BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TỈNH QUẢNG NINH
BÙI TUẤN ANH
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
Ở VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI
TỈNH QUẢNG NINH
BÙI TUẤN ANH
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ THỊ DUNG
HÀ NỘI - 2016
Bùi Tuấn Anh
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP ...................................................... 8
1.1. Bảo hiểm thất nghiệp ..................................................................................... 8
1.1.1. Khái niệm bảo hiểm thất nghiệp ................................................................... 8
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp................................................................ 14
1.1.3. Nguyên tắc bảo hiểm thất nghiệp ............................................................... 15
1.2. Pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ............................................................... 18
1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm thất nghiệp ................................................. 18
1.2.2. Nội dung pháp luật bảo hiểm thất nghiệp .................................................. 18
Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BẢO HIỂM
THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM .......................................................................... 30
2.1. Đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp ................................................... 32
2.2. Chế độ bảo hiểm thất nghiệp........................................................................ 34
2.2.1. Chế độ trợ cấp thất nghiệp .......................................................................... 34
2.2.2. Chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm .................................................... 39
2.2.3. Chế độ hỗ trợ học nghề............................................................................... 40
2.2.4. Chế độ hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề .......... 41
2.3. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp và quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp ............... 42
2.3.1. Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ........................................................................... 42
2.3.2. Quản lý quỹ bảo hiểm thất nghiệp .............................................................. 44
2.4. Thủ tục hưởng bảo hiểm thất nghiệp........................................................... 45
2.4.1. Thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp ............................................................. 45
2.4.2. Thủ tục hưởng chế độ hỗ trợ tư vấn, giới thiệu việc làm............................ 46
2.4.3. Thủ tục hưởng chế độ hỗ trợ học nghề ...................................................... 46
:
Bảo hiểm xã hội
BHYT
:
Bảo hiểm y tế
HĐLĐ
:
Hợp đồng lao động
ILO
:
Tổ chức lao động quốc tế
LĐTBXH
:
Lao động, thương binh và xã hội
NLĐ
hưởng TCTN ( người) .......................................................................................... 54
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội mang tính khách quan tồn tại ở hầu
hết các quốc gia trên thế giới, kể cả các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Vì vậy, hạn chế tình trạng thất nghiệp, bảo đảm việc làm, ổn định đời sống cho
NLĐ khi bị thất nghiệp là một trong các chính sách xã hội được các quốc gia đặc
biệt quan tâm. Trong đó, biện pháp nhằm hỗ trợ cho NLĐ khi bị mất việc làm, ổn
định đời sống thông qua việc tạo lập một quỹ tập trung do Nhà nước quản lý được
coi là biện pháp hữu hiệu để khắc phục tình trạng thất nghiệp và đói nghèo. Từ đó
BHTN ra đời, và đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm an sinh xã hội của các
quốc gia, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ổn định và bền vững.
Ở Việt Nam, chính sách và pháp luật về BHTN ra đời muộn hơn so với các
chế độ bảo hiểm khác. Đến năm 2006, chế độ bảo hiểm thất nghiệp mới được thể
chế trong Luật bảo hiểm xã hội, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2009. Bước đầu, các
quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng để triển khai và thực hiện BHTN, đảm
bảo đời sống cho NLĐ tham gia BHTN khi bị mất việc làm. Pháp luật về BHTN thể
hiện sự quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc thực hiện chính sách an sinh xã
hội nói chung, chính sách về BHTN nói riêng. Bởi, hiện nay ở khu vực Đông Nam
Á, chỉ có 2 nước đang triển khai được chính sách BHTN là Việt Nam và Thái Lan,
song ở Thái Lan đã không thành công.
