VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI THỊ MINH HƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TỈNH BẮC NINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHAN THỊ THANH HUYỀN
Hà Nội, 2019
1
LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS.Phan Thị Thanh Huyền. Các số liệu, những kết luận
nghiên cứu được trình bày trong luận văn này hoàn toàn trung thực. Tôi xin hoàn toàn
chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Học viên
Mai Thị Minh Hường
2
TCTN
Trợ cấp thất nghiệp
HĐLV
Hợp đồng làm việc
HĐLĐ
Hợp đồng lao động
BHXH
Bảo hiểm xã hội
NSDLĐ
Người sử dụng lao động
NLĐ
Người lao động
UBND
Ủy ban nhân dân
4
4
4
4
5
4
6
5
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là hiện tượng khách quan và được biểu hiện như một đặc trưng vốn
có của kinh tế thị trường.Thất nghiệp có tác động lớn đến sự phát triển, ổn định kinh tế,
chính trị và xã hội của mỗi quốc gia.Thất nghiệp có thể khiến NLĐ vào tình cảnh túng
quẫn, lãng phí nguồn lực xã hội, gia tăng tỷ lệ tội phạm, là một trong những nguyên
nhân cơ bản khiến nền kinh tế bị đình trệ. Do đó, BHTN là một trong những chính sách
quan trọng hàng đầu trong việc giải quyết tình trạng thất nghiệp. BHTN được xây dựng
và thực hiện với mục đích bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi bị mất việc làm,
đồng thời tạo điều kiện để NLĐ có cơ hội tìm kiếm được việc làm mới trong thời gian
sớm nhất.
Việt Nam là quốc gia thực hiện chính sách về BHTN tương đối muộn so với
nhiều quốc gia khác trên thế giới.Năm 2006, BHTN lần đầu tiên ở Việt Nam được quy
định trong Luật bảo hiểm xã hội và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009 và tiếp tục
được hoàn thiện bởi Luật việc làm năm 2013. Về cơ bản, pháp luật BHTN đã góp phần
đảm bảo ổn định cuộc sống cho NLĐ bị mất việc làm đồng thời cũng giúp NSDLĐ san
sẻ được gánh nặng tài chính, họ không phải bỏ ra một khoản chi lớn để giải quyết chế
độ cho NLĐ. Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện pháp luật về BHTN đã bộc lộ một
số hạn chế không chỉ về các quy định pháp luật mà còn trong thực tiễn thực hiện. Đó là
những bất cập về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng, thủ tục thực hiện, các hoạt động
Xã hội năm 2003; đề tài khoa học của Bảo hiểm xã hội Việt Nam “Nghiên cứu
những nội dung cơ bản của BHTN hiện đại, vấn đề lựa chọn hình thức TCTN ở
Việt Nam” năm
2004; Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước “Nghiên cứu những nội dung cơ bản của
BHTN hiện đại, vấn đề lựa chọn hình thức thất nghiệp tại Việt Nam”(2004) của TS.
Nguyễn Huy Ban đã nêu lên vấn đề thất nghiệp và BHTN, cũng như yêu cầu xây dựng
chế độ BHTN ở Việt Nam.Luận án tiến sĩ luật học “Chế độ BHTN trong nền kinh tế
thị trường ở Việt Nam” (2005) của tác giả Lê Thị Hoài Thu đã đi sâu nghiên cứu và
trình bày một cách hệ thống những nội dung chủ yếu của chế độ BHTN, những yêu cầu
đặt ra đối với việc xây dựng chế độ BHTN ở Việt Nam, đồng thời có sự so sánh với
quy định của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) và một số nước trên thế giới. Ngoài ra,
còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí khoa học pháp lý như: “Đánh giá kết quả
7 năm thực hiện bảo hiểm thất nghiệp” của tác giả Trương Thị Thu Hiền đăng trên
tạp chí Quản lý Nhà nước số6/2016; “Chính sách bảo hiểm thất nghiệp của Việt
Nam – Những bất cập và khuyến nghị” của tác giả Tạ Thị Hương đăng trên Quản lý
Nhà nước số6/2013 ; “Những hạn chế và kiến nghị hoàn thiện chính sách BHTN”
của tác giả Trương Thị Thu Hiền đăng trênTạp chí Nghiên cứu lập pháp số 21/2017…
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về pháp luật BHTN và thực tiễn thực hiện trên địa
bàn tỉnh Bắc Ninh thì hiện chưa có công trình nghiên cứu những năm gần đây đặc biệt
là từ khi Luật việc làm năm 2013 có hiệu lực đề cập. Hơn thế do pháp luật BHTN là
vấn đề khó, là đối tượng nghiên cứu của cả khoa học kinh tế và khoa học pháp lý, nên
trong khóa luận em có sử dụng những tư liệu, bài viết và những công trình nghiên cứu
của các nhà khoa học đã có nghiên cứu về BHTN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
-
Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về BHTN.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, em sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:
-
Phép biện chứng duy vật của triết học Mác- Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được
sử dụng với tư cách là phương pháp luận cho việc nghiên cứu.
