BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
ĐẶNG THANH MINH
HÀ NỘI - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
ĐẶNG THANH MINH
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ THỊ DUNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
1.1. Một số vấn đề chung về pháp luật bảo hiểm y tế ....................................................7
1.1.1. Khái niệm, vai trò của bảo hiểm y tế ...................................................................7
1.1.2. Khái niệm, nguyên tắc và nội dung của pháp luật bảo hiểm y tế ....................11
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế ...........................18
1.2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế .....................................................................18
1.2.2. Chế độ bảo hiểm y tế ..........................................................................................22
1.2.3. Quỹ bảo hiểm y tế ...............................................................................................29
1.2.4. Xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm y tế ...............32
Kết luận chƣơng 1 ...............................................................................................................34
Chƣơng 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TẠI
HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH ..............................................................................35
2.1. Khái quát về tổ chức và hoạt động của bảo hiểm y tế huyện Quế Võ,
tỉnh Bắc Ninh...................................................................................................................35
2.1.1. Giới thiệu khái quát và tình hình thực hiện bảo hiểm y tế ở huyện Quế Võ,
tỉnh Bắc Ninh ...............................................................................................................35
2.1.2. Hoạt động triển khai thực hiện các quy định của pháp luật BHYT trên địa
bàn huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh ..............................................................................36
2.2. Những kết quả đạt đƣợc, một số vấn đề tồn tại và nguyên nhân trong thực tiễn
thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.........................38
2.2.1. Những kết quả đạt được trong công tác thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh .....................................................................................38
2.2.2. Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh .....................................................................................46
2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại trong công tác thực hiện pháp luật bảo hiểm
y tế tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh .........................................................................48
Kết luận chƣơng 2 ...............................................................................................................51
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ TẠI HUYỆN QUẾ VÕ,
:Khám, chữa bệnh
LĐTBXH
:Lao động, thương binh và xã hội
Nxb
:Nhà xuất bản
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với mục đích bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho mọi thành viên trong xã hội
nên pháp luật bảo hiểm y tế giữ vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật an sinh
xã hội của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, qua quá trình phát triển không ngừng và đặc biệt là sự ra đời của
Luật BHYT năm 2008 đã mở ra một bước phát triển vượt bậc của BHYT. Tuy
nhiên, do nhiều nguyên nhân về mở rộng đối tượng tham gia BHYT, về quản lý nhà
nước cũng như sự nghiệp BHYT, về dự tính mức phí đóng BHYT… nên lộ trình
thực hiện BHYT toàn dân vào năm 2014 không đạt được như mục đích đặt ra. Vì
vậy, để phù hợp hơn với thực tế đời sống, nhu cầu KCB của người dân, cũng như
các vấn đề về cơ sở vật chất, chuyên môn KCB bảo hiểm y tế… Luật BHYT năm
2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
Theo quy định mới này, pháp luật BHYT đã bổ sung thêm một số đối tượng
tham gia BHYT, phạm vi hưởng được mở rộng hơn, thực hiện KCB liên thông giữa
các tuyến, quyền lợi của người tham gia BHYT và hoạt động của tổ chức BHYT
được cụ thể hơn… Song, sau hơn 2 năm thực hiện, Luật BHYT sửa đổi, bổ sung đã
dần bộc lộ một số bất cập. Đó là tỷ lệ người tham gia BHYT chưa cao, chất lượng
Nguyễn Hiền Phương chủ biên, Nxb Tư pháp, Hà Nội, năm 2015.
Các bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành đề cập đến BHYT và pháp luật về
BHYT ở Việt Nam, như: “Kinh nghiệm thực hiện BHYT - Nhìn từ Nhật Bản” của tác
giả Nguyễn Văn Tiên đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội Việt Nam, số 3A/2011; Bài
viết: “Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân
theo Luật bảo hiểm y tế Việt Nam” của tác giả Đỗ Thị Dung đăng trên Tạp chí Luật
học, số 4/2013.
