Pháp luật về bảo hiểm y tế từ thực tiễn bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ - Pdf 61

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ

HOÀNG THỊ THANH HOA

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
TỪ THỰC TIỄN BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ

HOÀNG THỊ THANH HOA

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ THỊ DUNG

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN

Hoàng Thị Thanh Hoa


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................
LỜI CẢM ƠN ..........................................................................................................
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ......................................................................
PHẦN MỞ ĐẦU .................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO
HIỂM Y TẾ VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ BẢO HIỂM Y TẾ ............................................................................... 7
1.1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm y tế ......................................... 7
1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế ......................................................... 7
1.1.2. Pháp luật bảo hiểm y tế............................................................................... 11
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế .................. 16
1.2.1. Quy định về đối tượng tham gia BHYT ...................................................... 17
1.2.2. Quy định về chế độ BHYT .......................................................................... 22
1.2.3. Quy định về tổ chức thực hiện BHYT......................................................... 31
1.2.4. Quy định về quỹ BHYT ............................................................................... 41
1.2.5. Quy định về giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm về BHYT ......................... 44
Kết luận chương 1 ............................................................................................... 46
CHƯƠNG 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM Y
TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ THỌ.......................................... 47
2.1. Khái quát về Bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ và cơ quan thực hiện
pháp luật bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh phú thọ ............................. 47
2.1.1. Khái quát về Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ ........................................... 47
2.1.2. Cơ quan thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú
Thọ........................................................................................................................ 49
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa
tỉnh phú thọ.......................................................................................................... 53

Bảo hiểm y tế

KCB

Khám chữa bệnh

UBND

Ủy ban nhân dân

HĐLĐ

Hợp đồng lao động

CNTT

Công nghệ thông tin

CSSK

Chăm sóc sức khỏe

HSBA

Hồ sơ bệnh án


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm y tế là một trong các chính sách quan trọng trong hệ thống an sinh

giữa Bộ Y tế và BHXH Việt Nam trong thanh toán chi phí KCB BHYT; công tác
quản lý quỹ KCB BHYT gặp khó khăn, quỹ KCB BHYT thì hạn hẹp trong khi diễn
biến bệnh tật thì ngày càng phức tạp và khó kiểm soát; sự am hiểu về các quy định
trong KCB BHYT của nhân viên y tế của bệnh viện còn hạn chế; ý thức tuân thủ
của người tham gia BHYT đến KCB tại bệnh viện chưa cao, …
Từ thực trạng pháp luật và thực tiễn tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ, cần
thiết phải có những giải pháp khắc phục. Một trong những giải pháp quan trọng là
hoàn thiện quy định của pháp luật về BHYT và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp
luật BHYT tại các bệnh viện, trong đó có Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài: “Pháp luật về bảo hiểm y tế từ
thực tiễn Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ” làm đề tài luận văn thạc sĩ chuyên
ngành Luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu về BHYT là chủ đề được quan tâm của nhiều nhà khoa học với
nhiều công trình nghiên cứu dưới các hình thức khác nhau như:
- Sách tham khảo: có các sách: Pháp luật bảo hiểm y tế một số quốc gia và
bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” do TS Nguyễn Hiền Phương chủ biên, Nxb Tư
Pháp, Hà Nội, năm 2013. Trong cuốn sách này, các tác giả đã nghiên cứu, phân tích
hệ thống pháp luật BHYT của một số quốc gia tiêu biểu, đồng thời trình bày những
nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã nhận định, đánh
giá về những ưu điểm, hạn chế trong pháp luật hiện hành, đồng thời đưa ra một số
kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này; Sách: “Hỏi đáp về
pháp luật bảo hiểm y tế” do TS Nguyễn Hiền Phương chủ biên, Nxb Tư Pháp, Hà
Nội, năm 2016. Trong cuốn sách này, tác giả chủ yếu tập trung đưa ra hệ thống câu
hỏi đáp về chính sách và pháp luật BHYT hiện hành.
- Các bài báo, tạp chí: Bài viết: “Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế và lộ
trình thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân theo Luật bảo hiểm y tế Việt Nam” của ThS.
Đỗ Thị Dung đăng trên Tạp chí luật học, số 4/2013; Bài viết: “Kiến nghị hoàn thiện

