KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP VỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở
VIỆT NAM
3.1. QUAN ĐIỂM VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP VÀ TỔ CHỨC
BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
3.1.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BHTN
Đảng và nhà nước ta luôn chăm lo, coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
mọi người lao động. Chính vì vậy, ngay từ khi thành lập nước, vấn đề giải quyết
việc làm và đảm bảo ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ luôn
luôn được đặt ra. Đặc biệt, sau khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, hiện
tượng thất nghiệp diễn biến phức tạp. Vấn đề ngăn ngừa, hạn chế tình trạng thất
nghiệp khi xác định trách nhiệm của các bên tham gia vào quá trình lao động trong
việc giải quyết hậu quả thất nghiệp đã được đề cập ở nhiều văn bản pháp lý có liên
quan như: Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992); Bộ
luật Lao động (năm 1994) và nhiều văn bản dưới luật có liên quan khác. Nhìn
chung các quy định trong các văn bản pháp luật đã góp phần hình thành một hành
lang pháp lý cho việc thực thi chính sách xã hội đối với người lao động nhằm ngăn
ngừa và hạn chế thất nghiệp xảy ra. Hệ thống các văn bản pháp lý đã quy định:
- Về giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp và hỗ trợ kinh tế cho người lao động bi
thất nghiệp.
- Về xử lý đối với các trường hợp bị mất việc làm sau khi sắp xếp lại DNNN; kể cả
trong trường hợp sắp xếp lại biên chế trong các cơ quan hành chính sự nghiệp.
- Về chế độ điều tra, thống kê và báo cáo tình hình thất nghiệp đối với các cơ quan
chức năng có liên quan,v.v.
Tuy vậy, nếu xem xét một cách tổng thể thì các quy định trên vẫn còn nhiều
mặt hạn chế. Nhiều chủ sử dụng lao động không thực hiện đúng chế độ đối với
người lao động bị mất việc làm, song vẫn không bi xử lý. Mức trợ cấp còn rất thấp
so với những thiệt hại khi người lao động bị thất nghiệp. Hoặc chủ sử dụng lao
1
động đã cố gắng thực hiện, song họ vẫn không đủ điều kiện về mặt tài chính để chi
trả trợ cấp. Mặt khác, việc xét trợ cấp thôi việc hoặc mất việc làm lại quy định chi
trả một lần, cho nên cuộc sống của người lao động bị thất nghiệp vẫn không được
“ở đâu cũng có thất nghiệp, lúc nào cũng có thất nghiệp”. Chính vì thế BHTN đang
là xu hướng tất yếu mà chính phủ nhiều nước kinh tế đang phát triển và chậm phát
triển hướng tới để áp dụng. Nhưng khi áp dụng thì mô hình tổ chức phải đảm bảo
tính thống nhất cả trước mắt và lâu dài. Điều đó cũng có nghĩa là phải đảm bảo tính
xuyên suốt và liên tục của mô hình lựa chọn. Nhiều nước trên thế giới đã coi đây là
một nguyên tắc. Có như vậy, người lao động và người sử dụng lao động mới yên
tâm và tin tưởng tham gia, bởi quãng thời gian tham gia đóng góp để hình thành
quỹ BHTN của một người lao động là khá dài (khoảng 20 đến 30 năm). Chỉ cần
một thay đổi mô hình tổ chức là các bên tham gia nghĩ ngay đến quyền lợi của họ
bị ảnh hưởng. Điều này gây nên tâm lí hoang mang, thiếu tin tưởng vào chính sách,
chế độ BHTN. Từ đó ảnh hưởng đến tâm lí của những thế hệ lao động tiếp theo.
b. Mô hình tổ chức BHTN phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của
nước ta. Đó là các điều kiện cụ thể về số lượng đối tượng tham gia; khả năng đóng
góp để hình thành quỹ BHTN của người lao động và người sử dụng lao động; khả
năng đóng góp và bảo trợ của Nhà nước; trình độ quản lí của đội ngũ cán bộ; cơ sở
hạ tầng kinh tế - xã hội .v.v. Sự phù hợp ở đây còn phải tính cả đến các yếu tố như:
cơ cấu tổ chức bộ máy của Nhà nước, của các ngành, các cấp và các địa phương;
loại hình cũng như nội dung chính sách, chế độ; những kinh nghiệm trước đây khi
tổ chức và triển khai thực hiện các chính sách kinh tế- xã hội khác nhau; kinh
nghiệm xây dựng và hoàn thiện mô hình tổ chức BHTN của các nước trên thế
giới.v.v Ngoài ra con phải tính đến yếu tố hệ lụy của một chính sách mới, chính
3
sách BHTN có quan hệ và ảnh hưởng như thế nào đến các chính sách kinh tế - xã
hội khác.v.v.