Ngoài các sách và bài tạp chí, còn có các đề tài, luận án, luận văn… nghiên
cứu về BHYT và pháp luật BHYT. Các đề tài nghiên cứu khoa học như : “Đề án
thực hiện lộ trình tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân giai đoạn 2012 – 2015 – 2020”, đề
án cấp Nhà nước, Bộ Y tế chủ trì năm 2013. Luận án: “Cơ sở lý luận và thực tiễn cho
việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật an sinh xã hội ở Việt Nam” của tác giả
Nguyễn Hiền Phương, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009. Các luận văn tại các
cơ sở đào tạo như Trường Đại học Luật Hà Nội, Viện Đại học Mở Hà Nội,… Cụ thể
2
là luận văn: “Đánh giá Luật bảo hiểm y tế sau 3 năm thực hiện” của Nguyễn Khánh
Linh, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013; Luận văn: “Pháp luật bảo hiểm y tế
ở Việt Nam” của Phạm Thị Vy Linh, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2014; Luận
văn: “Pháp luật bảo hiểm y tế và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh” của Đỗ
Văn Hưởng, Viện Đại học Mở Hà Nội, năm 2016.
Bên cạnh đó, còn có các báo cáo: “Báo cáo 3 năm thực hiện Luật BHYT” của
Bảo hiểm xã hội Việt Nam năm 2011; “Hội nghị tổng kết đánh giá 3 năm thực hiện
Luật BHYT và định hướng sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT” của Bảo
hiểm xã hội Việt Nam năm 2012; “Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2011 Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm
ngành y tế” của Bộ Y tế Việt Nam và Nhóm đối tác y tế từ năm 2011 - 2015; “Báo
cáo đánh giá 3 năm thực hiện Luật BHYT và đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật BHYT” của Bộ Y tế năm 2013. Đặc biệt là các Báo cáo tổng kết công tác
BHYT, thực trạng pháp luật về BHYT theo quy định của pháp luật hiện hành và thực
tiễn thực hiện BHYT tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Thông qua việc đánh giá
những điểm bất cập của pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về BHYT tại huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh, luận văn đưa ra một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy
định về BHYT và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHYT tại huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh theo hướng phù hợp với sự phát triển về kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Ninh
nói riêng, của đất nước nói chung trong bối cảnh hội nhập hiện nay.
Từ mục tiêu đặt ra, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
Một là, luận văn nghiên cứu để làm rõ một số vấn đề lý luận về BHYT và
pháp luật BHYT. Đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành về BHYT.
Hai là, luận văn nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật
BHYT tại huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Từ đó, rút ra những nhận xét về ưu điểm
cũng như những vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của những tồn tại trong quá trình
thực hiện BHYT ở huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Ba là, luận văn đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp
luật về BHYT và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHYT tại huyện Quế
Võ, tỉnh Bắc Ninh.
4
5. Các phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của học thuyết Mác Lênin. Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn dựa trên cơ sở các định hướng,
quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính sách BHYT ở Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn bao
gồm các phương pháp lịch sử, phân tích, chứng minh, so sánh, so sánh luật học,
tổng hợp, dự báo khoa học.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Chƣơng 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y TẾ VÀ
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Một số vấn đề chung về pháp luật bảo hiểm y tế
1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế
1.1.1.1. Khái niệm bảo hiểm y tế
Để hiểu được pháp luật BHYT, trước hết chúng ta phải hiểu được những vấn
đề chung về BHYT, trong đó cần hiểu rõ BHYT là gì?