-
Những phương pháp nghiên cứu khoa học kinh tế, xã hội phù hợp với từng vấn
đề của đề tài cũng được vận dụng như: tổng hợp, phân tích, so sánh, thống kê, quy
nạp, đối chiếu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Đề tài hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về BHTN cũng
như pháp luật Việt Nam hiện hành về BHTN qua thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh
Bắc Ninh, từ đó xây dựng các giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực
hiện BHTN trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
- Ý nghĩa thực tiễn: Áp dụng kiến thức của pháp luật bảo hiểm xã hội, BHTN vào
giải quyết các vấn đề cụ thể trong thực tế. Đề tài cũng góp một phần để sử dụng làm
tài liệu tham khảo trong học tập và nghiên cứu của sinh viên các trường Đại học.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung khóa
luận gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp và pháp
luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm thất nghiệp
Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp tại tỉnh Bắc
Ninh
gia lao động xã hội, bị tác khỏi tư liệu sản xuất. Và trong nền kinh tế thị trường, luôn
luôn tồn tại một bộ phận NLĐ bị thất nghiệp. Tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp phụ
thuộc rất
nhiều vào khả năng giải quyết việc làm của Chính phủ và sự đấu tranh của giới thợ
đối với giới chủ.”
Điều 20, Công ước 102 (1952) của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đã đưa ra
khái niệm thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là hiện tượng NLĐ bị ngừng thu nhập do
không có khả năng tìm được việc làm thích hợp trong trường hợp người đó có khả
năng làm việc và sẵn sàng làm việc”.
Ở Việt Nam, từ các góc độ khác nhau, có những quan niệm về thất nghiệp khác
nhau. Văn bản đầu tiên ghi nhận thuật ngữ ‘thất nghiệp” là Điều 76, Sắc lệnh 29/SL
ngày 12/3/1947: “Nếu người cha mất đi, thất nghiệp, hay coi như mất tích, thì người
mẹ sẽ được lĩnh phụ cấp”.Tuy nhiên, ở Sắc lệnh này lại không hề nói đến định nghĩa
thất nghiệp. Theo sau đó, một loạt các văn bản pháp luật ra đời đề cập đến thuật ngữ
“thất nghiệp” nhưng lại không nêu ra được cụ thể thế nào là thất nghiệp bao gồm cả
Luật Bảo hiểm xã hội 2014 và Luật Việc làm 2013”[18]. Một số nhà nghiên cứu khoa
học Việt Nam đã đưa ra những khái niệm về thất nghiệp như: Theo tác giả Phạm Quý
Thọ: “Thất nghiệp là một trạng thái trong đó NLĐ trong tuổi lao động, có khả năng và
nhu cầu lao động mà không có việc làm. Người thất nghiệp là người hiện không có
việc làm hoặc đang tìm việc làm”.“Thất nghiệp là hiện tượng mà người có sức lao
động, có nghề, muốn đi làm việc, không có việc làm và đã đăng ký ở cơ quan có thẩm
quyền” (Kỷ yếu hội thảo khoa học năm 1988 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã
hội).“Thất nghiệp là tình trạng trong đó người có sức lao động trong độ tuổi lao động
không có việc làm và đang cần tìm một việc làm có trả công” (Đề tài khoa học cấp Bộ
năm 1996 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội)… Tuy nhiên, đây chỉ là những
quan điểm cá nhân về khái niệm thất nghiệp có tính tham khảo và nghiên cứu chứ
chưa phải là khái niệm chính thống được ghi nhận trong văn bản pháp luật.