c. Mô hình tổ chức BHTN phải đảm bảo kịp thời, đầy đủ các quyền lợi hợp
pháp của người lao động tham gia BHTN. Đó là các quyền lợi về mức trợ cấp thất
nghiệp và thời gian trợ cấp; quyền được đào tạo và đào tạo lại tay nghề; quyền
được hỗ trợ tìm kiếm việc làm mới; quyền được tham gia BHTN.v.v. Tất cả những
quyền này nếu được đáp ứng kịp thời và đầy đủ thì chính sách BHTN ở nước ta,
cho dù là một chính sách hoàn toàn mới sẽ nhanh chóng đi vào cuộc sống. Và
này còn xuất phát từ yêu cầu tổ chức triển khai BHTN để thực hiện các chế độ có
liên quan trên phạm vi toàn quốc. Bao gồm cả việc điều hành hoạt động; đăng ký
thất nghiệp; cấp phát sổ BHTN; giải quyết trợ cấp; lưu trữ hồ sơ.v.v.
Nguyên tắc 2: Phân cấp quản lí phải được thực hiện ngay từ đầu khi mô hình
tổ chức BHTN được xác lập. Theo mô hình tổ chức ngành dọc và quản lí trực
tuyến, cho nên việc phân cấp, phân quyền cần phải được thực hiện ngay từ đầu một
cách rõ ràng để đảm bảo tính độc lập trong quản lí. Tuy nhiên, tính độc lập của
từng cấp vẫn phải đảm bảo nguyên tắc trực thuộc, cấp dười phục tùng cấp trên và
chịu sự chỉ đạo của cấp quản lí trực tiếp. Thực hiện nguyên tắc này, một mặt sẽ
phát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng cấp, mặt khác sẽ đảm bảo sự phối
hợp giữa các cấp, các bộ phận chức năng trong toàn hệ thống hoàn thành tốt các
nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, nó còn khắc phục được tình trạng bao cấp, ỷ nại và
sự lệ thuộc của cấp dười trong quá trình vận hành của tổ chức BHTN.
Nguyên tắc 3: Hệ thống tổ chức BHTN phải gọn nhẹ và hoạt động có hiệu
quả. Đây là nguyên tắc cần phải được hết sức coi trọng, nhất là trong bối cảnh
nước ta hiện nay. Nguyên tắc này xuất phát từ sự đòi hỏi khách quan của bộ máy tổ
chức quản lí Nhà nước của Chính phủ cũng như sự đòi hỏi khách quan của việc
5
giảm chi phí quản lí hành chính cho quỹ BHTN. Nguyên tắc này không nên chỉ
quán triệt khi mới hình thành tổ chức BHTN, mà nó cần phải đượcq uán triệt trong
suốt quá trình vận hành của tổ chức này. Điều đó cũng có nghĩa là sau khi bộ máy
tổ chức BHTN được hình thành vẫn phải tiến hành rà soát, điều chỉnh chức năng
nhiệm vụ của các cấp, các bộ phận để loại bỏ những chức năng, nhiệm vụ còn
chồng chéo, không cần thiết. Sau đó tiến hành kiện toàn bộ máy BHTN cho phù
hợp. Thực hiện tốt nguyên tắc này về lâu dài sẽ tiết kiệm được chi phí quản lí, nâng
cao được mức trợ cấp BHTN cho người lao động, từ đó góp phần đảm bảo cân đối
quỹ BHTN.
Nguyên tắc 4: Tổ chức BHTN phải đáp ứng được cả yêu cầu trước mắt và
lâu dài khi nhu cầu tham gia BHTN ngày càng gia tăng.
Mở rộng đối tượng tham gia BHXH nói chung và BHTN nói riêng luôn là
cấp khi có thâm hụt quỹ BHTN.
