Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp theo luật việc làm 2013 - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN NGỌC HUYỀN
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
THEO LUẬT VIỆC LÀM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60380108
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN MINH NGỌC

Hà Nội - 2017


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP 7
1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 7
1.1.1. Khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp 7
1.1.2. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp 9
1.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp 10
1.3. Khung pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp 13
1.3.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp 13
1.3.2. Điều kiện, mức trợ cấp và thời gian hưởng trợ cấp bảo hiểm thất
nghiệp 14
1.3.3. Hồ sơ, thủ tục tham gia, hưởng BHTN 19

3.3.1. Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thất
nghiệp…………………………..73
3.3.2. Nâng cao hiệu quả thực hiện bảo hiểm thất nghiệp 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 83
KẾT LUẬN 84


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Ở tất cả các quốc gia trên thế giới, vấn đề việc làm là một vấn đề vô cùng
quan trọng. Nó không chỉ đơn thuần là một vấn đề xã hội mà còn mang đậm tính
chính trị và kinh tế, bởi một quốc gia có bền vững và phát triển hay không phụ
thuộc rất lớn vào yếu tố việc làm trong xã hội mà quốc gia đó đang tồn tại.
Trong vấn dề lớn “việc làm” ấy, “thất nghiệp” lại càng là một phép toán nan giải
khi nó đã và đang trở thành một vấn nạn của nhiều quốc gia trên thế giới, trong
đó có Việt Nam. Vì vậy, bảo hiểm thất nghiệp trở thành một chính sách cần thiết
trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Trước đây, chính sách bảo hiểm thất
nghiệp lần đầu được xây dựng trong BLLĐ 2002, tuy nhiên tới khi Luật Bảo
hiểm xã hội ra đời năm 2006, bắt đầu được thực hiện từ ngày 01/01/2009, pháp
luật về bảo hiểm thất nghiệp mới thực sự được quy định cụ thể, chi tiết. Có thể
nói, đây chính là bước đầu hết sức tích cực mà theo đó, Nhà nước tiến hành
những biện pháp hữu hiệu để bảo hiểm thất nghiệp phát huy được vai trò và ý
nghĩa quan trọng của mình đối với vấn đề “thất nghiệp” trong xã hội. Sau 4 năm
thực hiện, những quy định về chính sách bảo hiểm thất nghiệp này đã phần nào
đáp ứng được nhu cầu của người lao động, bộc lộ sự phù hợp với điều kiện kinh
tế-xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng không thể tránh khỏi những
vướng mắc, bất cập còn tồn tại. Vì thế, chế độ bảo hiểm thất nghiệp đã được
hoàn thiện một bước đáng kể trong Luật Việc làm 2013, thể hiện cái nhìn mới
của Nhà nước, của các nhà làm luật đối với vấn đề này, đặt bảo hiểm thất nghiệp
gắn liền với “việc làm” thay vì chỉ nhìn nhận chế độ bảo hiểm này dưới góc độ



