BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
--------/--------
-----/-----
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ HỒNG NHUNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI - TỪ THỰC TIỄN
THỊ XÃ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
CHUYÊN NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Mã số: 60 38 01 02
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HIẾN PHÁP
VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI – 2017
Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN THỊ THU HÀ
Phản biện 1:
chính cấu thành hệ thống An sinh xã hội (ASXH), là chính sách xã hội quan
trọng của mỗi nước. Tuy nhiên, rất khó có một khái niệm chung về BHXH được
tất cả các quốc gia thống nhất sử dụng bởi quan niệm về vấn đề này như thế nào
phụ thuộc vào nhận thức của người dân, của Nhà nước, của tập quán lựa chọn
và khả năng quản lý của mỗi loại rủi ro... trong từng nước. Vì vậy, trên bình
diện quốc tế, khái niệm chung của ILO về ASXH cũng được sử dụng trong lĩnh
vực BHXH. Theo đó, BHXH có thể được hiểu khái quát là sự bảo vệ của xã hội
đối với các thành viên của mình thông qua các biện pháp cộng đồng, nhằm
chống lại các khó khăn về kinh tế, xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây
ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và
chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con
(theo Công ước 102, 1952).
Năm 2014, Quốc hội khóa XIII đã thông qua Luật BHXH và hàng loạt
các văn bản hướng dẫn thi hành; có thể khẳng định pháp luật BHXH đã được
xây dựng tương đối hoàn chỉnh, đầy đủ và có cơ sở pháp lý cao nhất để triển
khai thực hiện trong đời sống xã hội.
Có thể thấy BHXH là một chính sách xã hội phức tạp, lại khá mới mẻ
trong nền kinh tế thị trường mới định hình ở Việt Nam, nên việc thực hiện pháp
luật về BHXH không tránh khỏi những hạn chế, tồn tại nhất định trên các địa
phương trong cả nước trong đó có địa bàn tỉnh Thái Nguyên nói chung và thực
tiễn địa bàn thị xã Sông Công nói riêng như: Việc phát triển đối tượng tham gia
BHXH, nhất là khu vực dân doanh còn quá thấp, chưa đáp ứng yêu cầu và
tương xứng với tiềm năng của tỉnh; công tác phối hợp giữa BHXH với các cơ
quan chức năng trong việc thực hiện chính sách BHXH theo quy định của Luật
BHXH còn nhiều bất cập; chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực
BHXH còn quá nhẹ, tính cưỡng chế của pháp luật chưa nghiêm; mức phạt lãi
chậm nộp BHXH thấp so với lãi suất ngân hàng, nên tình trạng chậm đóng, nợ
đọng, tham gia không đầy đủ, hoặc không tham gia BHXH đang xảy ra; nhận
ở khu vực kinh tế tư nhân, những khó khăn trong đảm bảo nguồn thu BHXH
cũng như quản lý nguồn thu trong thời gian từ năm 1997 - 2004 và đưa ra các
giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý thu bảo hiểm xã hội tại thành phố Hà
Nội.
- Đỗ Minh Cương, Mạc Văn Tiến: “Góp phần đổi mới và hoàn thiện
chính sách bảo hiểm xã hội ở nước ta hiện nay”, sách tham khảo, NXB Chính
trị Quốc gia, năm 1996. Tác giả phân tích những bất cập, tồn tại của chính sách
bảo hiểm xã hội so với tốc độ phát triển kinh tế ở nước ta và đề xuất những giải
pháp góp phần đổi mới và hoàn thiện chính sách bảo hiểm ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
- Phạm Duy Đỉnh: Nghiên cứu “Dịch vụ BHXH Hà Nội”. Luận văn thạc
sỹ kinh tế, Học Viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2006. Luận văn nêu
rõ dịch vụ BHXH là một loại hình dịch vụ đặc thù. Những thành công phát triển
dịch vụ BHXH của Hà Nội và đề xuất giải pháp mở rộng dịch vụ trong giai
đoạn đến 2010.
- Trần Quang Lâm: “Bảo hiểm Y tế trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa”. Luận văn thạc sỹ kinh tế, Học Viện Chính trị quốc gia
Hồ Chí Minh, năm 2006. Luận văn nêu BHXH Việt Nam, chương trình phát
triển ngành BHXH Việt Nam đến 2010. Chương trình đề cập mục tiêu, quy
hoạch và phương hướng phát triển ngành BHXH Việt Nam trên cơ sở phân tích
dự báo xu hướng phát triển trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và gia nhập
WTO.
