MỤC LỤC
TRANG
Danh mục các chữ viết tắt 4
Danh mục bảng/biểu/sơ đồ 5
Phần mở đầu 7
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẤT
NGHIỆP VÀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP
12
1.1. VẤN ĐỀ THẤT NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 12
1.1.1. Khái niệm và phân loại thất nghiệp 12
1.1.2. Nguyên nhân thất nghiệp 18
1.1.3. Hậu quả của thất nghiệp 20
1.1.4. Các chính sách và biện pháp áp dụng nhằm hạn chế và khắc phục
tình trạng thất nghiệp
21
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 26
1.2.1. Những công ước quốc tế về Thất nghiệp và Bảo hiểm thất nghiệp 26
1.2.2. Những nội dung cơ bản của Bảo hiểm thất nghiệp 38
1.3. VẤN ĐỀ TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP 50
1.3.1. Mô hình tổ chức Bảo hiểm thất nghiệp là một nhánh của bảo hiểm
xã hội
51
1.3.2. Mô hình tổ chức cơ quan Bảo hiểm thất nghiệp độc lập 52
1.4. KINH NGHIỆM TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở CÁC
NƯỚC
52
1.4.1. Kinh nghiệm của Cộng hoà Liên bang Đức 55
1.4.2. Kinh nghiệm của Trung quốc 59
1.4.3. Bảo hiểm thất nghiệp tại Thái Lan 63
1.4.4. Đánh giá chung 65
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG THẤT NGHIỆP, NHU CẦU VÀ KHẢ
NAM
111
3.2.1. Đối tượng áp dụng 111
3.2.2. Hình thức triển khai 114
3.2.3. Điều kiện hưởng bảo hiểm thất nghiệp 115
3.2.4. Mức đóng góp bảo hiểm thất nghiệp 118
3.2.5. Mức hưởng và thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp 121
3.2.6. Các nội dung khác có liên quan 123
3.3. MÔ HÌNH TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM 125
3.3.1. Mô hình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp của Việt Nam theo Nghị
định 94/2008/NĐ-CP
126
3.3.2. Mô hình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp độc lập do Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội quản lý
133
3.3.3. Mô hình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp liên kết giữa Bộ Lao động
Thương binh và Xã hội với cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam
134
3.4. KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP TỔ CHỨC BẢO HIỂM THẤT
NGHIỆP Ở VIỆT NAM
137
3.4.1. Kiến nghị 137
3.4.2. Giải pháp tổ chức thực hiện bảo hiểm thất nghiệp 139
KẾT LUẬN
143
2
DANH MôC tµi liÖu tham kh¶o 144
Phô lôc
Danh môc c¸c ch÷ viÕt t¾t
- BHXH: Bảo hiểm xã hội
71
Bảng 2.7 Tình hình thất nghiệp trong độ tuổi ở Việt Nam (2003-2007) 72
Bảng 2.8 Thất nghiệp trong độ tuổi ở Việt Nam phân theo khu vực
thành thị và nông thôn (2003-2007)
73
Bảng 2.9 Thất nghiệp trong độ tuổi ở Việt Nam phân theo giới tính
(2003-2007)
74
4
Bảng 2.10 Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi ở thành thị và tỷ lệ sử dụng
thời gian lao động ở khu vực nông thôn theo vùng kinh tế
(Giai đoạn 2003-2007)
75
Bảng 2.11 Tình hình lao động thiếu việc làm ở nước ta năm 2007 76
Bảng 2.12 Tình hình thất nghiệp phân theo độ tuổi (2005 và 2007) 77
Bảng 2.13 Kết quả điều tra tình hình thất nghiệp theo độ tuổi do Nhóm
nghiên cứu đề tài thực hiện
78
Bảng 2.14 Kết quả điều tra về thời gian thất nghiệp do Nhóm nghiên
cứu đề tài thực hiện
78
Bảng 2.15 Kết quả điều tra về nguyên nhân thất nghiệp do Nhóm
nghiên cứu đề tài thực hiện
79
Bảng 2.16 Tình hình thất nghiệp ở khu vực thành thị phân theo trình độ
học vấn năm 2006
80
Bảng 2.17 Tình hình thất nghiệp ở thành thị phân theo trình độ chuyên
môn kỹ thuật năm 2006
81
ở các mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào tỷ lệ thất nghiệp cao hay thấp. ở nước ta,
tình hình thất nghiệp diễn biến phức tạp. Ngay trong những năm đầu chuyển sang
nền kinh tế thị trường, mặc dù nhà nước, các địa phương và các doanh nghiệp đã
có nhiều biện pháp khắc phục và giải quyết quyết tình trạng thất nghiệp, như: Xúc
tiến tìm kiếm việc làm; Hợp tác xuất khẩu lao động; Trợ cấp thôi việc và mất việc
làm.v.v… song thất nghiệp vẫn luôn là là một vấn đề xã hội nan giải. Thực chất,
các biện pháp khắc phục và giải quyết tình trạng thất nghiệp đã và đang được áp
dụng nói trên chỉ là những biện pháp “tình thế”. Nhận thức rõ vấn đề này, cũng
như thấy rõ kinh nghiệm của các nước khi giải quyết tình trạng thất nghiệp và hậu
quả của nó là phải triển khai “bảo hiểm thất nghiệp”, cho nên ngày 29 tháng 6 năm
2006 Quốc Hội nước ta đã thông qua Luật bảo hiểm xã hội và trong đó quy định
bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 năm 2009 phải triển khai bảo hiểm thất nghiệp.