Sau gần 5 năm thực hiện, các quy định về BHTN trong Luật bảo hiểm xã hội
năm 2006 được thay thế bằng các quy định mới trong Luật Việc làm, có hiệu lực từ
ngày 1/1/2015. Theo đó, BHTN mang tính chất chủ động trong việc bảo đảm việc
làm, đời sống cho NLĐ tham gia BHTN mà bị mất việc làm nhanh chóng tìm được
việc làm, trở lại thị trường lao động. Tuy nhiên sau gần 2 năm thực hiện theo Luật Việc
làm, pháp luật BHTN cũng bắt đầu thể hiện một số bất cập về đối tượng tham gia, điều
kiện hưởng, chế độ hưởng cũng như mức hưởng, mức phí đóng, thủ tục thực hiện và
cơ sở đào tạo luật học, như: Giáo trình luật an sinh xã hội Việt Nam của Trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2013; Giáo trình bảo hiểm xã hội của Trường Đại học Lao
động - xã hội năm 2011; Giáo trình bảo đảm xã hội của Khoa Từ xa, Đại học Huế…
Sách tham khảo “Pháp luật an sinh xã hội - những vấn đề lý luận và thực tiễn” Nxb
Tư pháp năm 2010 của tác giả Nguyễn Hiền Phương. Theo đó, các công trình này
có đề cập đến một số nội dung liên quan đến BHTN và pháp luật về BHTN.
2
- Bài viết đăng trên tạp chí: Có nhiều bài viết đăng trên các tạp chí chuyên
ngành đề cập đến BHTN và pháp luật về BHTN ở Việt Nam. Đó là: Bài viết: “Một
số vấn đề về bảo hiểm thất nghiệp” của tác giả Trần Thị Thúy Lâm, đăng trên Tạp
chí Luật học, số 3/2004; Bài viết: “Điều kiện, thời gian và mức hưởng chế độ bảo
hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” của TS Lê Thị Hoài Thu, đăng trên Tạp chí Dân chủ
và pháp luật, số 4/2005; Bài viết: “Mấy ý kiến về bảo hiểm thất nghiệp trong Dự
thảo Luật bảo hiểm xã hội” của Trần Thị Thúy Lâm, đăng trên Tạp chí Lao động và
xã hội, số 270 năm 2005; Bài viết: “Những vấn đề cần quan tâm khi xây dựng chính
sách bảo hiểm thất nghiệp” của Trần Thị Diệu Hồng, đăng trên Tạp chí Lao động và
xã hội, số 260 năm 2005; Bài viết: “Thất nghiệp và xây dựng chế độ bảo hiểm thất
nghiệp cho người lao động” của Lê Bạch Hồng, đăng trên Tạp chí Lao động và xã
hội, số 279-280 năm 2006; Bài viết: “Quy định về bảo hiểm thất nghiệp trong công
ước của Tổ chức lao động quốc tế ILO và một số nước trên thế giới” của tác giả Lê
Hoài Thu, đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, năm 2006; Bài viết: “Tham gia
bảo hiểm thất nghiệp có lợi cho cả người lao động và người sử dụng lao động” của
tác giả Đặng Quang Điều đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 355 năm 2009;
Bài viết: “Một số nội dung cơ bản của chính sách bảo hiểm thất nghiệp” của
Nguyễn Minh Hải, đăng trên Tạp chí Lao động và xã hội, số 365 năm 2009; Bài
viết: “Một số vấn đề bất cập trong thi hành pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp” của
tác giả Bùi Đức Hiển đăng trong Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, năm 2011; Bài viết:
“Pháp luật bảo hiểm thất nghiệp sau 3 năm thực hiện ở Việt Nam” của Đỗ Thị Dung
Nhìn chung, các công trình này nghiên cứu các vấn đề pháp luật về BHTN
và thực tiễn thực hiện. Ngoài việc xây dựng hệ thống một số vấn đề lý luận, các
công trình nghiên cứu này, ở các mức độ khác nhau, đã đi sâu phân tích những bất
cập trong quy định của pháp luật BHTN và thực tiễn thực hiện ở Việt Nam, từ đó
đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
BHTN theo quy định trước đây trong Bộ luật lao động năm 1994 (đã được sửa đổi,
bổ sung các năm 2002, 2006, 2007), Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 và các văn bản
hướng dẫn các đạo luật này.