- Nguyễn Văn Khánh:“Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi
chính thức ở Việt Nam” Luận văn thạc sỹ, Học viện Chính trị hành chính - quốc gia
Hồ Chí Minh, năm 2010. Luận văn đề cập vấn đề bảo hiểm xã hội tự nguyện ở
Việt Nam.
- Đặng Thị Vân Khánh: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện - 5 năm thực hiện và
một số kiến nghị hoàn thiện” Luận văn thạc sỹ kinh tế, Đại học Luật Hà Nội, năm 2013.
của pháp luật về bảo hiểm xã hội trong thực tiễn.
+ Đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện cơ sở pháp luật về
bảo hiểm xã hội; các giải pháp, kiến nghị đó sẽ nhằm hoàn thiện pháp về bảo
hiểm xã hội hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là các quy định pháp luật về
bảo hiểm xã hội hiện hành và đánh giá thực trạng pháp luật về BHXH nói chung
và việc áp dụng BHXH từ thực tiễn địa bàn thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên
nói riêng. Trong đó đi sâu nghiên cứu những mặt đã làm được và những mặt
còn tồn tại của pháp luật về bảo hiểm xã hội trong giai đoạn mới hiện nay.
- Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực trạng pháp luật về bảo hiểm xã
hội ở các xã, phường, các công ty đóng trên địa bàn thị xã Sông Công, tỉnh Thái
Nguyên giai đoạn 5 năm từ năm 2012-2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, vận dụng các quan điểm,
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như phương pháp thống kê những số liệu thực tế qua các năm về các
quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã Sông Công, tỉnh Thái
Nguyên; phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh nhằm đưa ra những nhận
định, đánh giá thực trạng của pháp luật về bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã,
so sánh về đối tượng tham gia BHXH, về tình hình quản lý thu, chi BHXH, về
thực trạng chấp hành, áp dụng, sử dụng pháp luật về BHXH qua các năm để có
Thanh tra nhà nước về lao động là cơ quan chuyên trách có chức năng kiểm
tra, giám sát và xử phạt hành chính đối với những đối tượng có hành vi vi phạm
pháp luật BHXH. Tùy theo mức độ vi phạm và thẩm quyền quy định mà Chánh
thanh tra Bộ Lao động - Thương binh và xã hội (LĐ-TB&XH), Chánh thanh tra lao
động cấp Sở hoặc thanh tra viên lao động khi đang thi hành công vụ ra quyết định
xử lý vi phạm. Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp cũng có thẩm quyền xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực BHXH ở địa phương mình quản lý theo quy định
của pháp luật. Trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng thì sẽ bị xử lý hình sự theo
quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2009).
Tiểu kết Chương 1
Tại Chương 1, Luận văn đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung của
pháp luật về bảo hiểm xã hội; trên cơ sở đó nghiên cứu quy định pháp luật hiện
hành về khái niệm, vai trò, chủ thể, nội dung của pháp luật bảo hiểm xã hội, lần
lượt phân tích một cách hệ thống, đi từ khái quát chung về bảo hiểm xã hội, pháp
luật về bảo hiểm xã hội, là cơ sở để thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội.
Qua việc phân tích có thể thấy bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội
đặc biệt quan trọng được các nước chú trọng phát triển phù hợp với điều kiện kinh
tế - xã hội của mình và pháp luật hóa trong hệ thống pháp luật của Nhà nước.
Khẳng định rõ ở nước ta BHXH là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước được
quy định trong Hiến pháp, các văn kiện của Đảng không ngừng bổ sung và hoàn
thiện trong từng giai đoạn lịch sử của đất nước. BHXH ra đời góp phần điều hòa
mâu thuẫn giữa người lao động và chủ sử dụng lao động, đồng thời nhìn nhận vai
trò Nhà nước thông qua việc chi BHXH ổn định đời sống cho người lao động và
ổn định xã hội. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, BHXH ngày càng trở nên quan trọng trong việc góp phần đảm bảo công
bằng xã hội và phát triển xã hội một cách bền vững.
Đặc biệt trong năm 2016 có 17249 người tham gia, tăng 8038 người tương ứng
87,26% so với năm 2015.
Năm 2012, BHXH thị xã Sông Công đã tiếp nhận 1244 người hưởng chế độ
hưu trí bao gồm hưu viên chức và hưu quân đội, năm 2013 là 1498 người, năm
2014 là 1361 người, năm 2015 là 1434 người, đến năm 2016, BHXH thị xã đã tiếp
nhận 1022 người nâng số người hưởng chế độ lương hưu tại thị xã là 12611 người.