2

Đối tượng nghiên cứu của luận văn: là các quy định của pháp luật hiện hành
của Việt Nam về BHYT. Trong đó, là Luật Bảo hiểm y tế 2008, Luật sửa đổi, bổ
sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi

4


hành Luật Bảo hiểm y tế, các quy định khác liên quan đến Luật bảo hiểm y tế như:
Bộ luật lao động năm 2012, Bộ luật dân sự năm 2015,... Ngoài ra, nhằm làm sâu sắc
nội dung chính, luận văn còn nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế và một
số quốc gia về BHYT.
Bên cạnh các quy định của pháp luật, luận văn còn nghiên cứu thực tiễn thực
hiện pháp luật về bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ trong những
năm gần đây trên cơ sở các số liệu thực tiễn của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Do dung lượng của luận văn, tầm quan
trọng của vấn đề nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm các vấn đề
về: đối tượng tham gia BHYT; chế độ BHYT; quỹ và quản lý quỹ BHYT; tổ chức
thực hiện KCB BHYT và giải quyết khiếu nại, xử lý vi phạm về BHYT.
Do địa bàn nghiên cứu là tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ. Vì vậy, thực
tiến thực hiện pháp luật về BHYT tại đây chỉ liên quan chủ yếu đến vấn đề tổ chức
thực hiện KCB BHYT, ngoài ra còn có các nội dung liên đến công tác tham gia
BHYT cho cán bộ; công tác triển khai các hoạt động tiến tới BHYT toàn dân do
tỉnh phát động. Vì vậy, trong chương 2 của luận văn tác giả sẽ chỉ đi vào nghiên cứu
các vấn đề thực tiễn thực hiện BHYT có liên quan đến các hoạt động trên của Bệnh
viện.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: Luận văn tiếp cận trên quan điểm duy vật lịch sử, duy
vật biện chứng của học thuyết Mác - Lê Nin, quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về chính sách BHYT. Theo đó, vấn đề pháp luật BHYT được nghiên cứu luôn
ở trạng thái vận động và phát triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố

pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm y tế.
Chương 2. Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa
tỉnh Phú Thọ.
Chương 3. Kiến nghị hoàn hiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật BHYT tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ.

6


Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT
BẢO HIỂM Y TẾ VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM Y TẾ
1.1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm y tế
1.1.1. Khái niệm và vai trò của bảo hiểm y tế
1.1.1.1. Khái niệm bảo hiểm y tế
Con người ta sinh ra ai cũng muốn có một thể trạng cơ thể khỏe mạnh, một
cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Tuy nhiên, trong cuộc sống hàng ngày luôn rình rập
những rủi ro bất ngờ đe dọa đến sức khỏe của con người như: ốm đau, bệnh tật. Khi
con người ta gặp một vấn đề nào đó về sức khỏe từ bất kỳ một nguyên nhân nào thì
người bệnh phải đến một cơ sở y tế để được KCB. Và để được KCB thì người bệnh
đó phải có tiền thanh toán các dịch vụ y tế. Do đó, người bệnh sẽ tìm kiếm một biện
pháp hữu hiệu nhằm giảm bớt gánh nặng về tài chính cho mình và BHYT được coi
là một lựa chọn phù hợp nhất.
Khái niệm BHYT được ghi nhận tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ
chức Lao động Quốc tế (ILO). Theo đó, BHYT được hiểu là “ một nội dung thuộc
an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế
cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật” [52]. Còn theo Tổ chức y tế
thế giới (WHO) thì BHYT được hiểu là “loại hình bảo hiểm không kinh doanh,
không vì mục đích lợi nhuận và được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ quyền con