Tuy nhiên, bảo hiểm thất nghiệp là một vấn đề hoàn toàn mới mẻ đối với
nước ta và chưa có tiền lệ. Mặc dù đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về
vấn đề này, nhưng mới chỉ là bước đầu và chưa lý giải thật rõ được những nội dung
của bảo hiểm thất nghiệp như: Mức đóng góp của bên tham gia, điều kiện hưởng,
mức hưởng trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề, hỗ trợ tìm kiếm việc làm.v.v.. và
đặc biệt là công tác tổ chức BHTN ở nước ta như thế nào cho phù hợp vẫn chưa có
một công trình nghiên cứu nào đề cập đến.
Chính vì những lý do đó, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu đề tài: “ Tổ
chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” trong điều kiện hiện nay có ý nghĩa thiết
6
thực. Đề tài thực hiện thành công sẽ góp phần giúp ngành lao động và thương binh
xã hội; ngành Bảo hiểm xã hội nước ta nhanh chóng tổ chức triển khai và đưa Luật
bảo hiểm xã hội vào cuộc sống. Đồng thời, nội dung của đề sẽ là những căn cứ lý
luận và thực tiễn giúp cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan quản lí sự nghiệp về
bảo hiểm xã hội nói chung và bảo hiểm thất nghiệp nói riêng xây dung, hoàn thiện
và tổ chức triển khai chính sách bảo hiểm thất nghiệp sát thực và có hiệu quả.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài.
a, Tình hình nghiên cứu ngoài nước.
b, Tình hình nghiên cứu trong nước.
Ngay sau khi nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế thị trường, hiện tượng
thất nghiệp đã bắt đầu xuất hiện và tình trạng thất nghiệp có xu hướng ngày càng
gia tăng, kể cả ở khu vực nông thôn và thành thị. Chính vì vậy, Bảo hiểm thất
nghiệp và trợ cấp thất nghiệp đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa
học và nhiều nhà quản lý.
Năm 1993, trong cuốn “ Một số vấn đề về chính sách bảo hiểm xã hội ở
nước ta hiện nay” do Nhà xuất bản lao động phát hành, tác giả Nguyễn Văn Phần
đã có một bài viết với tiêu đề: “Một số ý kiến về trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu
trí”. Nội dung bài viết mới chỉ đề cập đến khái niệm về trợ cấp thất nghiệp và sự
cần thiết phải có trợ cấp thất nghiệp cho người lao động trong cơ chế thị trường .
Năm 2000, TS.Nguyễn Văn Định và các cộng sự của bộ môn Kinh Tế Bảo
hiểm - Trường Đaị học Kinh Tế Quốc Dân thực hiện một đề tài khoa học cấp bộ,
mã số B2000 - 38- 62 : “Tổ chức bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện
kinh tế thị trường”. Tuy nhiên, do thời gian và kinh phí có hạn và khi đó luật Bảo
hiểm xã hội chưa ra đời cho nên nội dung của đề tài này mới chỉ dừng lại ở một số
nội dung chủ yếu mang tính định tính như: Sự cần thiết khách quan phải triển khai
8
Bảo hiểm thất nghiệp, phân tích thực trạng thất nghiệp và nêu lên một số quan
điểm chung khi tổ chức triển khai Bảo hiểm thất nghiệp ở nước ta .