Trong đó, người nghỉ hưu trước tuổi chiếm 58%, bình quân tuổi nghỉ hưu là 57
tuổi đối với nam, 53 tuổi đối với nữ.
Năm 2012, BHXH thị xã Sông Công thực hiện chi trả cho 838 người là thân
nhân của người đang đóng, đang bảo lưu BHXH hoặc đang hưởng lương hưu hàng
tháng chết hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng với số tiền là 4,728 tỷ đồng. Năm
2013, là 935 người với số tiền 5,571 tỷ đồng. Năm 2014, là 1.028 người với số tiền
6,291 tỷ đồng. Năm 2015, là 1.133 người với số tiền 7,078 tỷ đồng. Năm 2016,
BHXH thị xã Sông Công thực hiện chi trả cho 725 trường hợp với số tiền 4,581 tỷ
đồng.
2.2.2 Công tác thu và hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Khi công tác quản lý thu, quản lý chi được đảm bảo thực hiện tốt thì sẽ đảm
bảo được sự cân đối quỹ. Cho nên công tác quản lý thu, chi rất quan trọng và luôn
được BHXH thị xã đặt lên hàng đầu.
Năm 2012 tổng số phải thu là 64.821 triệu đồng, số thực thu là 63.204 triệu
đồng. Năm 2013 tổng số phải thu là 76.358 triệu đồng trong khi đó số thực thu là
75.826 triệu đồng. Năm 2014 tổng số phải thu là 110.821 triệu đồng trong khi đó
số thực thu là 105.204 triệu đồng. Năm 2015 tổng số phải thu là 120.084 triệu đồng
trong khi đó số thực thu là 116.694 triệu đồng. Năm 2016 tổng số phải thu là
170.783 triệu đồng trong khi đó số thực thu là 168.022 triệu đồng.
2.2.3 Công tác quản lý quỹ bảo hiểm xã hội
Khi công tác quản lý thu, quản lý chi được đảm bảo thực hiện tốt thì sẽ đảm
bảo được sự cân đối quỹ. Cho nên công tác quản lý thu, chi rất quan trọng và luôn
được BHXH thị xã đặt lên hàng đầu. Trong những năm qua, quỹ BHXH của thị xã
Thứ sáu, nhận thức và chấp hành pháp luật BHXH của cấp ủy, chính quyền,
các phòng ban trong thị xã và NSDLĐ, NLĐ và nhân dân từng bước được nâng cao.
2.3.2 Tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật BHXH triển
khai chưa thực sự chuyên sâu, hình thức, biện pháp tuyên truyền chưa đa dạng và
chưa được tổ chức thường xuyên, còn một bộ phận NSDLĐ chưa hiểu đúng và
thực hiện đúng pháp luật về BHXH, BHTN.
Thứ hai, việc tuân thủ pháp luật về BHXH của phần lớn các doanh nghiệp
dân doanh, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác chưa tốt, biểu hiện ở việc
trốn đóng BHXH, đóng không đúng thời gian, không đúng mức hoặc không đủ số
người theo quy định.
Thứ ba, chế tài xử lý vi phạm chưa đủ mạnh, sự phối hợp của các ngành vẫn
còn hạn chế.
Thứ tư, cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước về BHXH, cơ quan
BHXH và Công đoàn thiếu chặt chẽ, xử lý các vụ việc chậm, thiếu tính răn đe,
thiếu kiên quyết xử lý làm cho tình trạng vi phạm pháp luật BHXH trở lên phức
tạp, dây dưa, kéo dài.
Thứ năm, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về thực hiện chế độ,
chính sách BHXH của Thanh tra Sở LĐ-TB&XH, thanh tra thị xã, liên ngành thị
xã kiểm tra các đơn vị trên địa bàn thị xã còn hạn chế về số lượng.
Thứ sáu, nhận thức của các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội về quyền lợi
và nghĩa vụ BHXH không đầy đủ.
Thứ bảy, BHXH thị xã chưa có kế hoạch chi tiết trong việc phát triển đối
tượng tham gia BHXH.
2.3.3 Nguyên nhân của những mặt hạn chế
2.3.3.1 Nguyên nhân khách quan
Thứ nhất, nhận thức về BHXH còn nhiều hạn chế:
Thứ hai, các văn bản pháp luật về BHXH chưa đầy đủ và hoàn chỉnh:
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm ã h i
Quyết định phê duyệt Chiến lược hội nhập quốc tế của ngành Bảo hiểm xã
hội (BHXH) đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt.
