc làm. Nghĩa là BHTN được chi trả
gắn liền với vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động vì vậy chức năng chính
của BHTN chính là hỗ trợ cho NLĐ khi lâm vào tình trạng thất nghiệp cũng như
thúc đẩy các hoạt động hỗ trợ tìm kiếm cho người lao động thất nghiệp có cơ hội
việc làm mới.
Hai là, BHTN là chế độ bảo hiểm áp dụng với các đối tượng là người thất
nghiệp tức là những người trong độ tuổi lao động trong luật việc làm quy định, có
sức lao động và bị mất việc làm, tạm thời không có thu nhập và sẵn sàng trở lại làm
việc. Đặc điểm của chế độ hưởng BHTN là chế độ ngắn hạn chỉ có thể hỗ trợ cho
người thất nghiệp trong một thời gian nhất định giúp họ có thể sớm tìm được việc
làm và quay trở lại thị trường lao động.
Ba là, Hoạt động của BHTN bao gồm việc thu chi trả trợ cấp thất nghiệp và
thực hiện các biện pháp nhằm đưa người lao động có việc làm trở lại. Như vậy
ngoài việc đăng ký BHTN, kiểm tra các điều kiện của người lao động trước khi chi
trả trợ cấp bảo hiểm thất nghiệp. Tư vấn giới thiệu việc làm cho người lao động bị
thất nghiệp, tư vấn đào tạo nghề lại, đào tạo nghề mới cho người bị thất nghiệp.
Phối kết hợp với BHXH để giải quyết kịp thời cho người hưởng trợ cấp BHTN giúp
người lao động bị thất nghiệp sớm trở lại thị trường lao động.
Bốn là, Việc thực hiện quản lý đối tượng bảo hiểm thất nghiệp rất khó khăn
và phức tạp. Sở dĩ doanh nghiệp không khai báo trung thực về thực trạng của người
lao động người lao động và doanh nghiệp chưa hiểu hết về quyền và nghĩa vụ khi
hưởng chế độ BHTN. Do vậy để xác định chính xác tỉ lệ bị thất nghiệp hàng năm
cho nhà nước. BHTN chia sẻ gánh nặng ngân sách và ổn định tình hình chính trị xã
hội khi tình trạng thất nghiệp xảy ra, thu hút đầu tư để xây dựng phát triển đất nước.
Sở dĩ như vậy bởi thực hiện BHXH là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính
thông qua việc đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động và sự hỗ
trợ của nhà nước, nhằm hỗ trợ cho người lao động trong thời kỳ họ bị mất việc làm
gián đoạn công việc, tạo điều kiện cho họ tìm việc làm mới trong thị trường lao
động. Mặt khác khi có trợ cấp thất nghiệp, giảm thiểu được chi phí ngân sách, giảm
thiểu các tệ nạn xã hội, tội phạm do nguyên nhân thất nghiệp gây ra. Bên cạnh đó
7
khi tham gia BHTN thì người lao động đã có phương án dự phòng khi họ bị mất
việc làm, giúp cho người lao động an tâm trong lao động sản xuất nâng cao hiệu quả
trong lao động, thúc đẩy xã hội phát triển và vấn đề an sinh xã hội. Có thể thấy
BHTN là 1 chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế và phát triển đất nước.
1.2. Nội dung pháp luật hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp
1.2.1. Đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp
BHTN được thực hiện từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 và áp dụng bắt buộc
đối với người lao động và người sử dụng lao động1 (theo điều 43 luật việc làm năm
2013) có hai 2 nhóm đối tượng sau đây:
* NLĐ: Là công dân Việt Nam đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và
có nhu cầu làm việc, bắt buộc tham gia BHTN khi giao kết hợp đồng lao động hoặc
hợp đồng làm việc với người sử dụng lao động quy định tại điểm 2 mục này:
- HĐLĐ, HĐLV không xác định thời hạn;
- HĐLĐ, HĐLV xác định thời hạn;
- Hợp đồng theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ
3 tháng đến dưới 12 tháng.