Theo Công ước số 102 năm 1952 của Tổ chức lao động quốc tế, thì chăm sóc y
tế là nội dung được đề cập đầu tiên trong 9 chế độ trợ cấp thuộc hệ thống an sinh xã
hội. Theo Công uớc này thì BHYT được hiểu là “một nội dung thuộc an sinh xã hội
và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham
gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật” [12]. Như vậy, theo khái niệm này thì BHYT
có mục đích chủ yếu là chăm lo sức khỏe, đảm bảo chi phí y tế cho người dân khi
họ gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật mà không phải vì mục đích lợi nhuận. Tuy nhiên,
khái niệm chăm sóc y tế có phạm vi nội dung rộng hơn BHYT. Nội dung chăm sóc
y tế không chỉ dừng lại ở chế độ bảo hiểm cho các thành viên trong xã hội mà còn
bao gồm các hoạt động y tế công cộng khác nhằm mục đích chăm lo và bảo vệ sức
khỏe toàn dân. BHYT mang nhiều nét tương đồng với chăm sóc y tế song không
bao quát hết mọi nội dung của chăm sóc y tế.
Ở hầu hết các quốc gia, BHYT thông thường chỉ thực hiện chủ yếu với các
hoạt động KCB (nội, ngoại trú) và một số chế độ bổ sung mà không bao gồm các
dịch vụ như tiêm chủng phòng bệnh, chỉnh hình, tạo hình thẩm mĩ, chữa trị các dị
tật bẩm sinh… Thực tế, do điều kiện kinh tế - xã hội và nhận thức ở các quốc gia
khác nhau mà khái niệm chăm sóc y tế có thể được đồng nhất với BHYT. Ở một số
nước khác thì BHYT lại được hiểu là dịch vụ chăm sóc sức khỏe công, được thực
hiện miễn phí, do ngân sách nhà nước đài thọ. Có nước lại coi chăm sóc y tế bao
hàm cả BHYT và các dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Thậm chí có một số quốc gia lại
yếu có xác lập quan hệ lao động, thì BHYT có đối tượng áp dụng rộng rãi với mọi
người dân trong xã hội, không phân biệt bởi bất kỳ tiêu chí gì về dân tộc, tôn giáo,
8
tín ngưỡng, tuổi tác…. Tất cả thành viên trong xã hội dù là người lao động hay
không phải là người lao động, dù là trẻ em hay người già,…cũng đều có thể tham
gia BHYT. Thực hiện BHYT toàn dân luôn là mục tiêu phấn đấu của các quốc gia.
Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa BHYT và BHXH.
Thứ hai, về mục đích BHYT
Mục đích của BHYT là hướng tới việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho mọi
người dân. Khi bị ốm đau, bệnh tật mọi người dân đều có nhu cầu khám và điều trị
bệnh tật. Khi đó BHYT có trách nhiệm chi trả các chi phí KCB cho họ. Bởi vậy,
mục tiêu đối tượng của BHYT không phải là thu nhập và đảm bảo thu nhập cho
người bị ốm đau mà chính là sức khỏe của người tham gia BHYT. Do đó, BHYT
không phải là khoản trợ cấp bằng tiền như các loại hình bảo hiểm khác mà là dịch
vụ chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh. Vì thế, người tham gia BHYT tuy cũng đóng phí
BHYT bằng tiền như các loại bảo hiểm khác, nhưng chế độ hưởng bao giờ cũng là
chế độ KCB, chi phí giường nằm, thuốc điều trị.
Thứ ba, về mức hưởng BHYT
Đối với các loại hình bảo hiểm như BHXH, bảo hiểm thất nghiệp, thì nhìn
chung mức hưởng được xác định trên cơ sở mức đóng và thời gian đóng phí của
người tham gia. Song, đối với BHYT, mức hưởng không phụ thuộc vào mức đóng,
thời gian đóng mà phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật và cơ sở cung ứng dịch vụ y tế.
Điều này cũng là hợp lý bởi ốm đau, bệnh tật là rủi ro mà con người không thể
lường trước được và cũng đều là điều không ai mong muốn. Vì vậy, người tham gia
BHYT không nhất thiết phải được hưởng toàn bộ khoản tiền mà họ đã đóng góp và
họ nên chia sẻ rủi ro cho những người bị ốm đau, bệnh tật. Đây là đặc điểm quan
trọng, thể hiện tính nhân văn sâu sắc của BHYT.