Theo khảo cứu của tác giả, cho đến nay, có một số công trình như bài viết
đăng trên các tạp chí, luận văn và khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về pháp luật
BHTN theo quy định của Luật Việc làm năm 2013. Song, chưa có công trình nào ở
cấp luận văn nghiên cứu về thực tiễn thực hiện pháp luật BHTN trên địa bàn tỉnh
4
Quảng Ninh. Vì thế, có thể khẳng định rằng đây là công trình nghiên cứu mới về
vấn đề pháp luật BHTN theo Luật Việc làm năm 2013 từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh
Quảng Ninh. Tuy nhiên, các vấn đề lý luận về BHTN đã được nhiều công trình
nghiên cứu đề cập đến, vì thế để giúp việc nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện,
đầy đủ hơn về pháp luật BHTN, từ đó có đủ cơ sở lý luận để nghiên cứu thực tiễn
thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về BHTN tại tỉnh Quảng Ninh, thì
trong quá trình nghiên cứu vấn đề lý luận, ở mức độ nhất định, tác giả đã dựa trên
những ý kiến, những đánh giá của các nhà khoa học trong các công trình nghiên cứu
nêu trên.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là tiếp tục làm rõ một số
vấn đề chung về BHTN, đánh giá các quy định của pháp luật về BHTN, thực tiễn
thực hiện BHTN tại tỉnh Quảng Ninh. Qua đó thấy được những điểm đã đạt được và
những điểm còn bất cập để từ đó đưa ra giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định
của pháp luật về BHTN, cũng như thực tiễn thực hiện BHTN tại tỉnh Quảng Ninh nói
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác - Lênin với phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để giải quyết các
vấn đề pháp luật về BHTN ở Việt Nam từ thực tiễn thực hiện tại tỉnh Quảng Ninh.
Đồng thời luận văn cũng dựa trên những quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính
sách BHTN ở Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể. Đó là phương pháp phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
thống kê, dự báo khoa học… Các phương pháp này có thể được sử dụng riêng rẽ, có
thể được sử dụng kết hợp nhằm làm rõ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu mà đề tài
đặt ra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã làm mới hơn khái niệm thất nghiệp, BHTN; luận giải về vai trò,
nguyên tắc của BHTN; khái quát các nội dung pháp luật về BHTN. Đồng thời luận
văn phân tích, đánh giá quy định của pháp luật hiện hành về BHTN, chỉ ra những
tồn tại của các quy định và thực tiễn thực hiện BHTN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Từ đó, luận văn đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật, cũng như nâng cao
hiệu quả thực hiện BHTN ở Việt Nam nói chung, tại tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
6
Với những ý nghĩa khoa học này, tác giả hy vọng luận văn là tài liệu tham khảo
hữu ích đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiện và giải quyết chế độ
BHTN cho NLĐ, cũng như những người nghiên cứu, học tập về pháp luật BHTN. Từ
đó, nhằm đảm bảo hơn quyền, lợi ích của NLĐ khi tham gia BHTN, thực hiện mục
đích an sinh xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề chung về bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật về bảo
để quy định cụ thể về người thất nghiệp. Tại Điều 20 phần IV, Công ước số 102
năm 1952 của ILO về “Quy phạm tối thiểu về an toàn xã hội”, đã đưa ra khái niệm
người thất nghiệp. Theo đó, “Người thất nghiệp là NLĐ không có việc làm, không
làm việc kể cả một giờ trong tuần lễ điều tra đang đi tìm việc làm và có điều kiện là
1
Xem: Lê Thị Hoài Thu, “Chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Luận án
tiến sĩ luật học, Hà Nội, 2004.
2
Xem: Nguyễn Quang Hiển, Thị trường lao động, Nxb Thống kê, Hà Nội, 1995.
8
họ làm ngay”. Nói cách khác, nếu “thất nghiệp” là một hiện tượng xã hội, chỉ trạng
thái chung của những người không có việc làm thì “người thất nghiệp” là khái niệm
dùng để chỉ các cá nhân đang trong tình trạng đi tìm việc làm và đảm bảo một số
tiêu chí khác (như trong độ tuổi lao động, có khả năng làm việc ngay…).