Điều kiện hưởng BHTN ở Đức được quy định như sau:
+ Người lao động phải có hợp đồng lao động tối thiểu 12 tháng trong một
giai đoạn xem xét (3 năm cuối trước khi đnag ký thất nghiệp) và đã đóng BHTN
bắt buộc. Đối với người lao động làm việc thường xuyên dưới 12 tháng trong một
năm vì lí do đặc thù của công việc (lao động thời vụ), thì chỉ cần có đủ 6 tháng
làmm việc và đóng BHTN bắt buộc. Người lao động nước ngoài có công việc
thường xuyên có thể được nhận BHTN theo các điều kiện tương tự như người lao
động Đức.
+ Phải đăng ký thất nghiệp, sẵn sàng nhận công việc mới, phải đưa ra bằng
chứng về sự nỗ lực tìm việc làm. Khi đã đăng kí thất nghiệp, phải có trách nhiệm
báo cáo với với cơ quan việc làm nếu được yêu cầu.
7
BHTN được chi trả hàng tháng, theo tỷ lệ 67% hoặc 60% mức lương thực tế
tháng cuối cùng của người lao động trước khi bị thất nghiệp (lương này không bao
gồm các khoản thu nhập và tài sản khác). Cu thể, người thất nghiệp được hưởng
60% lương thực tế (lương sau khi đã trừ đi các khoản đóng góp bắt buộc như thuế
thu nhập, BHXH, BHYT). Trong trường hợp người lao động có ít nhất một trẻ em
phụ thuộc sẽ được nhận mức BHTN là 67% lương thực tế.
Mức hưởng BHTN có sự khác biệt phụ thuộc vào mức lương đóng BHTN.
Tuy vậy, Đức quy định một mức trần đóng BHTN để xác định mức trợ cấp BHTN
tối đa. Mức trần này được đièu chỉnh hàng năm theo mức lương chung. Sau khi
mất việc làm, người thất nghiệp được giải quyết nhận trợ cấp BHTN ngay mà
không có giai đoạn chờ áp dụng. Thời gian hưởng tùy thuộc vào thời gian làm việc
có đóng BHTN trước đó (trong giai đoạn 7 năm trước khi thất nghiệp) và tuổi của
người thất nghiệp. Chẳng hạn: nếu thời gian làm việc có đóng BHTN là 24 tháng
và độ tuổi của người bị thất nghiệp dưới 45 thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp
là 12 tháng. Tương tự nếu thời gian làm việc có đóng BHTN là 36 tháng, nhưng
tuổi của người bị thất nghiệp là 50 thì thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp sẽ là 18
tháng.v.v.
Nguồn quỹ BHTN được hình thành như sau:
+ Người lao động làm thuê không phải đóng góp
+ Người sử dụng lao động: Đóng góp vào chương trình Thuế Liên Bang
0,8% thu nhập chịu thuế (Mức đóng đầy đủ là 6,2% nhưng trong đó 5,4% là khoản
cho nợ nếu các bang đáp ứng yêu cầu của Liên Bang). Đóng góp vào chương trình
của bang: tỷ lệ đóng là 5,4% thu nhập chịu thuế.
9
+ Chính phủ: Nguồn thi từ thuế Liên bang được sử dụng để trang trải chi phí
quản lí chương trình BHTN của Bang, cho các bang vay để chi trả trợ cấp BHTN,
hoặc để tài trợ cho các chương trình trợ cấp mở rộgn. Nguồn thu từ thuế của Bang
được sử dụng để chi trả trợ cấp BHTN
Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN là:
+ Người lao động phải có việc làm được trả công trong một khoảng thời
gian nhất định trước khi thất nghiệp (thời gian “cơ sở”). Ở hầu hết các bang của
Mỹ đều quy định thời gian là 4 trong 5 quý ngay trước khi người lao động xin
hưởng trợ cấp BHTN.
Thất nghiệp không phải do lỗi của người lao động
+ Người lao động phải có khả năng làm việc, sẵn sàng làm việc, đang tích
cực tìm việc làm.
+ Phải là công dân Mỹ hoặc làm việc hợp pháp tại Mỹ.