Khi tham gia BHYT, mọi người đều có nghĩa vụ đóng phí và được cấp thẻ BHYT,
song nếu bị mắc bệnh nan y hoặc điều trị dài ngày, họ sẽ được hưởng mức cao hơn
so với trường hợp bị ốm đau, bệnh tật thông thường hoặc không bị ốm đau, bệnh
tật. Vì thế, BHYT còn được coi là công cụ phân phối lại thu nhập giữa những người
tham gia BHYT, góp phần bảo đảm sự bình đẳng và công bằng xã hội trong KCB.
- Dưới góc độ xã hội
Quá trình phát triển của BHYT đã chứng minh BHYT là một hoạt động bảo
hiểm trước hết của cộng đồng xã hội chống lại rủi ro về ốm đau, bệnh tật gây nên.
10
Đồng thời loại rủi ro bệnh tật này luôn có khả năng tác động đến mọi thành viện
trong xã hội, ở mọi lứa tuổi, từ sơ sinh cho đén lúc về già, ở mọi môi trường và điều
kiện sống khác nhau. BHYT thể hiện rõ rệt sự chia sẻ giữa những người tham gia
BHYT. Cụ thể là một số đối tượng trẻ khoẻ, ít bị ốm đau, bệnh tật vẫn phải đóng
phí BHYT. Phí đóng của họ nhằm để chia sẻ cho những người nay ốm mai đau như
trẻ em dưới 6 tuổi, người già… Đến khi họ về già, họ lại được người khác đóng phí
để chia sẻ với mình. Bởi vậy có thể thấy rằng BHYT thể hiện rõ rệt ý nghĩa nhân
văn sâu sắc, thể hiện quan điểm đóng bảo hiểm khi trẻ, được hưởng khi già hay
đóng bảo hiểm khi lành, được hưởng khi bị bệnh.
- Dưới góc độ pháp lý
Bảo hiểm y tế thể hiện quyền được chăm sóc sức khoẻ của con người trong xã
hội, là ccông cụ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và công bằng xã hội trong
quản lý và chăm sóc sức khoẻ. Quyền này được ghi nhận trong pháp luật quốc tế và
pháp luật quốc gia. Khi đã được quy định thì BHYT là cơ sở pháp lý quan trọng để
mọi công dân được bảo đảm quyền lợi khi KCB. Ngoài ra, BHYT còn thể hiện
trách nhiệm của nhà nước thông qua các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền đối với
hoạt động chăm sóc sức khoẻ cho mọi người dân. Điều đó khắc phục được sự phân
hoá giàu nghèo trong xã hội kinh tế thị trường, góp phần bảo đảm an sinh xã hội của
nhau, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và đảm bảo thực hiện để điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực BHYT nhằm chăm sóc sức khỏe
nhân dân và không vì mục đích lợi nhuận.
1.1.2.2. Nguyên tắc của pháp luật bảo hiểm y tế
Là một bộ phận của pháp luật an sinh xã hội nên bên cạnh việc tuân thủ các
nguyên tắc chung của luật an sinh xã hội thì pháp luật BHYT còn có những nguyên
tắc riêng như sau:
- Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật BHYT. Nội dung
của nguyên tắc này là đảm bảo cho người tham gia BHYT khi bị bệnh được quyền
KCB không phụ thuộc vào mức đóng góp vào quỹ và thời gian đóng phí vào quỹ
BHYT. Mức hưởng BHYT tùy thuộc tình trạng bệnh tật. Nếu không may người
tham gia BHYT mắc bệnh hiểm nghèo thì họ được hưởng mức chi trả và thời gian
điều trị tùy thuộc vào thời gian điều trị thực tế. Có những trường hợp đóng phí
12
nhưng người đó không được hưởng BHYT vì không bị ốm đau, bệnh tật, thì khi đó
mức phí của họ sẽ được chia sẻ cho những người thường xuyên ốm đau hoặc những
đối tượng có nguy cơ ốm đau nhiều hơn như người già, trẻ nhỏ.