Thứ ba, về mức hưởng BHYT: Mức hưởng BHYT không phụ thuộc vào mức
đóng, thời gian đóng của người tham gia mà phụ thuộc vào tình trạng bệnh tật và cơ
sở KCB BHYT. Có những người tham gia BHYT nhưng không KCB hoặc nếu có
nhưng chi phí KCB rất ít so với số tiền mà họ đóng phí BHYT và với đặc điểm này
của BHYT sẽ giúp họ chia sẻ với những người thường xuyên phải sử dụng các dịch
vụ KCB với mức chi phí cao gấp nhiều lần số tiền họ đóng. Đây có thể coi là một
đặc trưng quan trọng, thể hiện tính cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau của
BHYT.
Thứ tư, về tổ chức thực hiện BHYT: Nếu như các loại hình bảo hiểm khác chỉ
gồm có bên tham gia bảo hiểm và bên thực hiện bảo hiểm thì việc tổ chức thực hiện

9


BHYT lại gồm có sự tham gia của ba bên đó là: Bên tham gia BHYT, bên thực hiện
BHYT và cơ sở KCB. Theo đó, người tham gia BHYT có trách nhiệm đóng phí bảo
hiểm để được thanh toán chi phí KCB. Cơ quan BHXH thực hiện thu phí, xác định
phạm vi hưởng của người tham gia và thanh toán một phần hoặc toàn bộ chi phí
KCB của người tham gia BHYT cho cơ sở KCB. Cơ sở KCB thực hiện cung cấp
dịch vụ y tế theo hợp đồng KCB BHYT đã ký với cơ quan BHXH cho người có thẻ
BHYT. Do đó, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia BHYT
đòi hỏi phải có sự phối kết hợp tốt giữa cơ quan BHYT và cơ sở KCB trong công
tác KCB BHYT cho người bệnh, cơ sở KCB phải đảm bảo và không ngừng nâng
cao chất lượng KCB để đảm đương vai trò chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của BHYT.
1.1.1.2. Vai trò của bảo hiểm y tế
BHYT là một chính sách an sinh xã hội được nhà nước tổ chức thực hiện,
huy động sự đóng góp của các đối tượng tham gia BHYT, từ đó hình thành nên quỹ
BHYT dùng để chi trả chi phí KCB cho đối tượng tham gia khi không may mắc
phải bệnh tật phải điều trị. Vai trò của BHYT được ghi nhận ở các góc độ như sau:
- Ý nghĩa về mặt kinh tế: BHYT giúp cho người tham gia khắc phục khó

tế… Với vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chính sách an sinh xã hội, nên pháp
luật BHYT được tất cả các quốc gia hiện thực hóa thông qua hệ thống các văn bản
pháp luật để tổ chức thực hiện trong thực tế. Do đó, pháp luật BHYT bao gồm các
quy phạm pháp luật quy định về đối tượng, chế độ BHYT; tổ chức thực hiện
BHYT, quỹ BHYT và xử lý vi phạm BHYT.
Ở mỗi quốc gia khác nhau, có trình độ phát triển dân trí khác nhau thì chính
sách, pháp luật về BHYT cũng có những điểm khác nhau. BHYT được xây dựng
trên cơ sở tham gia của người dân, bằng cách đóng góp một phần thu nhập của mình
để được hưởng chế độ BHYT nhằm giảm bớt những khó khăn kinh tế khi bị ốm
đau, bệnh tật. BHYT là một chính sách xã hội của quốc gia nhưng đồng thời cũng là
công cụ của Nhà nước nhằm tham gia vào việc phân phối lại thu nhập quốc dân một
cách hợp lý giữa các tầng lớp xã hội, giúp thực hiện xây dựng chế độ an sinh xã hội
lâu dài và bền vững, góp phần đảm bảo sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
Ở Việt Nam, pháp luật BHYT được biết đến từ rất sớm, tuy nhiên các quy
định pháp luật về BHYT tại Việt Nam mới được cụ thể tại Luật BHYT năm 2008 và