Người lao động sẽ không đủ điều kiện hưởng trợ cấp nếu tự ý bỏ việc mà
không có lí do chính đáng, bị sa thải vì không tuân thủ quy định làm việc, từ chối
việc làm phù hợp. Người lao động sẽ không được hưởng trợ cấp nếu tham gia vào
các cuộc tranh chấp lao động. Thời gian mất quyền được hưởng các bang quy định
khác nhau và phụ thuộc vào lí do mất quyền hưởng. Khi bị thất nghiệp, người thất
nghiệp cần liên lạc ngay với cơ quan BHTN ở từng bang (liên lạc càng sớm càng
tốt). Ở một só bang, người thất nghiệp có thể điền vào hồ sơ yêu cầu hưởng trợ cấp
thông qua điện thoại hoặc internet. Trong hồ sơ yêu cầu hưởng trợ cấp, người thất
nghiệp phải cung cấp các tài liệu và các thông tin về thẻ ASXH, địa chỉ, số điện
thoại của nơi làm việc và khoảng thời gian làm việc trước khi thất nghiệp, tài liệu
Đối tượng áp dụng bao gồm:
+ Người làm công dưới 65 tuổi
11
+ Với những người làm công trong các cơ sở sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
có sử dụng dưới 5 lao động thường xuyên thuộc diện tham gia BHTn tự nguyện.
+ Không áp dụng với những người lao động theo mùa vụ có thời hạn lao
động là 5 tháng hoặc thấp hơn.
+ Với những người lao động giúp việc nhà hàng ngày, thủy thủ và công chức
Nhà nước có các chương trình BHTN riêng.
Nguồn quỹ BHTN đựợc hình thành do:
+Người được bảo hiểm đóng 0,8% tiền lương. Với người lao động làm việc
trong các cơ sở nông lâm, ngư nghiệp và trong các nhà máy sản xuất rượu sakê, tỷ
lệ đóng là 0,9% tiền lương.
+ Người sử dụng lao động đóng 1,15% quỹ lương. Với các cơ sở nông, lâm
ngư nghiệp và các nhà máy sản xuất rượu sakê, tỷ lệ đóng là 1,25% quỹ lương. Với
công nhân xây dựng là 1,35% quỹ lương.
+ Chính phủ hỗ trợ 25% các khảon chi trợ cấp thất nghiệp và các khaỏn trpj
cấp đặc biệt.
Điều kiện hưởng trợ cấp BHTN là:
+ Người lao động phải có 6 tháng làm việc có đóng bảo hiểm trong 12 tháng
gần nhất. Với người làm việc bán thời gian phải có 1 năm làm việc có đóng bảo
hiểm trong 2 năm gần nhất.
+ Phải đăng ký với “cơ quan đảm bảo việc làm công cộng”, có khả năng làm
việc, sẵn sang làm việc; cứ 4 tuần 1 lần, người thất nghiệp phải báo cáo với cơ
quan đảm bảo việc làm công cộng.
+ Thất nghiệp không phải do tự ý bỏ việc, không chấp hành nội quy làm
việc, từ chối việc làm phù hợp hoặc không tham gia các khóa đào tạo nghề.
Mức trợ cấp BHTN được quy định như sau:
+ mức trợ cấp BHTN từ 50 đến 80% tiênè công nhật trung bình của người
được bảo hiểm trong thời gian 6 tháng trước khi thất nghiệp (với người có tiền
3 người”. Kết quả là mọi người lao động đều có việc làm, không có thất nghiệp
toàn phần. Sau khi thực hiện chính sách cải cách, Trung quốc chủ trương xây dựng
nền kinh tế thị trường XHCN, phát triển kinh tế nhiều thành phần, sắp xếp lại các
doanh nghiệp Nhà nước. Chế độ lao động, việc làm có nhiều thay đổi sâu sắc, thất
nghiệp trở thành vấn đề nổi cộm. Đứng trước tình hình đó, năm 1986, Quốc vụ
viện Trung Quốc đã ban hành “Quy định tạm thời về bảo hiểm chờ việc đối với
công nhân trong doanh nghiệp Nhà nước”. Như vậy, có thể nói tại Trung quốc,
BHTN đã được thực hiện từ năm 1986 nhưng chỉ áp dụng đối với người lao động
trong các doanh nghiệp Nhà nước.