Như vậy, từ các khái niệm trên, có thể hiểu: “Thất nghiệp là tình trạng mà
thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm
dứt
HĐLĐ, HĐLV nhưng chưa tìm được việc làm”[22, khoản 4 điều3]. So với quan điểm
của ILO được các quốc gia trên thế giới áp dụng thì khái niệm này bộc lộ hạn
chếlàphạm vi xác định người thất nghiệp theo pháp luật Việt Nam hiện nay quá hẹp.
BHTN chỉ là một trong những chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước hoạt
động theocơ chế bảo hiểm, do đó không thể coi việc tham gia BHTN là một chuẩn
chung để đánh giá tình trạng việc làm của tất cả lao động trong xã hội. Điều này đã tạo
nên một giới hạn, chỉ những người thuộc đối tượng điều chỉnh của pháp luật về BHTN
mà không có việc làm mới được coi là người thất nghiệp, xét cho cùng cho dù họ có
đóng bảo hiểm thất
nghiệp hay không thì về bản chất họ vẫn là người thất nghiệp. Với việc xác định nội
hàm khái niệm người thất nghiệp chắc chắn con số thống kê về số người thất nghiệp sẽ
không bao giờ đúng với thực tế, nếu như không muốn nói là quá nhỏ so với thực tế và
kết quả là sẽ rất khó cho các nhà hoạch định chính sách khi đưa ra những giải pháp để
khắc phục tình trạng thất nghiệp của quốc gia.
Do vậy theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu: “Người thất nghiệp là những
người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trongkhoảng thời gian xác định
không có việc làm, đang tìm việc làm, đã đăng ký thất nghiệp theo quy định”.
1.1.2. Phân loại thất nghiệp
Thất nghiệp là một vấn đề hết sức phức tạp, vì vậy, để nghiên cứu sâu hơn về
vấn đề thất nghiệp người ta thường đặt ra vấn đề phân loại thất nghiệp. Căn cứ vào nội
dung nghiên cứu cũng như phạm vi nghiên cứu, sẽ có những tiêu chí khác nhau để
phân loại thất nghiệp. Dưới đây là một số tiêu chí phân loại thất nghiệp phổ biến.
Thứ nhất, phân loại theo nguồn gốc, thất nghiệp được chia thành 7 loại:
-
Thất nghiệp do áp dụng công nghệ, tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào
sản xuất, máy móc thiết bị thay thế con người, chỉ cần một số ít người vận hành, một
bộ phận NLĐ trong các dây chuyền sản xuất bị dôi ra, trở thành thất nghiệp công nghệ.
-
Thất nghiệp cơ cấu: Là loại thất nghiệp phát sinh do sự mất cân đối giữa nhu
cầu sử dụng lao động và cơ cấu của lực lượng lao động, hay nói cách khác là lượng
cung lao động vượt lượng cầu về lao động. Các nguyên nhân dẫn đến cung lao động
vượt cầu lao động: do thay đổi cơ cấu kinh tế, do lao động được đào tạo không đáp ứng
được nhu cầu thị trường lao động, do luật tiền lương tối thiểu làm mất cân đối giữa
cung và cầu cục bộ trên thị trường lao động[18].
-
Thất nghiệp theo chu kì: Đây là loại thất nghiệp phát sinh do nền kinh tế lâm
vào tình trạng suy thoái, tổng cầu thấp dẫn đến tình trạng không có nhu cầu sử dụng
lao động. Trong giai đoạn suy thoái, mức cầu chung về lao động giảm và do vậy làm
gia tăng thất nghiệp. Loại thất nghiệp này diễn ra theo chu kỳ và mang tính quy luật.
Thứ hai, phân loại theo đặc trưng của người thất nghiệp.
-
Thất nghiệp là một gánh nặng, nhưng gánh nặng đó rơi vào đâu, bộ phận dân cư
nào, ngành nghề nào…Cần biết được điều đó để hiểu được đặc điểm, tính chất, mức độ
tác hại…của thất nghiệp trong thực tế. Với mục đích đó có thể dùng 5 tiêu thức phân
loại sau: Thất nghiệp chia theo giới tính; Thất nghiệp chia theo lứa tuổi; Thất nghiệp
chia theo vùng, lãnh thổ; Thất nghiệp chia theo ngành nghề; Thất nghiệp chia theo dân
tộc, chủng tộc
động rất lớn vào nguồn lực lao động của mỗi quốc gia. Dân số càng tăng và tốc độ gia
tăng càng nhanh thì lực lượng lao động dư thừa sẽ càng lớn. Thêm vào đó, quá trình
quốc tế hóa và toàn cầu hóa cũng có tác động tiêu cực đến thị trường lao động làm một
bộ phận NLĐ bị thất nghiệp. Nguyên nhân này thường xuất hiện phổ biến ở các nước
đang phát triển và chậm phát triển, những nước luôn có tỷ lệ gia tăng dân số cao.Đây
cũng chính là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng thất nghiệp ở Việt
Nam, cũng như ở nhiều nước đang phát triển khác.