Trong cuốn sách “ Bảo hiểm xã hội - những điều cần biết ” do Nhà xuất bản
thống kê phát hành năm 2001, PGS.TS Nguyễn Văn Kỷ đã có một bài viết : “Luật
bảo hiểm xã hội và vấn đề bảo hiểm thất nghiệp”. Nội dung bài viết chỉ tập trung
vào một khía cạnh nhỏ là: Khi xây dựng luật Bảo hiểm xã hội ở nước ta có nên hay
không nên đề cập đến vấn đề bảo hiểm thất nghiệp. Năm 2003, tại buổi hội thảo
khoa học “Hoàn thiện chính sách tài chính đảm bảo an ninh xã hội” do Bộ tài chính
tổ chức, TS. Đặng Anh Duệ đã có bài báo tham luận : “ Để xây dựng và thực hiện
chế độ bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam”. Bài báo này mới chủ yếu tập trung nêu
lên sự cần thiết phải có chế độ bảo hiểm thất nghiệp trong hệ thống các chế độ bảo
hiểm xã hội ở Việt Nam và điều kiện về mặt tài chính để xây dựng và thực hiện
nghiệp, lựa chọn mô hình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp.
- Xử lý kết quả điều tra trên máy tính để xác định thực trạng, nhu cầu, khả
năng tham gia bảo hiểm thất nghiệp xác định mô hình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp
ở Việt Nam.
- Báo cáo chuyên đề và xin ý kiến các chuyên gia.
5. Phạm vi nghiên cứu
Do thời gian và kinh phí nghiên cứu có hạn, mặt khác đối tượng tham gia
baỏ hiểm thất nghiệp chỉ là những người làm công ăn lương tập trung ở khu vực
thành thị, nên việc nghiên cứu đề tài chỉ giới hạn ở phạm vi sau:
- Điều tra, khảo sát ở Thủ đô Hà Nội - một thành phố lớn có tỷ lệ thất nghiệp
cao. Dự kiến đề tài sẽ khảo sát một số doanh nghiệp đại diện tại Hà Nội.
- Xin ý kiến một số chuyên gia thuộc các ngành Lao động và thương binh
xã hội, tài chính, Bảo hiểm xã hội.
10
- Đề tài dự kiến làm rõ những nội dung Bảo hiểm thất nghiệp khi triển khai
ở nước ta và mô hình tổ chức bảo hiểm thất nghiệp. Sau đó nêu lên những quan
điểm và đưa ra những kiến nghị cũng như những giải pháp về tổ chức BHTN ở
nước ta.
6. Địa chỉ ứng dụng của đề tài
- Bộ lao động và thương binh xã hội
- Bảo hiểm xã hội Việt Nam
- Các Trường Đại học khối kinh tế – Xã hội Việt Nam
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài
gồm có ba chương:
- Chương I: Những vấn đề lý luận chung về thất nghiệp và bảo hiểm thất
nghiệp
- Chương II: Thực trạng thất nghiệp và tổ chức BHTN ở Việt Nam
- Chương III: Kiến nghị và giải pháp về tổ chức BHTN ở Việt Nam
11
này bao gồm: Đăng ký tìm việc tại các trung tâm giới thiệu việc làm của Nhà nước
hay của tư nhân; nộp đơn xin việc trực tiếp cho các chủ sử dụng lao động; tìm kiếm
việc làm tại các công trường, nông trang, cổng nhà máy…; tìm kiếm và trả lời các
quảng cáo việc làm trên báo chí; nhờ bạn bè, người thân giúp tìm việc làm; tìm địa
điểm, máy móc, thiết bị, thu xếp các nguồn tài chính, xin giấy phép… chuẩn bị cho
việc tự kinh doanh.” Như vậy những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao
động nhưng đang đi học, đang thực hiện các nghĩa vụ với Nhà nước, đang làm
công việc nội trợ hoặc không có nhu cầu làm việc đều không được coi là người thất
nghiệp.
Từ các đặc trưng trên có thể thấy “người thất nghiệp” có thể thuộc một trong
các dạng sau:
+ Những người mới đến tuổi lao động, học sinh, sinh viên mới tốt
nghiệp hoặc thôi học, bỏ học chưa tìm được việc làm.
+ Bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong hoàn thành nghĩa vụ quân sự
chưa có việc làm.
+ Số đối tượng xã hội sau thời gian quản giáo, chữa trị bệnh đang có
nhu cầu làm việc.