nghiệp của Tổ chức Lao động Quốc tế, đồng thời chỉ ra những nội dung cần
thiết của chế độ bảo hiểm thất nghiệp khi được triển khai ở Việt Nam.
Năm 2006, Trường Đại học Luật Hà Nội có đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện
pháp luật về bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” do TS. Nguyễn Thị Kim Phụng làm
chủ nhiệm, trong đó đề cập đến bảo hiểm thất nghiệp là nội dung cần hoàn thiện
trong hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Năm 2008, trong Luận án tiến sĩ Luật học “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho
việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam”, tác giả
Nguyễn Hiền Phương cũng đề cập đến bảo hiểm thất nghiệp như là một chế độ
của bảo hiểm xã hội bắt buộc.
Năm 2010, khóa luận tốt nghiệp Luật kinh tế “Thực trạng thu nộp quỹ bảo
hiểm thất nghiệp và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu nộp quỹ bảo
hiểm thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam” của tác giá Nguyễn Thu Trang đã đề
cập đến thực trạng thu nộp quỹ bảo hiểm thất nghiệp và đưa ra một số giải pháp
nâng cao hiệu quả Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Năm 2012, tác giả Ngô Thị Thu Hoài trong luận văn thạc sĩ luật học
“Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và thực tiễn áp dụng ở Nghệ An” cũng đã đề
cập đến một số thực trạng thi hành pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp trong
phạm vi của tỉnh Nghệ An.
Năm 2013, luận văn thạc sĩ luật học “Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
sau 04 năm thực hiện – Những vấn đề đặt ra và giải pháp hoàn thiện” của tác giả
Trần Vân Khánh đã đề cập đến thực trạng pháp luật BHTN theo Luật BHXH sau
04 năm thực hiện, từ đó thấy được những ưu nhược điểm và đưa ra những giải
pháp hoàn thiện những nhược điểm đó.
Cũng cùng năm này, tác giả Ngô Thị Thùy đã đưa ra những giải pháp
hoàn thiện pháp luật BHTN hiện hành trong Luận văn thạc sĩ luật học “Hoàn



khái niệm, các nguyên tắc, nội dung cơ bản của pháp luật bảo hiểm thất nghiệp
hiện hành để đánh giá hệ thống bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta.
- Nghiên cứu các quy định cơ bản của bảo hiểm thất nghiệp hiện hành và
thực trạng thực hiện các quy định đó để đánh giá được những mặt tích cực mặt
hạn chế và từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật bảo hiểm
thất nghiệp ở Việt Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về bảo hiểm
thất nghiệp được quy định trong Luật Việc làm 2013 (có hiệu lực từ
01/01/2015), từ đó đánh giá những ưu và nhược điểm của những quy định này,
nó có gì tiến bộ hơn so với những quy định về chế độ BHTN trước đây, đồng
thời lý giải việc tách các quy định về chế độ này khỏi Luật BHXH và quy định
trong Luật Việc làm.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin về duy vật lịch sử và duy
vật biện chứng được sử dụng để triển khai các nội dung hoàn thiện pháp luật của
luận văn, cụ thể, các quy định pháp luật hiện hành về chế độ BHTN được nhìn
nhận trong sự phát triển và trong mối tương quan với các vấn đề có liên quan
khác, chẳng hạn như việc làm, nguồn nhân lực lao động, công tác quản lý lao
động,…
- Phương pháp logic và phân tích được sử dụng để đánh giá các quy định
pháp luật hiện hành về chế độ BHTN, cụ thể là tác giả đã sử dụng các phương
pháp này để triển khai Chương 2 của Luận văn.


- Đồng thời, tác giả cũng sử dụng phương pháp tổng hợp để nghiên cứu
các quy định chung hay còn gọi là khung pháp luật về chế độ BHTN theo pháp
luật quốc tế và nghiên cứu lược sử các quy định về chế độ BHTN trong hệ thống
pháp luật Việt Nam.