Thứ ba, thất nghiệp là do những thay đổi trong xu thế cung cầu trong nền kinh
tế thị trường. Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế luôn có sự thay đổi liên tục. Có
những ngành nghề trở thành xu hướng, nhu cầu chung của xã hội, có những ngành
nghề lại trở nên lạc hậu, không còn phù hợp. Khi đó, lực lượng lao động theo đó cũng
có sự dịch chuyển ngành nghề dẫn đến thất nghiệp.
Thứ tư, do sự thay đổi cơ cấu ngành nghề: ở từng thời kỳ, sự phát triển kinh tế
có thể dẫn tới thay đổi cơ cấu kinh tế. Theo đó, cơ cấu của một số ngành nghề thay đổi.
Những ngành nghề làm ăn có hiệu quả hoặc cần phải được mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh hoặc xuất hiện ngành nghề mới sẽ tạo cơ hội thu hút thêm nhiều lao động.
Nhưng lại có những ngành nghề phải thu hẹp sản xuất, phải sa thải NLĐ và một bộ
phận
NLĐ bị thất nghiệp.
Thứ năm, do sự ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật 4.0: ứng dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật, đặc biệt là tự động hóa quá trình sản xuất diễn ra nhanh chóng và ngày
càng phổ biến. Nền kinh tế ngày càng phát triển, khoa học công nghệ phát triển dẫn
đến
việc tự động hóa thay bằng sản xuất thô sơ. Lực lượng lao động dần được thay thế
bằng những dây chuyền tự động hóa, công nghiệp hóa. Khi đó nhu cầu sử dụng lao
đồng dần giảm đi dẫn đến tình trạng thất nghiệp. Các chủ doanh nghiệp, các nhà sản
mạnh mẽ tới tất cả các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia. Cụ thể:
Thứ nhất, đối với nền kinh tế: Thất nghiệp chính là sự lãng phí nguồn lực xã
hội, là một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm
phát triển. Vì khi đó có một bộ phận NLĐ trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động
nhưng vì lý do khách quan không có việc làm thì dĩ nhiên sức sản xuất trong nước và
thu nhập quốc dân thấp hơn so với khi mọi người đều có việc làm. Ngoài ra, khủng
hoảng kinh tế và thất nghiệp có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau, đôi
khi tạo thành vòng luẩn quẩn không thoát ra được.Bên cạnh đó, thất nghiệp có thể làm
cho xã hội bất ổn.Đến lượt nó làm cho kinh tế bị suy thoái, khủng hoảng trầm trọng
hơn và có khả năng phục hồi chậm.
Thứ hai, đối với bản thân NLĐ và gia đình: Thất nghiệp có thể gây ra những
hậu quả rất trầm trọng. Bởi vì khi bị mất việc làm thường đồng nghĩa với việc mất đi
nguồn thu nhập chủ yếu và khi thất nghiệp kéo dài sẽ dẫn đến sự khó khăn, nghèo
túng. Hậu quả là họ từng bước bị rơi sâu vào tình trạng dưới mức sống tiêu chuẩn
chung của xã hội. Sau đó nếu không có sự trợ giúp nào khác thì phải vay nợ và nếu kéo
dài sẽ dẫn đến nợ nần chồng chất. Sự tác động vào thu nhập cho gia đình phụ thuộc vào
tiền thất nghiệp của bản thân họ nhận được cũng như thu nhập của những thành viên
khác trong gia đình còn việc làm. Nạn thất nghiệp không chỉ là hậu quả về tài chính
mà còn là hậu quả về khả năng nghề nghiệp.Khi thất nghiệp kéo dài, hậu quả là họ bị
mất đi khả năng nâng cao trình độ nghề nghiệp. Điều đó sẽ đe dọa không chỉ về phía
họ, họ sẵn sàng bị thất nghiệp, mà còn ngăn cản việc học nghề hay chuyển vào một
nghề khác.