Trong trường hợp người lao động giao kết và đang thực hiện nhiều hợp đồng
lao động quy định tại khoản này thì người lao động và người sử dụng lao động của
hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
thử nghiệm để có thể thực hiện hiệu quả hơn trong những năm tiếp theo; sau 5 năm
thực hiện chế độ BHTN tại Việt Nam đã cho thấy được sự ưu việt cũng như vai trò
to lớn của BHTN đối với NLĐ, NSDLĐ và nhà nước, đồng thời trong quá trình
triển khai thực hiện chúng ta cũng đã nhận thấy các ưu điểm, nhược điểm của chế
độ BHTN hiện hành để rút ra được các kinh nhiệm thực tiễn. Việc đưa chính sách
BHTN vào trong luật việc làm năm 2013 là một bước tiến lập pháp mới. Trong luật
BHTN năm 2013 đã mở rộng hơn đối tượng tham gia BHTN, theo đó người lao
động làm việc theo HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời
hạn từ 03 tháng đến dưới 12 tháng cũng phải tham gia BHTN. Việc mở rộng phạm
vi đối tượng tham gia BHTN này của Luật việc làm đã mở thêm cơ hội cho NLĐ
tham gia đóng BHTN và được hưởng TCTN trong trường hợp bị mất việc làm, gián
đoạn công việc. Trên thực tế người lao động làm theo mùa vụ hoặc làm việc có thời
hạn có nguy cơ mất việc làm khá cao bởi lẽ thời gian, việc làm của họ không mang
tính lâu dài bất ổn định. Có thể thấy việc điều chỉnh lại đối tượng tham gia BHTN
của luật việc làm là phù hợp với tình hình diễn biến của thị trường lao động.
9
Tại khoản 1 điều 43 Luật việc làm còn quy định trong trường hợp người lao
động giao kết và đang thực hiện nhiều HĐLĐ thuộc đối tượng áp dụng BHTN thì
người lao động và người sử dụng lao động của HĐLĐ giao kết đầu tiên có trách
nhiệm tham gia BHTN. Quy định này tạo thêm cơ chế linh hoạt, dễ dàng cho cơ
quan BH xác định đúng đối tượng phải đóng BHTN.
Bên cạnh việc quy định các đối tượng phải tham gia BHTN thì Luật việc làm
còn quy định các trường hợp NLĐ không thuộc đối tượng tham gia BHTN. (tại
khoản 2 điều 43 luật việc làm năm 2013). Quy định này phù hợp với thực tiễn và
thông lệ quốc tế. Theo quy định của ILO về người thất nghiệp thì không phải bất kỳ
người nào không có việc làm cũng được xếp vào trường hợp là NLĐ thất nghiệp mà
chỉ có những người "trong độ tuổi lao động", có khả năng lao động, đủ sức khỏe, có
nhu cầu làm việc đang không có việc làm thì mới được coi là người thất nghiệp.
Đây cũng là điều cần được trao dổi thêm.
1.2.2. Các chế độ hưởng
Các chế độ BHTN được quy định tại điều 42 Luật việc làm gồm bốn chế độ:
- Trợ cấp thất nghiệp.
- Hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm.
- Hỗ trợ học nghề.
- Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc
làm cho người lao động.
1.2.2.1 Trợ cấp thất nghiệp
a) Điều kiện hưởng
Điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp được quy định tại điều 49 Luật Việc
làm. Xuất phát từ đặc trưng của BHTN nên điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm cũng
khá phức tạp hơn các chế độ khác.2
Người lao động theo quy định tại khoản 1 điều 43 của luật này đang đóng
bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện sau
đây:
11
- Người lao động chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc hợp đồng lao động, trừ
các trường hợp sau đây:
+ Người lao động đơn phương chấm dứt hợp động lao động, hợp đồng làm
việc trái pháp luật;
+ Hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
- Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24
tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác
định thời hạn; HĐLĐ, HĐLV xác định thời hạn đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ
12 tháng trở lên trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động
theo mùa vụ hoặc theo công việc có thời hạn từ 03 tháng đến dưới 12 tháng.