Chương 1
MỘT SỐ VÁN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP
1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
1.1.1. Khái niệm thất nghiệp và người thất nghiệp
Điều 20 Công ước số 102 (1952) của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã
đưa khái niệm thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là hiện tượng người lao động
bị ngừng thu nhập do không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong
trường hợp người đó có khả năng làm việc và sẵn sàng làm việc”. Định nghĩa
này đã được rất nhiều quốc gia tán thành và đưa vào áp dụng, bởi nó được xây
dựng dựa trên căn cứ được cho là căn bản nhất của hiện tượng thất nghiệp, đó là
việc “bị ngừng thu nhập” do không có việc làm của người lao động. Định nghĩa
cũng nhấn mạnh rằng, một người chỉ bị coi là thất nghiệp nếu họ không có khả
năng tìm được việc làm thích hợp trong khi họ vẫn có khả năng làm việc và sẵn
sàng làm việc để tạo ra thu nhập.
Trên cơ sở khái niệm “thất nghiệp” mà ILO đưa ra, Văn phòng Lao động
Quốc tế (BIT) đã đưa ra khái niệm về người thất nghiệp như sau: “Người thất
nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không có
việc làm. Họ có thể là người chưa có việc làm hoặc có việc làm nhưng đã thôi
việc và đang cần tìm việc làm có thu nhập”.
Có thể thấy đây là một định nghĩa rõ ràng, cho thấy không phải bất cứ
người nào không có việc làm cũng được xếp vào nhóm “người thất nghiệp” mà
phải có những điều kiện nhất định như về độ tuổi, khả năng lao động. Theo đó,
người không có việc làm nhưng phải đang ở trong độ tuổi lao động và có khả
năng lao động mới được xếp vào nhóm “người thất nghiệp”. Như vậy, định
nghĩa này đã loại trừ những đối tượng khác không có việc làm nhưng không ở


trong độ tuổi lao động như người già, trẻ em chưa đến tuổi lao động và người
không có khả năng lao động như người tàn tật,… Đồng thời, người thất nghiệp

quản lý nguồn lao động Việt Nam, đồng thời cũng là để thắt chặt một cách hợp
lý các đối tượng hưởng BHTN vào thời điểm Luật BHXH 2006 ra đời – lần đầu
tiên chúng ta triển khai thực hiện chế độ BHTN.
1.1.2. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp
Như đã đề cập, tình trạng thất nghiệp đã và đang trở thành một vấn đề hết
sức nhức nhối, không chỉ ảnh hưởng đến bản thân, gia đình người thất nghiệp
mà còn ảnh hưởng tới nền kinh tế của một quốc gia. Vì vậy, các quốc gia luôn
tìm kiếm các giải pháp trợ giúp cho những người thất nghiệp. Một trong những
biện pháp trợ giúp đó là chế độ BHTN.
Khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm 2013 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về
“BHTN” như sau: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu
nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học nghề,
duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp”.
Nhìn nhận từ góc độ kinh tế - xã hội, BHTN là một biện pháp nhằm hỗ trợ
người lao động bị mất việc làm, giúp ổn định tạm thời cuộc sống, học nghề và
tìm kiếm việc làm mới thông qua việc tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung do người
lao động, người sử dụng lao động đóng góp và có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Do đó, BHTN chính là giải pháp nhằm khắc phục hậu quả của tình trạng thất
nghiệp đối với người tham gia BHTN và góp phần điều tiết sự chuyển dịch lao
động trong nền kinh tế thị trường.
Dưới góc độ pháp lý, pháp luật BHTN là tổng hợp những quy phạm pháp
luật quy định về việc thu nộp BHTN, chi trả trợ cấp thất nghiệp, đưa người thất


nghiệp trở lại làm việc, quản lý quỹ BHTN và các quy phạm pháp luật điều
chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các bên tham gia vào quá trình thực hiện chế
độ BHTN cho người lao động.
BHTN có những điểm đặc trưng thể hiện đúng bản chất riêng của nó, cụ
thể là:
Thứ nhất, BHTN xuất phát từ quan hệ lao động nhưng khi thực hiện lại