11


được sửa đổi, hoàn thiện hơn trong Luật BHYT năm 2014. Theo đó, pháp luật
BHYT điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động BHYT và phải bao
quát được hết các khâu từ quy định về đối tượng tham gia, mức đóng phí, quyền lợi
hưởng bảo hiểm cho đến quy định về thủ tục thực hiện BHYT và các vấn đề khác
có liên quan.
Theo pháp luật hiện hành, BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc, không vì
mục đích lợi nhuận và do nhà nước tổ chức thực hiện. Vì vậy, các đối tượng tham
gia trong quan hệ pháp luật BHYT phải có trách nhiệm thực hiện đúng các quy
định.
Từ những vấn đề phân tích, có thể hiểu pháp luật bảo hiểm y tế bao gồm các

Mục đích của nguyên tắc này là nhằm đảm bảo được tính công bằng cho các đối
tượng khi tham gia BHYT, là cơ sở để trích nộp và đóng phí BHYT cho người tham
gia BHYT.
Thứ ba, nguyên tắc mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm
đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế.
Nguyên tắc này xuất phát từ đặc điểm BHYT không vì mục đích lợi nhuận.
Nội dung nguyên tắc ghi nhận mức hưởng BHYT không phụ thuộc vào thời gian
đóng, mức đóng mà phụ thuộc vào rủi ro bệnh tật của người tham gia và nhóm đối
tượng tham gia BHYT. Theo đó, một người tham gia BHYT khi gặp rủi ro về sức
khỏe phải sử dụng các dịch vụ KCB thì mức hưởng chi phí KCB căn cứ vào mức độ
bệnh tật nặng hay nhẹ. Đồng thời người đó thuộc đối tượng tham gia BHYT nào thì
sẽ được mức hưởng tương ứng. Do đó, mức hưởng BHYT phải tính đến điều kiện
của từng đối tượng tham gia BHYT mà đưa ra mức hưởng BHYT cho phù hợp, đảm
bảo được tính cộng đồng tương trợ, người mạnh hỗ trợ người yếu.
Thứ tư, nguyên tắc chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do quỹ bảo
hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả.
Nguyên tắc xuất phát từ trách nhiệm của người tham gia BHYT và cơ quan
quản lý, sử dụng quỹ BHYT. Theo đó, khi người tham gia BHYT phải sử dụng dịch
vụ KCB tại một cơ sở KCB thì chi phí KCB sẽ do quỹ BHYT và người tham gia
BHYT cùng chi trả, mức chi trả của người tham gia BHYT có thể là 0 đồng, có thể
là 20% trên tổng chi phí khám chữa bệnh hay một con số cụ thể khác tùy thuộc vào
người tham gia BHYT thuộc nhóm đối tượng nào?, số còn lại là do quỹ BHYT chi

13


trả. Với nguyên tắc này thì một số đối tượng tham gia BHYT vẫn phải chung vai
với quỹ BHYT trong việc bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho chính cá nhân mình, đồng
thời thông qua đó để bình ổn quỹ BHYT, đảm bảo quỹ được duy trì và có nguồn để
chi trả cho các đối tượng mà quỹ BHYT phải chi trả 100% chi phí khám chữa bệnh.