- Người LĐ đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại Trung tâm Dịch vụ
NLĐ thuộc điểm c khoản 1 điều 43 thì người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thất
nghiệp nếu đóng đủ 12 tháng BHTN trong thời gian 36 tháng trước khi thất nghiệp.
Còn trong luật BHXH thì người lao động sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu
đóng đủ 12 tháng BHTN trước khi thất nghiệp. Sở dĩ có sự khác biệt này là do trong
luật việc làm đã mở rộng thêm đối tượng là những người lao động làm việc theo
hợp đồng mùa vụ hoặc một công việc xác định có thời hạn từ 03 đến dưới 12 tháng
(điểm c khoản 1 điều 43 luật việc làm). Đây là nhóm đối tượng không có việc làm
ổn định và dễ lâm vào tình trạng thất nghiệp nhất, chính vì vậy việc kéo dài khoảng
thời gian đóng đủ 12 tháng BHTN trước khi nhóm thất nghiệp này lâm vào tình
trạng thất nghiệp là hoàn toàn hợp lý đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đối tượng
tham gia BHTN
- Thứ hai, nếu trong luật việc làm NLĐ chỉ cần đăng ký thất nghiệp với tổ
chức BHTN để được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì trong luật việc làm, NLĐ muốn
được hưởng trợ cấp thất nghiệp thì cần phải nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp
trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày chấm dứt HĐLĐ hoặc HĐLV. Quy định này của
luật việc làm hợp lý hơn bởi một mặt giúp các cơ quan lắm bắt chính xác được tình
hình thất nghiệp của người lao động thông qua hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất
nghiệp qua đó sẽ chi trả trợ cấp thất nghiệp kịp thời cho người lao động, mặt khác
nâng cao được ý thức cho người lao động trong việc chủ động thực hiện các thủ tục
về BHTN nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Thứ ba, luật việc làm đã loại trừ 1 số trường hợp không thuộc đối tượng
hưởng trợ cấp thất nghiệp (điểm a,b khoản 1 và điểm a,b,c,d,đ,e khoản 4 điều 49
Luật việc làm), sự thay đổi mang tính sàng lọc này của luật việc làm so với luật
BHXH 2006 nhằm đảm bảo cho việc công bằng khi tri trả trợ cấp thất nghiệp cho
13
NLĐ, hạn chế được việc chi trả trợ cấp tràn lan dẫn đến hoạt động kém hiệu quả của
quỹ BHTN ảnh hưởng đến người tham gia và thụ hưởng bảo hiểm thất nghiệp.
b) Mức hưởng
gian hưởng trợ cấp tương ứng5 thì luật việc làm năm 2013 chỉ chia khung đầu tiên,
sau đó sau đó tăng dần thời gian hưởng trợ cấp tương ứng với thời gian đóng BHTN
tăng thêm đủ 12 tháng so với mức liền kề như đã nêu. Nghị định 28/2015/NĐ-CP
cũng đã bổ sung quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Việc làm về BHTN;
Người lao động có thời gian đóng BHTN trên 36 tháng thì những tháng lẻ chưa giải
quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được bảo lưu làm căn cứ để tính thời gian hưởng
trợ cấp thất nghiệp cho lần hưởng trợ cấp thất nghiệp tiếp theo khi đủ điều kiện
hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định. Cách xác định thời gian hưởng trợ cấp thất
nghiệp đã đảm bảo quyền lợi của người lao động và có tính hợp lý hơn phù hợp
hơn.