Theo đó, mục tiêu của hội nhập quốc tế là phát huy tối đa nguồn lực và điều
kiện thuận lợi của hội nhập quốc tế góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tại
Việt Nam bền vững, hiệu quả, hiện đại; xây dựng chính sách, tổ chức thực hiện
chính sách về BHXH, BHYT phù hợp với các chuẩn mực, điều ước quốc tế mà
Việt Nam là thành viên.
Cụ thể, mục tiêu đến năm 2020 là: Góp phần thực hiện thành công Nghị
quyết số 31/NQ-CP ngày 13/5/2014 của Chính phủ ban hành Chương trình hành
động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ
Chính trị về hội nhập quốc tế; nhằm thực hiện thành công Chiến lược phát triển
BHXH Việt Nam, phấn đấu đến năm 2020 có 35% lực lượng lao động tham gia
BH thất nghiệp, 50% tham gia BHXH và trên 80% tham gia BHYT; tiến tới
BHXH cho mọi người lao động và BHYT toàn dân; xây dựng ngành BHXH hiện
đại, chuyên nghiệp, hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế; hoàn thiện chính sách và đảm bảo thực thi chính sách BHXH,
BHYT cho người lao động trong các hiệp định song phương và đa phương theo lộ
trình; huy động thêm nguồn lực, kinh nghiệp quốc tế nhằm thực hiện tốt chính sách
BHXH, BHYT; nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ BHXH, BHYT cho người dân.
3.2 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm ã h i từ thực tiễn thị
xã Sông Công
3.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội
3.2.1.1 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phạm vi áp dụng
Hiện nay, trong bối cảnh Luật Việc làm năm 2013 với quan điểm BHTN là
một trong các chính sách của thị trường lao động và gắn với quan hệ lao động thì
việc chuyển BHTN sang Luật Việc làm là phù hợp. Nhưng theo quy định thì
Thời gian hưởng chế độ khi con ốm đau đã được quy định hợp lý, tạo thuận
lợi hơn so với quy định hiện hành khi thực hiện trong trường hợp cả cha và mẹ
cùng tham gia BHXH khi con bị ốm đau. Việc đưa người cha vào đối tượng thụ
hưởng chế độ khi con ốm đau là một bổ sung tích cực của Luật BHXH ngày
20/11/2014.
3.2.1.4 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ thai sản
Thời gian hưởng chế độ khi sinh con được điều chỉnh tăng phù hợp với quy
định tại Điều 157 Bộ luật Lao động 2012 và mở rộng thêm đối tượng thụ hưởng
theo hướng đáp ứng yêu cầu bình đẳng giới. Cụ thể: Tăng thời gian nghỉ sinh con
lên 6 tháng; thời gian nghỉ phụ thuộc vào phương thức sinh của người vợ; Linh
hoạt hơn về mức hưởng đối với người được thụ hưởng khi người mẹ chết sau khi
sinh.
Mức hưởng chế độ thai sản cũng được quy định cụ thể hơn với từng trường
hợp tạo thuận lợi trong tổ chức thực hiện
3.2.1.5 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ TNLĐ- BNN
Điều kiện hưởng chế độ TNLĐ được quy định chi tiết và rõ ràng hơn so với
quy định hiện hành tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện. Luật đã cụ thể
hóa quy định tại khoản 1 Điều 43 trường hợp bị tai nạn trong các trường hợp nêu
tại điểm a,b,c (khoản 1 Điều 43); bổ sung quy định các trường hợp cần loại trừ
(khoản 2 Điều 43); các quy định nêu trên được thể hiện rõ và thuận lợi trong tổ
chức thực hiện.
Thời điểm hưởng trợ cấp cũng được quy định chặt chẽ và đầy đủ hơn. Cụ
thể là bổ sung quy định về thời điểm hưởng trợ cấp trong các trường hợp không
điều trị nội trú (khoản 1, Điều 48); bổ sung quy định về thời điểm hưởng trợ cấp
TNLĐ – BNN trong trường hợp không xác định được thời điểm điều trị ổn định
xong, ra viện; bổ sung Điều 49 về điều chỉnh trợ cấp TNLĐ-BNN.
3.2.1.6 Giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ hưu trí
Mức lương hưu sẽ vẫn giữ nguyên đến hết năm 2017 và chỉ điều chỉnh từ
khắc phục tình trạng thụ động, phong cách làm việc hành chính, quan liêu trong chỉ
đạo, điều hành thực thi nhiệm vụ, chuyển đổi nhanh sang phong cách phục vụ.