Việc xác định “người thất nghiệp” ở các quốc gia dựa trên các tiêu chí không
giống nhau. Chẳng hạn: Luật Bảo hiểm thất nghiệp của Cộng hòa Liên bang Đức
nêu: “Người thất nghiệp là NLĐ tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực
hiện công việc ngắn hạn”. Theo pháp luật Nga, “những người thất nghiệp được thừa
nhận là những công dân có khả năng lao động, không có việc làm và có thu nhập;
đã đăng kí ở các cơ quan dịch vụ việc làm với mục đích tìm kiếm những công việc
thích hợp, đang đi tìm việc làm và sẵn sàng làm việc. Những công dân chưa đủ 16
tuổi và những người đã về hưu theo độ tuổi thì không được công nhận là những
người thất nghiệp”.3 Tại Mỹ, Đạo luật An sinh xã hội năm 1935 quy định: “Người
thất nghiệp là những người không có việc làm trong tuần điều tra, mặc dù có khả
năng làm việc, mong muốn tìm được việc làm trong vòng bốn tuần đã qua, có liên
hệ với các trung tâm dịch vụ việc làm hoặc trực tiếp với người thuê lao động”.4
không có việc làm; Thứ tư, đang tích cực tìm việc làm. Đây là điều kiện quan trọng để
phân biệt người thất nghiệp và người không có việc làm. Khái niệm “người không có
việc làm bao gồm hai nhóm: 1) Những người không có việc làm nhưng không muốn
làm việc và do đó không tích cực tìm kiếm việc làm; 2) Những người không có việc
làm, đang tích cực tìm kiếm việc làm và sẵn sàng làm việc khi được giới thiệu. Chỉ
những người thuộc nhóm thứ hai này mới được coi là thất nghiệp; Thứ năm, đã đăng kí
thất nghiệp tại Trung tâm giới thiệu việc làm thuộc Sở LĐTBXH khi mất việc làm
hoặc chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.
Như vây, tiêu chí nhằm xác định thế nào là người thất nghiệp của Việt Nam
khá hẹp so với khái niệm mà ILO và một số quốc gia đưa ra. Chỉ được coi là người
thất nghiệp khi họ đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định. Hơn nữa,
việc xác định khái niệm “người thất nghiệp” là vấn đề quan trọng vì liên quan đến
nhiều yếu tố khác, trong đó quan trọng nhất là vấn đề xác định đối tượng và phạm
vi áp dụng của chế độ BHTN. Do đó, để có cách nhìn tổng thể, thống nhất và tạo
thuận lợi cho việc thực hiện, Luật bảo hiểm xã hội năm 2006 của nước ta đã đưa ra
định nghĩa về người thất nghiệp: “Người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm
thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ, hợp đồng làm việc nhưng
chưa tìm được việc làm”. Với định nghĩa này, chúng ta có thể phân biệt rõ người
thất nghiệp với những người không có việc làm nói chung. Định nghĩa trên cũng đã
loại trừ những đối tượng là người đủ tuổi lao động, có sức lao động, chưa có việc
làm và chưa tham gia vào quan hệ lao động ra ngoài phạm vi áp dụng của BHTN.
Theo đó, có ba điều kiện để được coi là người thất nghiệp, bao gồm:
10
- Một là, phải đang đóng BHTN theo quy định pháp luật. Nghĩa là, bị mất
việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ hoặc hợp đồng làm việc, NLĐ phải có một thời gian
đóng BHTN nhất định.
- Hai là, đã bị mất việc làm hoặc bị chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp
đồng làm việc. Đây được hiểu là trường hợp NLĐ đã chấm dứt quan hệ lao động
quốc gia Ba Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc…, BHTN ở Việt Nam chuyển sang quy định
trong Luật Việc làm năm 2013, thay vì quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội như
trước đây.
Từ quan điểm mới này, tại khoản 4 Điều 3 Luật Việc làm năm 2013 đã đưa
ra khái niệm BHTN như sau: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một
phần thu nhập của người lao động khi bị mất việc làm, hỗ trợ người lao động học
nghề, duy trì việc làm, tìm việc làm trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm thất nghiệp”.