nhập”. Đây là một thực tế mà chúng ta cần phải cố gắng khắc phục để có thể
thực hiện được chế độ BHTN một cách hiệu quả.
1.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
BHTN đóng vai trò hết sức cần thiết ở mỗi quốc gia bởi những lý do cơ
bản sau đây:
- Thứ nhất, chế độ BHTN được xây dựng chính là cơ sở pháp lý để người
lao động được đảm bảo trợ cấp về vật chất khi thất nghiệp, giúp cho họ phần nào
ổn định được cuộc sống để có thể trở lại làm việc khi tìm được việc làm mới.
Bất cứ người lao động nào cũng mong muốn có được một công việc, một
mối quan hệ lao động ổn định và bền vững để có được khoản thu nhập ổn định
phục vụ cho cuộc sống hàng ngày của bản thân và gia đình. Tuy nhiên, không
phải lúc nào mối quan hệ lao động – việc làm cũng diễn ra một cách suôn sẻ. Lý
do này hoặc lý do khác, khách quan hoặc chủ quan có thể sẽ khiến cho họ “đánh
mất” đi việc làm đã tìm kiếm được trước đó, lúc này họ không còn thu nhập để
có thể đảm bảo được cuộc sống ở mức tối thiểu, họ không chỉ rơi vào khó khăn
về kinh tế mà còn phải chống chọi với sự khốn khó về mặt tinh thần. Cuộc sống
của người lao động bị mất việc làm sẽ trở nên hết sức nặng nề về tất cả mọi mặt
nếu như không có khoản trợ cấp dưới tên “BHTN”. BHTN giúp cho người thất


nghiệp có thể phần nào ổn định được cuộc sống vật chất và gánh nặng về mặt
tinh thần. Có ổn định được cuộc sống vật chất và tinh thần người thất nghiệp
mới có cơ hội để tìm việc và tiếp tục tham gia thị trường lao động. ILO cũng đã
đưa ra vấn đề đảm bảo cuộc sống cho người lao động bị mất việc trong các công
ước và khuyến nghị của mình. Điều này sẽ được đề cập đến ở phần sau của luận
văn.
- Thứ hai, BHTN góp phần đảm bảo quyền con người và quyền có việc
làm của người lao động.
Có thể nói, sự ra đời của chế độ BHTN đã góp phần không nhỏ trong việc
đảm bảo quyền con người của người lao động. Người lao động có quyền được

chế độ BHTN, khả năng tìm kiếm việc làm mới của họ sẽ trở nên khó khăn hơn
rất nhiều bởi các yếu tố khách quan lẫn chủ quan. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng
người thất nghiệp bị lâm vào tình trạng “đường cùng”, từ đó sẽ nảy sinh ra nhiều
vấn đề xã hội phức tạp như các tệ nạn xã hội, trộm cắp, cờ bạc,… làm ảnh
hưởng không nhỏ đến đời sống của những người xung quanh. BHTN với chức
năng không chỉ hỗ trợ về thu nhập mà còn tạo điều kiện để người thất nghiệp có
thể dễ dàng hơn trong việc tìm công việc mới phù hợp để tạo ra thu nhập, đảm
bảo cuộc sống cho bản thân, gia đình và xã hội.
1.3. Khung pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
1.3.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp
Xác định đối tượng tham gia, hay còn gọi là đối tượng áp dụng BHTN là
một trong những vấn đề hết sức quan trọng để có thể thực hiện chế độ BHTN,
thường được xem xét trên các yếu tố: nhu cầu bảo vệ, khả năng tài chính của
người tham gia BHTN và khả năng quản lý của nhà nước thông qua tổ chức


BHTN.
ILO đã có nhiều Công ước quy định rõ đối tượng áp dụng BHTN. Điều 2
Công ước số 44 “Công ước về bảo đảm tiền trợ cấp cho những người thất nghiệp
không tự nguyện” ban hành năm 1934 quy định áp dụng BHTN cho tất cả những
người làm việc được trả tiền công hoặc tiền lương. Đây được coi là nguyên tắc
chung xác định đối tượng cần được bảo vệ. Tuy nhiên, Điều 2 của Công ước này
cũng chỉ ra rằng khi cần thiết, pháp luật của mỗi quốc gia có thể quy định những
ngoại lệ đối với những người giúp việc gia đình, làm việc tại nhà, những người
làm công ăn lương trong các hệ thống dịch vụ công ích của Nhà nước, những
người lao động chưa đến tuổi quy định, những người đã đến tuổi nghỉ hưu, có
thu nhập đảm bảo tham gia BHTN.
Như vậy, theo Công ước nêu trên, đối tượng tham gia bảo hiểm thất
nghiệp là những người làm công ăn lương và tùy vào điểu kiện kinh tế – xã hội
của mỗi quốc gia có thể mở rộng thêm đối tượng.