3.2.2.2 Giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức làm công
tác bảo hiểm xã hội tại thị xã Sông Công
Một là, nâng cao năng lực đội ngũ công chức, viên chức thực thi pháp luật
BHXH (đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo) là một trong những giải pháp cơ bản
nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về BHXH.
Hai là, bảo hiểm xã hội là một ngành hoạt động nghiệp vụ mang tính chuyên
môn sâu. Nhưng đội ngũ công chức, viên chức hiện tại của BHXH thị xã chủ yếu
được đào tạo về kinh tế, tài chính, xã hội, hầu hết chưa được đào tạo cơ bản nghiệp
vụ về BHXH.
Ba là, tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí
Minh để xây dựng đội ngũ công chức, viên chức BHXH tỉnh có bản lĩnh chính trị
vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ trong thực thi
nhiệm vụ thực hiện pháp luật về BHXH.
Bốn là, thực hiện tốt công tác nâng lương thường xuyên, nâng lương trước
thời hạn và các chế độ chính sách khác đối với viên chức BHXH tỉnh; đẩy mạnh
các phòng trào thi đua, biểu dương khen thưởng kịp thời đối với những tập thể, cá
nhân có thành tích xuất sắc trong đơn vị.
Năm là, nâng cao chất lượng công tác tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả một cửa.
Sáu là, bảo đảm trang bị mỗi BHXH huyện, thị xã của tỉnh.
3.2.12.3 Nhóm giải pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý
các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội
- Công tác thanh tra, kiểm tra phải được phối hợp chặt chẽ giữa Thanh tra
chuyên ngành của Phòng LĐ-TB&XH, của Liên đoàn Lao động, Công an, Sở Kế
hoạch- Đầu tư, Thuế, BHXH và các cơ quan liên quan trong kiểm tra, giám sát,
đôn đốc việc thực hiện các quy định của pháp luật về BHXH.
- Tăng cường củng cố, kiện toàn Phòng kiểm tra của BHXH tỉnh, viên chức
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu về “Pháp luật về bảo hiểm xã hội- từ thực tiễn Thị xã Sông
Công, tỉnh Thái Nguyên” cho thấy việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tại
thị xã Sông Công tỉnh Thái Nguyên thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi
nhận. Song bên cạnh đó vẫn còn tồn tại nhữn hạn chế, bất cập, đòi hỏi các cấp, các
ngành cùng có sự phối hợp để giải quyết trong thời gian tới.
Từ thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội tại thị xã Sông Công cho
thấy: Hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam được thành lập, đi vào hoạt động, tổ
chức thực hiện các chính sách bảo hiểm xã hội trên phạm vi toàn quốc đã giải
quyết được những vấn đề cơ bản, có tác dụng nhiều mặt trong việc đảm bảo an
toàn xã hội, có ý nghĩa quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội. Luật BHXH đã
phù hợp với thực tiễn, được cuộc sống chấp nhận và ngày càng khẳng định vai trò
quan trọng trong hệ thống chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên,
trong quá trình thực hiện Luật BHXH cũng bộc lộ những bất cập, hạn chế đặt ra
nhu cầu khách quan về việc sửa đổi Luật BHXH một cách căn cơ nhằm thiết lập
khung chính sách, pháp luật BHXH phù hợp với sự phát triển của kinh tế thị
trường.
Pháp luật về bảo hiểm xã hội không phải xây dựng mới hoàn toàn mà là sự
kế thừa chính sách bảo hiểm xã hội trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Chính vì
vậy mà pháp luật về bảo hiểm xã hội hiện hành không tránh khỏi những bất cập
như: mối quan hệ giữa đóng góp và hưởng thụ, những bất cập về lương hưu, đối
tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đã được mở rộng. Để khắc phục
những bất cập và hạn chế của chính sách bảo hiểm xã hội, xây dựng hệ thống pháp
luật bảo hiểm xã hội phù hợp với sự nghiệp đổi mới của nền kinh tế nhiều thành
phần, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động, chủ sử dụng lao động và
phù hợp với xu thế phát triển của đất nước trong giai đoạn hiện nay.
Việc hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội, củng cố và bổ sung văn bản
quy phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội là hết sức cần thiết. Với mục đích nghiên
cứu đã đặt ra, dựa trên cơ sở nghiên cứu pháp luật bảo hiểm xã hội từ thực tiễn thị