Vì vậy, để đảm bảo đời sống hàng ngày, đảm bảo nhu cầu chăm sóc, chữa
bệnh cho người tham gia, nhất là những người không may mắc bệnh hiểm nghèo,
pháp luật BHYT đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.
- Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương
làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định
Mức đóng theo thu nhập nghĩa là những người có thu nhập cao sẽ đóng
mức phí BHYT cao hơn mức phí BHYT của người có thu nhập thấp. Ngoài ra,
những người có thu nhập từ các khoản trợ cấp thì mức phí dựa trên mức trợ cấp.
Những người không có thu nhập hoặc thu nhập thấp thì được Nhà nước hỗ trợ
tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp lần đầu.
- Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh
bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ
Cũng như các quỹ BHXH khác, quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống
nhất do BHXH Việt Nam thực hiện. Hệ thống các cơ quan BHXH được tổ chức
theo ngành dọc, từ trung ương đến địa phương thực hiện chức năng thống nhất thu
phí, quản lý quỹ và phối hợp với các cơ sở KCB để chi trả chế độ BHYT.
Các khoản thu chi tài chính của quỹ BHYT được thực hiện trên cơ sở quy
định của pháp luật. Các số liệu, nguồn thu phí, sử dụng quỹ, chi quản lý quỹ, đầu tư
từ quỹ phải được công khai, minh bạch. Quỹ BHYT được nhà nước bảo hộ về tài
chính và pháp luật. Đặc biệt, khác với các quỹ BHXH khác, quỹ BHYT được nhà
nước hỗ trợ mức phí đóng cho một số đối tượng nhằm thực hiện chính sách ưu đãi
đối với người có công với cách mạng hoăc những người có hoàn cảnh khó khăn
không có thu nhập hoặc thu nhập thấp. Bởi thế, nguyên tắc này xuất phát từ mục
đích bảo đảm nguồn chi trả cho người tham gia BHYT và xuất phát từ sự an toàn về
tài chính của quỹ, giúp quỹ BHYT ổn định lâu dài, tránh nguy cơ dẫn đến vỡ quỹ.
1.1.2.3. Nội dung pháp luật bảo hiểm y tế
Nhìn chung, pháp luật BHYT của hầu hết các quốc gia đều bao gồm các nội
dung như: đối tượng tham gia BHYT, mức phí và phương thức đóng phí, chế độ
14
BHYT, quỹ và quản lý quỹ BHYT, tổ chức thực hiện BHYT, xử phạt vi phạm pháp
luật về BHYT và giải quyết tranh chấp về BHYT.
- Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế:
Đối tượng tham gia BHYT là nội dung quan trọng của pháp luật BHYT và là
mục tiêu hướng đến trong việc thực hiện BHYT cho mọi người dân. Bởi BHYT chỉ
thành công khi mọi người dân hoặc các đối tượng tham gia BHYT bắt buộc đều có
thẻ BHYT. Để thực hiện BHYT toàn dân, tùy theo quy định của pháp luật mỗi nước
BHYT có đủ điều kiện do pháp luật quy định. Tùy từng nhóm đối tượng mà pháp
luật quy định quyền lợi hưởng BHYT khác nhau.
- Quỹ bảo hiểm y tế:
Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính tập trung được hình thành từ nguồn đóng
BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh,
chữa bệnh cho người tham gia BHYT, chi phí quản lý bộ máy của tổ chức BHYT và
những khoản chi phí hợp pháp khác liên quan đến BHYT. Quỹ BHYT hình thành dựa
trên tính ưu việt của BHYT thể hiện ở tính xã hội là sự chia sẻ, liên kết của chính các
thành viên trong xã hội thông qua việc đóng góp dựa trên thu nhập của họ vào quỹ
BHYT, là sự liên kết rộng rãi để mọi người trong cộng đồng cùng nhau chia sẻ rủi ro,
bệnh tật và nó tồn tại được do có sự hỗ trợ của cộng đồng xã hội.