+ Những người đã từng có việc làm nhưng hiện tại không có việc làm
do hết hạn hợp đồng lao đồng, do bị buộc thôi việc, do ngừng sản xuất …
+ Những người phải nghỉ việc tạm thời không có thu nhập do tính mùa
vụ của sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp.
Khái niệm “người thất nghiệp” có liên quan chặt chẽ với khái niệm “người
có việc làm”. Với quan niệm: “Mọi hoạt động lao động tạo ra các sản phẩm vật
chất và dịch vụ, tạo ra thu nhâp không bị pháp luật ngăn cấm đều được thừa nhận
13
là việc làm” thì những người có việc làm là những người đang làm việc trong các
ngành kinh tế quốc dân. Người có việc làm bao gồm:
+ Những người đang làm công việc để nhận tiền lương, tiền công dưới
hình thức bằng tiền hoặc bằng hiện vật;
+ Những người làm những công việc để thu lợi nhuận cho bản thân hoặc
Trong điều kiện kinh tế thị trường, thất nghiệp là một trong những vấn đề
nan giải và khó giải quyết đối với Chính phủ các nước. Do nhiều nguyên nhân
khác nhau mà thất nghiệp có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào, cho dù đó là nước
đang phát triển hay nước công nghiệp phát triển. Theo Tổ chức Lao động quốc tế,
tỷ lệ thất nghiệp của thế giới và các khu vực giai đoạn 1996-2006 được thể hiện ở
bảng 1.1.
Bảng 1.1: Tỷ lệ thất nghiệp của thế giới và các khu vực (1996-2006)
(Đơn
vị: %)
Khu vực 1996 2002 2003 2004 2005 2006
Các nước phát triển và các nước
thuộc Cộng đồng chung châu Âu
7,8 7,3 7,4 7,2 6,9 6,4
Các nước Trung và Đông Nam
châu Âu (không thuộc EU)
9,8 9,8 9,4 9,3 9,0 8,8
Khu vực Đông Á 3,8 3,9 3,8 3,7 3,7 3,6
Khu vực Đông Nam Á và Thái
Bình Dương
3,7 6,1 6,2 6,4 6,1 6,2
Khu vực Nam Á 4,6 5,1 4,8 5,4 5,3 5,1
Khu vực châu Mỹ Latinh và Caribê 7,9 8,8 8,7 8,3 8,4 8,6
Khu vực Bắc Phi 14,0 13,7 13,4 12,5 11,6 11,5
Khu vực Tiểu sa mạc Sahara Châu 9,2 10,2 10,1 9,7 9,7 9,7
15
Phi
Khu vực Trung Đông 12,4 13,0 12,4 11,7 12,2 12,1
Toàn thế giới 6,2 6,6 6,5 6,5 6,4 6,3
(Nguồn: Tổ chức Lao động quốc tế, “Key Indicators of the Labour Market”).
Bảng 1.1 cho thấy Trung Đông, Bắc Phi, Tiểu sa mạc Sahara, các quốc gia
Mỹ 5,4 4,9 4,5 4,2 4,0 4,8 5,8 6,0 5,5 5,1 4,6
Pháp
12,0
6
12,2
6
11,
8
11,7
4
10,
0 8,8 8,9 9,8 9,9 9,8 -
Đức
8,8 9,8 9,7 8,8 7,9 7,9 8,7
10,
0
11,
0
11,
1
10,
3
Ba Lan
12,3 11,2
10,
5 13,9
16,
1
18,
2
10,
2
10,
9
7,4 7,3
Thái Lan 1,1 0,9 3,4 3,0 2,4 2,6 1,8 1,5 1,5 1,4 1,2
Ghi chú: “-”: Không có số liệu.
(Nguồn: )
Bảng 1.2 cho thấy trong các nước phát triển, Ba Lan, Nga, Pháp, Đức là
những nước có tỷ lệ thất nghiệp khá cao. Thất nghiệp là vấn đề của tất cả các quốc
gia trên thế giới. Các nước đang phát triển thường có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn các
nước phát triển. Nhưng theo ILO, điều này không phải bao giờ cũng đúng. Lý do là
ở chỗ, tại các nước đang phát triển, người lao động thường có xu hướng chấp nhận
mọi việc làm - ngay cả khi công việc đó có điều kiện làm việc không đảm bảo. Do
đó, theo ILO, vấn đề ở các nước đang phát triển đôi khi không phải là có quá nhiều
người thất nghiệp mà là điều kiện làm việc không đảm bảo.