Năm 1993, tại Hội nghị trung ương 3 (khóa 14), Đảng cộng sản Trung quốc
đã thông qua “nghị quyết về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã
hội chủ nghĩa”, trong đó đề cập “Chế độ BHTN”. Trên cơ sở đó, “Điều lệ BHTN
đối với người lao động trong các doanh nghiệp Nhà nước” đã được sửa đổi theo
hướng mở rộng đối tượng. Tháng 1 năm 1999, trên cơ sở tổng kết những kinh
nghiệm BHTN, quốc vụ viện Trung quốc đã ban hành “Điều lệ BHTN” nhằm hoàn
thiện hơn nữa chế độ BHTN. Nội dung cơ bản của Điều lệ như sau:
Đối tượng áp dụng:
+ Tất cả người lao động ở thành thị, bao gồm: người lao động làm việc trong
các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân ở các thành phố, thị trấn, doanh
nghiệp nước ngoài và các doanh nghiệp khác.
+ Nông dân làm hợp đồng trong các doanh nghiệp, cơ quan
+ Người lao động làm việc trong các tổ chức xã hội hoặc các đơn vị do cộng
đồng điều hành.
Nguồn quỹ BHTN do:
+ Các doanh nghiệp ở thành phố và thị trấn đóng 2% quỹ tiền lương, người
lao động đóng 1% tiền lương.
14
+ Nông dân làm việc theo hợp đồng trong các doanh nghiệp không phải
đóng góp.
Để nâng cao khả năng thành toán của BHTN, Trung quốc xây dựng cơ chế
định của trung ương; tổ chức thu các khoản đóng góp và chi trả trợ cấp về BHXH.
Tại trung ương và địa phương, các cơ quan BHXH được thành lập với số cán bộ,
nhân viên lên đến 100000 người trong toàn quốc. Nhiệm vụ chính của cơ quan
BHXH là: Tiếp nhận đăng kí tham gia; tổ chức thu BHXH; hạch toán các khoản
đóng góp; quản lí tài khoản cá nhân của người tham gia; kiểm tra tính phù hợp của
các yêu cầu; chi trả các khoản trợ cấp; quản lí quỹ BHXH.
Tháng 10 năm 2004, Bộ Lao động và bảo đảm xã hội Trung quốc tuyên bố
thành lập chế độ đăng ký thất nghiệp và giám sát thất nghiệp và đưa ra kế hoạch là
các ban, ngành lao động và bảo đảm xã hội 3 cấp trung ương, tỉnh, thành phố chịu
trách nhiệm cung cấp thông tin về tình hình thất nghiệp và số người được lĩnh tiền
BHTN nhằm tham mưu cho Chính phủ có những quyết sách kịp thời. Như vậy, ở
Trung quốc, việc tổ chức BHTN cũng nằm trong hệ thống tổ chức BHXH. Tuy
nhiên, Bộ lao động và bảo đảm xã hội cũng tham gia quản lí.
3.2.1.5. BHTN tại Thái Lan
Tại Thái lan, Luật ASXH ban hành năm 1990 quy định BHXH gồm 7 chế
độ, đó là Chế độ tai nạn hoặc ốm đau; chế độ thai sản; chế độ tàn tật; chế độ trợ
cấp tuất; trợ cấp trẻ em; trợ cấp hưu trí và trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, cho đến
năm 2003, cơ quan ASXH Thái Lan mới thực hiện 6 chế độ BHXH, chưa thực hiện
chế độ trợ cấp thất nghiệp.
Mặc dù cơ quan ASXH đã nghiên cứu khả năng thực hiện chế độ BHTN tại
Thái lan từ năm 1998 với sự trợ giúp kỹ thuật của ILO, cơ quan phát triển quốc tế
Nhật Bản (JICA) và Ngân hàng thế giới, nhưng đến năm 2004, chế độ BHTN mới
16
chính thức được thực hiện. Đối tượng áp dụng là tất cả những người tham gia
BHXH bắt buộc – đó là những người làm công trong độ tuổi từ 15 đến 60. Quỹ
BHTN được hình thành do người lao động đóng 0,5% tiền lương hàng tháng. Tiền
lương tháng tối thiểu cho việc đóng và hưởng trợ cấp là 1.650 bạt (1USD = 38,15
bạt). Tiền lương hàng tháng tối đa cho việc đóng và hưởng trợ cấp là 15000 bạt.
Người sử dụng lao động đóng 0,5% quỹ lương và Chính phủ hỗ trợ 0,25% cho quỹ
BHTN.