Xuất phát từ mục đích nhân đạo, không đặt mục đích kinh doanh lên hàng
đầu, nên quỹ BHYT được hình thành chủ yếu từ nguồn đóng góp của người tham
gia BHYT. Nếu người tham gia BHYT là NLĐ và NSDLĐ thì quỹ bảo hiểm y tế
được hình thành từ sự đóng góp của cả hai bên. Thông thường NSDLĐ đóng góp
khoảng 2/3 mức phí bảo hiểm, phần còn lại do NLĐ đóng góp.
Phí đóng BHYT có thể từ thu nhập của NLĐ, NSDLĐ có thiết lập quan hệ
lao động. Trường hợp họ không có thu nhập, nhà nước có thể đài thọ hoặc hỗ trợ
mức phí. Ngoài ra, quỹ BHYT còn hình thành trên cơ sở tiền sinh lời từ hoạt động
đầu tư quỹ, sự viện trợ, tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và các
nguồn thu hợp pháp khác.
- Tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế:
Để đảm bảo thực hiện tốt pháp luật BHYT, cần có sự phối hợp giữa 3 bên :
Cơ quan BHYT, cơ sở KCB và người tham gia BHYT. Trong mối quan hệ 3 bên
ấy, mỗi bên có những quyền lợi và nghĩa vụ khác nhau nhưng luôn phải kết hợp
16
hài hòa với nhau. Bên cạnh việc quy định quyền và nghĩa vụ cho từng bên thì
quan hệ pháp luật về BHYT. Gồm: người tham gia BHYT hoặc người đại diện của
người tham gia BHYT; tổ chức, cá nhân đóng BHYT; tổ chức BHYT và cơ sở
khám bệnh, chữa bệnh BHYT. Khi tranh chấp về BHYT phát sinh, tùy theo pháp
luật các quốc gia mà quy định thẩm quyền giải quyết tranh cấp về BHYT.
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế
Luật bảo hiểm y tế ra đời năm 2008. Sau 6 năm thực hiện, Luật BHYT đã bộc
lộ nhiều điểm bất cập. Để phù hợp với thực tế đời sống xã hội và đáp ứng nhu cầu
KCB bảo hiểm y tế, tiến tới bao phủ BHYT tới mọi người dân, ngày 13/6/2014,
Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 7 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật bảo hiểm y tế. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
Với sự kế thừa những ưu điểm của Luật BHYT năm 2008 và đồng thời bổ
sung nhiều nội dung mới nhằm khắc phục những hạn chế của Luật BHYT năm
2008, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT năm 2014 là một bước đột
phá mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và quá trình tiến tới BHYT toàn dân ở Việt Nam. Cùng với các văn
bản hướng dẫn như Nghị định số 105/2014/NĐ-CP ngày 15/11/2014 quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHYT, Thông tư số 40/2014/TTBYT ngày 17/11/2014, Thông tư số 41/2014/TTLT-BLĐTBXH-BYT ngày
24/11/2014 hướng dẫn thực hiện BHYT, pháp luật BHYT đã tạo hành làng pháp lý
thuận lợi việc thực hiện BHYT, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công sự
nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe toàn dân.
Từ các văn bản trên, pháp luật BHYT hiện hành của Việt Nam bao gồm các
nội dung cơ bản sau đây:
1.2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế
Theo Điều 12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật BHYT năm 2014 quy
định 5 nhóm đối tượng tham gia BHYT. Đó là:
- Nhóm đối tượng do NLĐ và NSDLĐ đóng BHYT
Nhóm do NLĐ và NSDLĐ đóng phí BHYT bao gồm: 1) NLĐ làm việc theo
hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3