tượng hưởng BHTN với đối tượng hưởng BHXH khác, cụ thể là, chỉ trong
trường hợp người thất nghiệp có năng lực làm việc mới được hưởng BHTN, còn
nếu họ không còn năng lực làm việc hay mất năng lực làm việc do hết tuổi lao
động hoặc gặp tai nạn dẫn đến mất khả năng lao động thì sẽ hưởng chế độ bảo
hiểm khác tùy quy định pháp luật của mỗi quốc gia. Ngoài ra, người thất nghiệp
cũng phải “sẵn sàng làm việc” chứ không phải không muốn làm việc và không
tích cực tìm kiếm việc làm.
- Thứ hai, có đăng ký tìm việc tại một phòng tìm việc.
Việc đăng ký tìm việc như vậy tạo điều kiện để các cơ quan chức năng hỗ
trợ tìm việc làm cho người thất nghiệp đồng thời giúp cơ quan có thẩm quyền dễ


dàng thống kê số lượng người thất nghiệp để điều chỉnh chính sách BHTN một
cách hợp lý, đúng đối tượng. Ví dụ, ở Nhật, việc đăng ký phải được làm thường
xuyên 4 tuần 1 lần tại cơ quan bảo đảm việc làm quốc gia.
- Thứ ba, có sổ BHTN.
Sổ BHTN là cơ sở pháp lý để chứng nhận người thất nghiệp có tham gia
đóng BHTN trong một thời gian nhất định và đủ thời gian tối thiểu (còn được
gọi là thời kỳ dự bị) theo quy định. Điều kiện này nhằm tránh sự lạm dụng của
người thất nghiệp đối với chế độ BHTN. Trong thời gian tối thiểu được quy định
theo pháp luật, người lao động tham gia đóng góp cho quỹ BHTN trước khi thất
nghiệp. Điều 6 Khuyến nghị số 41 hướng dẫn “Thời kỳ dự bị thường không vượt
quá 26 tuần lễ làm việc… trong thời gian 12 tháng trước khi xin hưởng trợ cấp
BHTN”. Luật BHTN Ba Lan quy định thời gian này là 180 ngày trong 12 tháng
cuối cùng trong quan hệ lao động, trong khi Cộng hòa Pháp quy định là 03 tháng
đóng BHTN trong 12 tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp.
- Thứ tư, việc thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động.
Người lao động phải chứng minh bị thất nghiệp không do lỗi của bản
thân. Các quốc gia trên thế giới đều đưa ra các tiêu chí xác định trường hợp mất
quyền hưởng trợ cấp BHTN với các lý do như tự ý bỏ việc không có lý do chính

trợ cấp thất nghiệp được hình thành trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng của
người lao động.
Khi xác định mức trợ cấp cần phải lưu ý nếu mức trợ cấp quá thấp sẽ
không đủ giải quyết nhu cầu tối thiểu của người thất nghiệp, dẫn đến kết quả là
cuộc sống của họ sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhưng nếu mức trợ cấp BHTN cao
ngang bằng tiền lương trước khi thất nghiệp sẽ tạo tâm lý ỷ lại, không chịu làm