Thứ ba, đối với chính trị, xã hội: Khi bị thất nghiệp, NLĐ luôn ở trong tình
trạng hoang mang, lo lắng, căng thẳng và thất vọng. Đặc biệt nếu NLĐ là trụ cột, nuôi
sống cả gia đình thì áp lực tâm lý càng đè nặng lên NLĐ.Từng cá nhân là tế bào của
gia đình, mỗi gia đình là tế bào của xã hội.Như vậy thất nghiệp tác động đến cá nhân
NLĐ có nghĩa là đã tác động đến toàn xã hội.Thất nghiệp ảnh hưởng đến tiếp đến trật
tự xã hội. Thất nghiệp gia tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng lãn công,
bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống… tăng lên. Bên cạnh đó, thất
các hoạt động đào tạo, tư vấn, hỗ trợ học nghề.
Cùng với sự phát triển nền kinh tế xã hội và sự quan tâm đến các vấn đề về
BHTN, khái niệm “thất nghiệp” và “người thất nghiệp” đã không còn xa lạ đối với
người dân Việt Nam. Đối với một quốc gia được xếp vào loại dân số trẻ với nguồn
nhân lực dồi dào nhưng lại bị mất cân bằng giữa cung và cầu lao động trên thị
trường lao
động, tình trạng cung lao động lớn hơn cầu lao động cả về quy mô và cơ cấu cũng như
việc phân bổ lao động không đồng đều giữa các ngành, các địa phương như ở nước ta
thì sự gia tăng của tình trạng thất nghiệp là không thể tránh khỏi. Thất nghiệp không
chỉ đe dọa tới đời sống của NLĐ nói riêng mà còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối
với quốc gia và toàn xã hội nói chung.
Ở Việt Nam, theo quy định tại Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 thì BHTN được
hiểu là “sự đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập của NLĐ trong trường hợp
bị mất việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm, đồng thời có một số biện pháp để họ
nhanh chóng quay lại thị trường lao động”. Theo đó mục đích của BHTN được nhắc
nhiều nhất là mục đích đảm bảo, thay thế bù đắp một phần thu nhập của NLĐ. Sau
nhiều năm thực hiện BHTN, Việt Nam đã có điều chỉnh mang tính đột phá khi chuyển
toàn bộ chế độ BHTN quy định ở Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 sang Luật Việc làm
năm 2013. Khoản 4, Điều 3, Luật Việc làm 2013 đã đưa ra định nghĩa cụ thể về
BHTN như sau: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần thu nhập của
NLĐ khi bị mất việc làm, hỗ trợ NLĐ học nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ
sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp”, khái niệm này đã làm thay đổi quan niệm về
BHTN. Theo đó, BHTN không phải là biện pháp giải quyết hậu quả thất nghiệp một
cách bị động, mà BHTN có vai trò chủ động trong việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu
ngành nghề, giảm thất nghiệp, giúp NLĐ nhanh chóng tìm được việc làm. Mục đích
của BHTN không chỉ nhằm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ nhằm
đảm bảo cuộc sống cho họ trong thời gian bị mất việc làm, mà còn giúp đỡ đưa người
thất nghiệp trở lại với thị trường lao động, thông qua việc hình thành và sử dụng một
động tìm kiếm và tạo việc làm cho NLĐ.
Thứ hai, BHTN không chỉ thu và chi trả TCTN mà còn thực hiện các biện pháp
để đưa NLĐ trở lại thị trường lao động. Do đó, cơ quan BHTN vừa có trách nhiệm
đăng ký thất nghiệp vừa phải kịp thời nắm bắt các thông tin về thị trường lao động để
giới thiệu việc làm, đào tạo nghề phù hợp cho người thất nghiệp. Đây là điểm khác biệt
giữa hoạt động quản lý thất nghiệp với các loại hình bảo hiểm xã hội khác[28]. Như
vậy khác với cơ quan quản lý bảo hiểm xã hội thông thường chỉ thực hiện chức năng
thu, chi bảo hiểm xã hội, các cơ quan quản lý BHTN còn phải tiến hành các hoạt động
nghiệp vụ nhằm giải quyết việc làm, bên cạnh các nghiệp vụ bảo hiểm xã hội thuần
túy.
Thứ ba, đối tượng hưởng BHTN là những người trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động nhưng đang trong tình trạng không có việc làm, không có thu nhập và
đang tìm kiếm việc làm. Đối tượng hưởng BHTN là những người đang không tham gia