Chế độ BHYT là các quy định về điều kiện và phạm vi hưởng BHYT của
người tham gia BHYT. Đây được coi là một bộ phận quan trọng cấu thành nội dung
pháp luật BHYT của tất cả các quốc gia.
Điều kiện hưởng BHYT là tập hợp các quy định làm cơ sở pháp lý để người
tham gia BHYT được hưởng quyền lợi BHYT. Điều kiện hưởng BHYT ở đây chính
là việc người tham gia BHYT đóng phí BHYT, được cấp thẻ BHYT.
Phạm vi hưởng BHYT chính là quyền lợi BHYT mà người tham gia BHYT
được hưởng khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra (ốm đau, bệnh tật phải đi KCB) trong
phạm vi chi trả BHYT được pháp luật quy định.
- Quỹ bảo hiểm y tế
Quỹ BHYT là quỹ tài chính được hình thành thông qua sự đóng góp dựa trên
thu nhập của người tham gia BHYT và từ các nguồn thu hợp pháp khác, được nhà
nước thống nhất quản lý với chức năng là nguồn để chi trả chi phí KCB cho người
tham gia BHYT khi họ phải thanh toán chi phí KCB. Quỹ BHYT là nơi chứa đựng
tính cộng đồng chia sẻ, ở đó có người đóng nhiều, có người đóng ít nhưng khi nó
thực hiện nhiệm vụ của mình thì không căn cứ vào mức đóng BHYT của người
tham gia BHYT là bao nhiêu.
Hiện nay, trên thế giới có hai mô hình quỹ BHYT, gồm:
Mô hình thứ nhất, là mô hình quỹ BHYT hình thành từ thu nhập chung của
quốc gia. Theo đó, quỹ BHYT phụ thuộc vào các nguồn thu của quốc gia mà chủ
yếu là từ nguồn thuế, do đó việc trích lập và phân bổ cho quỹ BHYT hàng năm sẽ
chỉ có một con số cụ thể, do nhà nước xác định. Vì vậy, quỹ BHYT hoạt động rất
phụ thuộc, quyền điều tiết là do nhà nước.
Mô hình thứ hai, là mô hình quỹ BHYT hình thành từ nguồn đóng góp của
người tham gia BHYT (có thể là trực tiếp người tham gia BHYT đóng góp hoặc nhà
nước hỗ trợ các đối tượng thuộc diện được hỗ trợ theo quy định). Theo đó quỹ
BHYT sẽ luôn là con số mở, nó tăng lên khi người tham gia BHYT tăng lên. Vì
vậy, nó đảm bảo được tính chủ động, không phụ thuộc và được nhà nước thống nhất

15


16


nay cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành như: Nghị định 105/2015/NĐ-CP
ngày 15/11/2014 quy định chi tiết hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo
hiểm y tế; Thông tư liên tịch 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 24/11/2014 hướng
dẫn thực hiện BHYT; Thông tư 40/2015/TT-BYT ngày 16/11/2015 quy định đăng
ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu và chuyển tuyến khám bệnh, chữa
bệnh bảo hiểm y tế…và hàng loạt các văn bản hướng dẫn thực hiện trong KCB
BHYT của Bộ Y tế và BHXH Việt Nam. Pháp luật BHYT hiện hành của nước ta
bao gồm các nội dung sau:
1.2.1. Quy định về đối tượng tham gia BHYT
Theo quy định tại Điều 12 sửa đổi, bổ sung của Luật Bảo hiểm y tế và Điều 1
Nghị định số 105/2014/NĐ-CP, đối tượng tham gia bảo hiểm y tế gồm các nhóm:
- Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng:
Nhóm này bao gồm: 1) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động
không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người
lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên
chức (sau đây gọi chung là người lao động) làm việc tại cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp; 2) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy
định của pháp luật.
Đây là nhóm được xếp đầu tiên trong các nhóm đối tượng tham gia BHYT,
bởi đây là nhóm tham gia chủ yếu và là nhóm có thể nói là đông nhất trong tất cả
các nhóm đối tượng tham gia BHYT. Họ là người hiện đang lao động trong các tổ
chức, có thu nhập ổn định, thuận lợi trong việc theo dõi và trích lập quỹ. Đồng thời,
họ là những người đang hàng ngày trực tiếp lao động, do đó sẽ không thể tránh khỏi
những rủi ro về sức khỏe như: bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động...và BHYT sẽ là
chỗ dựa về tài chính khi không may gặp rủi ro về sức khỏe. Với đặc tính này, nhóm
đối tượng này được hầu hết các quốc gia đặt lên vị trí số 1 trong các nhóm, trong đó

với cách mạng, cựu chiến binh; 5) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân
các cấp đương nhiệm; 6) Trẻ em dưới 6 tuổi (bao gồm toàn bộ trẻ em cư trú trên địa
bàn, kể cả trẻ em là thân nhân của đối tượng quy định tại nhóm 1 trên, không phân
biệt hộ khẩu thường trú); 7) Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng
tháng thực hiện theo quy định tại Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013
của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội,

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status