việc của người thất nghiệp để kéo dài thời gian trợ cấp, gây thiệt hại cho quỹ
BHTN và ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế. Do vậy, về nguyên tắc, mức trợ cấp
BHTN phải thấp hơn mức thu nhập của người lao động khi đang làm việc nhưng
phải đảm bảo nhu cầu tối thiểu của họ.
Công ước 102 quy định mức trợ cấp thất nghiệp là tỷ lệ % so với tổng số
tiền lương của một người lao động nam giới thành niên thông thường và so với
mức phụ cấp gia đình trả cho một người lao động thất nghiệp có gánh nặng gia
đình giống như người được hưởng mẫu. Người thụ hưởng mẫu là người có vợ và
hai con được hưởng tỷ lệ trợ cấp thất nghiệp là 45%. Tùy theo điều kiện của
từng quốc gia, mức trợ cấp thất nghiệp này cũng được quy định không giống
nhau.
Ví dụ, tại Nhật mức trợ cấp BHTN là từ 60-80% mức lương tiền công
ngày và tỷ lệ này sẽ cao hơn đối với người có thu nhập thấp; 50-80% cho người
thất nghiệp trong độ tuổi từ 60 đến 64. Khoản trợ cấp cũng phụ thuộc vào độ dài
của thời gian đóng bảo hiểm, tuổi tác, tương lai việc làm,… Đối với Hungari,
mức trả trợ cấp BHTN lại được quy định giảm dần theo thời gian thất nghiệp:
“Người thất nghiệp nhận được 70% lương thực lĩnh cho năm đầu tiên và 50%
cho năm thứ hai”. Một số nước khác lại căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh gia đình
để xác định mức hưởng trợ cấp như Bỉ, Phần Lan,…1
1.3.2.3. Thời gian hưởng trợ cấp BHTN
Theo Khuyến nghị số 44 của ILO, thời gian trả trợ cấp dài hay ngắn là tùy
thuộc vào khả năng tài chính của quỹ BHTN. Thời gian này được kéo dài nếu

năm cũng chỉ nhận được trợ cấp thất nghiệp tối đa là 24 tháng.2
Về thời gian hoãn hưởng trợ cấp BHTN (thời gian từ khi người thất


nghiệp nộp đơn xin hưởng trợ cấp đến khi họ thực sự nhận được trợ cấp) với
mục đích giảm bớt phần nào gánh nặng tài chính cho quỹ BHTN đối với các
trường hợp tạm ngừng việc ngắn hạn. Theo Khuyến nghị số 44 của ILO, thời
gian này không được vượt quá 8 ngày cho mỗi thời kỳ thất nghiệp.
1.3.3. Hồ sơ, thủ tục tham gia, hưởng BHTN
Việc tham gia BHTN của người lao động phải được theo dõi bằng sổ
BHTN được coi là hồ sơ tham gia BHTN. Như đã đề cập, sổ BHTN là cơ sở
pháp lý chứng nhận việc tham gia BHTN của người lao động, trong đó ghi nhận
mức đóng BHTN cũng như thời gian đóng BHTN của người lao động.
Để được hưởng chế độ BHTN, người lao động tạm thời bị mất việc cần
phải đáp ứng các điều kiện hưởng BHTN được quy định cụ thể theo pháp luật.
Theo đó, người lao động tạm thời bị mất việc cần phải nộp hồ sơ để được xem
xét việc hưởng BHTN. Theo quy định của ILO thì người lao động bị mất việc
phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm ở cơ quan lao động có thẩm
quyền do Nhà nước quy định. Ở mỗi quốc gia, việc đăng ký này lại được quy
định khác nhau. Ví dụ như, ở Nhật, người thất nghiệp phải đăng ký tại cơ quan
bảo đảm việc làm quốc gia và việc đăng ký phải được làm thường xuyên 4 tuần
một lần. Hồ sơ hưởng BHTN sẽ được nộp cùng lúc với thời gian đăng ký thất
nghiệp, bao gồm đơn xin hưởng BHTN, sổ BHTN và giấy tờ chứng minh việc
thất nghiệp không phải lỗi của người lao động.
1.3.3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp
1.3.3.1. Trách nhiệm đóng quỹ BHTN
Theo nguyên tắc các bên cùng chịu trách nhiệm, quỹ BHTN là một quỹ
tiền tệ tập trung được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia quan hệ
BHTN và dùng để chi trả trợ cấp cho người lao động khi bị thất nghiệp theo quy



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status