Như vậy, khái niệm BHTN này đã thể hiện được là một giải pháp nhằm khắc
phục tình trạng thất nghiệp đối với người tham gia BHTN và góp phần điều tiết sự
chuyển dịch lao động trong nền kinh tế thị trường. BHTN hỗ trợ NLĐ bị mất việc làm
một cách không tự nguyện, giúp ổn định tạm thời cuộc sống, học nghề và tìm kiếm
việc làm mới thông qua việc tạo lập quỹ BHTN do NLĐ, người sử dụng lao động
đóng góp và hỗ trợ từ phía Nhà nước. Quỹ này được sử dụng để trả trợ cấp cho
người thất nghiệp, cũng như tiến hành các biện pháp nhằm nhanh chóng giúp người
thất nghiệp có được việc làm mới.
Từ khái niệm về BHTN như trên, và để phân biệt BHTN với BHXH, có thể
thấy BHTN có một số đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, đối tượng áp dụng BHTN là những người trong độ tuổi lao động,
tham gia quan hệ lao động nhưng bị mất việc làm và tạm thời không có thu nhập.
Đây là điểm khác biệt giữa BHTN so với các chế độ BHXH khác như chế độ ốm
đau, thai sản, hưu trí, tử tuất… Bởi, đối tượng của những chế độ này có thể là
những NLĐ vẫn còn đang tồn tại quan hệ lao động (chế độ trợ cấp ốm đau, thai
sản); hoặc chấm dứt quan hệ lao động do không có khả năng tiếp tục làm việc (hưu
trí, tử tuất). Trong khi đó, BHTN có phạm vi áp dụng hẹp hơn rất nhiều, chỉ áp dụng
cho một loại đối tượng duy nhất đó là NLĐ trong độ tuổi lao động, nhưng chấm dứt
quan hệ lao động do bị mất việc làm.
Thứ hai, BHTN mang tính chất bắt buộc. Tính bắt buộc của BHTN được thể
hiện ở ba vấn đề: chủ thể tham gia, mức đóng và phương thức đóng BHTN. Luật
12
nghiệp, thời gian đóng BHTN trước đó đã được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp
13
hàng tháng của NLĐ không được tính để hưởng trợ cấp thất nghiệp cho lần bị mất
việc làm hoặc chấm dứt HĐLĐ hoặc chấm dứt hợp đồng làm việc tiếp theo. Thời
gian đóng BHTN cho thời gian làm việc tiếp theo được tính lại từ đầu.
1.1.2. Vai trò của bảo hiểm thất nghiệp
Bảo hiểm thất nghiệp có vai trò rất lớn đối với các bên tham gia quan hệ
BHTN, đó là NLĐ, đơn vị sử dụng lao động và đối với sự phát triển kinh tế-xã hội
của đất nước.
- Đối với người lao động
BHTN thực hiện việc chi trả trợ cấp, góp phần ổn định cuộc sống cho NLĐ
thất nghiệp. Có thể nói việc thừa nhận sức lao động là hàng hóa trong nền kinh tế
thị trường một mặt thúc đẩy sự phát triển năng động của thị trường lao động, nhưng
mặt khác cũng tạo ra hậu quả pháp lí là tỉ lệ thất nghiệp gia tăng, giá cả sức lao
động bị hạ thấp do ảnh hưởng của quy luật cung, cầu. Khi rơi vào tình trạng thất
nghiệp, cuộc sống của NLĐ và gia đình họ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, mất nguồn
thu nhập để trang trải cho cuộc sống thường ngày. Trong trường hợp này các khoản
tiền trợ cấp thất nghiệp giữ vai trò cần thiết và quan trọng góp phần bù đắp vào
phần thu nhập bị mất của NLĐ giúp NLĐ và gia đình họ ổn định cuộc sống và hạn
chế những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến đời sống của NLĐ.
Mặt khác, không chỉ dừng lại ở việc bù đắp thu nhập, BHTN còn giúp người
lao động quay trở lại thị trường lao động thông qua các hoạt động hỗ trợ như tìm
kiếm việc làm, đào tạo nghề, nâng cao tay nghề…. Điều này thực sự có ý nghĩa đối
với NLĐ, BHTN không chỉ trao cho NLĐ “con cá” mà còn chu cấp cho họ “cần
câu” để họ tự xây dựng cuộc sống trong tương lai.