d, Tạm dừng trợ cấp thất nghiệp
Tạm dừng trợ cấp thất nghiệp được quy định ở khoản 1 điều 53 của Luật
Việc làm. Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất
nghiệp khi không thông báo về việc tìm kiếm việc làm hàng tháng theo quy định tại
Điều 52 của Luật này. Sự thay đổi so với luật BHXH về vấn đề này ở chỗ Luật việc
làm đã bỏ đi trường hợp người đang hưởng thất nghiệp bị tạm giam sẽ bị dừng
hưởng trợ cấp thất nghiệp. NLĐ trong tình trạng thất nghiệp sẽ tiếp tục được hưởng
trợ cấp thất nghiệp vào tháng tiếp theo nếu họ vẫn trong khoảng thời gian được trợ
cấp thất nghiệp và họ tiếp tục thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc.
làm của mình với cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Thời gian bị tạm ngừng hưởng
trợ cấp thất nghiệp sẽ không được truy lĩnh hưởng trợ cấp thất nghiệp. Quy định này
giúp cơ quan quản lý lao động có thể quản lý chặt chẽ được tình hình việc làm của
người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, nâng cao ý thức cho họ trong việc tìm kiếm
việc làm cũng như đảng bảo được công bằng trong việc chi trả trợ cấp thất nghiệp.
đ, Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
trong các trường hợp được quy định tại khoản 3 điều 53 Luật Việc làm và theo Nghị
định 28/2015/NĐ-CP như sau; i) Hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quyết
15
trong nước. Trường hợp học tập ở nước ngoài thì ngày người lao động được xác
16
định đi học tập có thời hạn 12 tháng trở lên là ngày xuất cảnh theo quy định của
pháp luật về xuất, nhập cảnh. x) Bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm
pháp luật bảo hiểm thất nghiệp; ngày mà người lao động được xác định bị xử phạt
vi phạm hành chính nêu trên là ngày người lao động bị xử phạt theo quyết định của
cơ quan có thẩm quyền. xi) Chết; Ngày xác định người lao động chết là ngày ghi
trong giấy chứng tử. xii) Chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc là ngày bắt đầu thực hiện biện pháp sử lý hành
chính được ghi trong quyết định của cơ quan có thẩm quyền. xiii) Bị tòa án tuyên
bố mất tích; Ngày mà người lao động mất tích được xác định trong quyết định của
tòa án. iix) Bị tạm giam chấp hành hình phạt tù; Ngày mà người lao động được xác
định bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù là ngày bắt đầu thực hiện quyết định tạm
giam, chấp hành hình phạt tù của cơ quan có thẩm quyền;
Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất
nghiệp theo quy định tại các điểm ii,iii, vi và vii khoản 1 điều này, người lao động
phải thông báo với Trung tâm Dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
theo mẫu do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định và kèm
theo giấy tờ có liên quan đến việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp (bản chụp),
trường hợp gửi theo đường bưu điện thì tính ngày ghi trên dấu bưu điện.
Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp
thất nghiệp trong các trường hợp quy định tại khoản 1 điều này thì trung tâm dịch
vụ việc làm nơi người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp trình Giám đốc Sở
Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất
nghiệp của người lao động. Quyết định về việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
được trung tâm dịch vụ việc làm gửi 1 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thực
hiện việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp đối với người lao động; 01 bản đến
người lao động. Quyết định về việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp thực hiện
việc làm. Tuy nhiên đó chỉ là biện pháp khắc phục tạm thời, biện pháp khắc phục
lâu dài chính là của BHTN là giới thiệu việc làm lại, việc làm mới cho người lao
động bị thất nghiệp tái hòa nhập sớm trở lại thị trường lao động thông qua việc tư
vấn vấn, giới thiệu việc làm miễn phí cho NLĐ. Việc giới thiệu việc làm do các
Trung tâm Dịch vụ việc làm là cầu nối trực tiếp kết nối cho người lao động đến với
các nhà tuyển dụng thông qua sàn giao dịch việc làm.
18