- Đối với người sử dụng lao động
Việc thực hiện chế độ BHTN giúp cho NSDLĐ không phải bỏ ra một khoản
chi lớn để giải quyết chế độ cho NLĐ bị mất việc làm. Nhờ vậy, gánh nặng tài
và gia đình. Bởi vậy, khi đã tham gia BHTN, họ được quỹ BHTN chi trả trợ cấp để
bảo đảm đời sống.
Tuy nhiên, do được hạch toán độc lập và hưởng đến duy trì chế độ BHTN
một cách lâu dài và ổn định, nên quỹ BHTN chỉ chi trả cho những người mất việc
làm mà không có trợ cấp khác đảm bảo đời sống. Trường hợp NLĐ mất việc làm
nhưng lại đảm bảo bằng chế độ trợ cấp khác thì không được hưởng trợ cấp BHTN.
Ngoài ra, nếu NLĐ đã hưởng trợ cấp thất nghiệp cho thời gian đóng BHTN nhất
15
định thì thời gian đã hưởng trợ cấp không được tính để trả trợ cấp thất nghiệp lần
sau. Điều đó vừa thể hiện BHTN, bên cạnh nội dung kinh tế còn chứa đựng trong
mình nội dung xã hội và một trong những biểu hiện của nó là nguyên tắc chia sẻ rủi
ro, lấy số đông bù số ít. Do đó, NLĐ đóng góp vào quỹ BHTN không có nghĩa là họ
sẽ được hưởng các chế độ của BHTN mà họ chỉ được hưởng khi bị mất việc làm.
Thứ hai, nguyên tắc mức đóng bảo hiểm thất nghiệp được tính trên cơ sở tiền
lương của người lao động
Thu nhập của NLĐ từ tiền lương là đối tượng của BHTN. Khi tham gia
BHTN mà NLĐ bị mất việc làm thì tổ chức BHXH phải chi trả trợ cấp để thay thế
tiền lương hoặc bù đắp thu nhập bị mất do NLĐ bị mất việc làm. Bởi tiền lương là
thu nhập chính của NLĐ khi tham gia quan hệ lao động, để bảo đảm đời sống của
bản thân NLĐ và gia đình họ. Đây là nguồn thu nhập tương đối ổn định, tương đối
dễ quản lý và trích nộp. Hơn nữa, đối tượng của BHTN chính là thu nhập của NLĐ.
Khi NLĐ mất thu nhập thì họ được hưởng khoản trợ cấp từ quỹ BHTN thay lương
để bảo đảm đời sống hằng ngày.
Vì thế, pháp luật các quốc gia đều quy định nguồn đóng BHTN là từ tiền
lương của NLĐ. Theo đó, dựa trên sự tính toán về thu chi của quỹ, mà mức trích
nộp được ấn định cụ thể. Nếu NLĐ thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do nhà
nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHTN là tiền lương theo ngạch, bậc và các
khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên nếu có. Nếu NLĐ đóng BHTN theo chế độ
BHTN chi trả giữ vai trò quan trọng trong việc bảo đảm đời sống hằng ngày cho
NLĐ và gia đình họ. Chính vì vậy, việc thực hiện BHTN phải đảm bảo đơn giản, dễ
dàng và thuận lợi, để khi thất nghiệp NLĐ nhanh chóng ổn định được cuộc sống.
Nếu không, NLĐ sẽ gặp phải khó khăn khi thực hiện, không thực hiện hoặc thực
hiện không đúng, không đầy đủ các thủ tục mà pháp luật quy định, thậm chí còn dẫn
tới tình trạng NLĐ đủ điều kiện hưởng BHTN nhưng không được hưởng vì những
vướng mắc trong quá trình thực hiện.
Bên cạnh đó, thực hiện nguyên tắc này còn đảm bảo được mục đích đặt ra
khi thực hiện chế độ BHTN, kịp thời giúp đỡ NLĐ vượt qua khó khăn và sớm tái
hòa nhập vào đời sống lao động.
Thứ năm, nguyên tắc quỹ bảo hiểm thất nghiệp được quản lý tập trung, thống
nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm an toàn và được Nhà nước bảo hộ.
Là quỹ tài chính độc lập và nhằm duy trì BHTN một cách ổn định, lâu dài, nên
quỹ BHTN, cũng như các quỹ BHXH khác, được quản lý tập trung, thống nhất do
17