1.1.1.2 Phân loại thất nghiệp
Tùy theo mục đích nghiên cứu và việc lựa chọn tiêu thức phân loại, có nhiều
hình thái thất nghiệp khác nhau:
a. Căn cứ vào tính chất thất nghiệp: Thất nghiệp được phân thành các loại:
- Thất nghiệp tự nhiên: Loại thất nghiệp này xảy ra do quy luật Cung cầu của
thị trường sức lao động tác động. Tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên là tỷ lệ thất nghiệp
thấp nhất mà một nền kinh tế có thể đạt được. Tỷ lệ này xảy ra khi mức GNP thực
tế đạt được mức GNP tiềm năng. Nói một cách khác, khi GNP thực tế thấp hơn
GNP tiềm năng, sẽ có một bộ phận người lao động thất nghiệp.
- Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi mất cân đối giữa Cung và cầu về các loại
lao động. Cụ thể cầu về loại lao động này tăng lên, cầu về loại lao động khác giảm
đi, cung điều chỉnh không kịp cầu. Trong nền kinh tế thị trường, sẽ có những
17
ngành kinh tế phát triển thu hút thêm lao động, nhưng cũng có những ngành bị thu
- Thất nghiệp bán phần: Là trường hợp người lao động vẫn có việc làm,
nhưng khối lượng công việc ít hoặc thời gian lao động thực tế trung bình chỉ đạt 3
đến 4 giờ trong một ngày làm việc và họ vẫn có nhu cầu làm thêm.
1.1.2 Nguyên nhân thất nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều nguyên nhân gây ra thất nghiệp,
dưới đây là một số nguyên nhân chính:
- Do sự điều tiết của thị trường, chu kỳ kinh doanh có thể mở rộng hay thu
hẹp: Khi mở rộng thì thu hút thêm lao động, khi bị thu hẹp thì lại dư thừa lao động,
từ đó làm cho cung cầu trên thị trường sức lao động thay đổi, làm phát sinh hiện
tượng thất nghiệp.
- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ
thuật, đặc biệt là sự tự động hóa các quá trình sản xuất nên trong một chừng mực
nhất định máy móc đã thay thế con người, làm số người thất nghiệp tăng lên.
- Do sự gia tăng dân số và nguồn lao động, cùng với quá trình quốc tế hóa và
toàn cầu hóa nền kinh tế: Nguyên nhân này chủ yếu diễn ra ở các nước đang phát
triển. Ở những nước này, dân số và nguồn lao động thường tăng nhanh. Để hội
nhập với nền kinh tế thế giới một cách nhanh chóng, các nước đang phát triển phải
tiến hành cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới và sắp xếp lại các doanh nghiệp. Những
doanh nghiệp làm ăn thua lỗ phải giải thể và phá sản, số doanh nghiệp còn lại phải
nhanh chóng đầu tư theo chiều sâu, đổi mới thiết bị và công nghệ, sử dụng ít lao
động dẫn đến lao động dư thừa.
- Do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm
việc: Những người này phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới, và trong thời gian
chưa tìm được việc làm phù hợp, họ trở thành thất nghiệp.
19
- Do tính chất mùa vụ của sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp nên
những người lao động trong các ngành nghề này không có việc làm thường xuyên
và trở thành thất nghiệp mùa vụ.
- Do nhu cầu của sản xuất hoặc của bản thân người lao động cần được
chuyển việc (bao gồm cả việc chuyển đến nơi làm việc mới). Trong thời gian chờ
đang phát triển không mạnh dạn đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất.
- Đối với xã hội: Thất nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nên
những hiện tượng tiêu cực, đẩy người thất nghiệp đến chỗ bất chấp kỷ cương, luật
pháp và đạo đức để tìm kế sinh nhai như trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, tiêm chích ma
túy…
Thất nghiệp gia tăng còn làm cho tình hình chính trị, xã hội bất ổn, hiện
tượng bãi công, biểu tình có thể xảy ra; người lao động giảm niềm tin vào chế độ
và khả năng lãnh đạo của người cầm quyền.
1.1.4 Các chính sách và biện pháp áp dụng nhằm hạn chế và khắc phục
tình trạng thất nghiệp
Như phần trên vừa đề cập, thất nghiệp có những ảnh hưởng sâu rộng, không
chỉ đối với cá nhân người thất nghiệp, mà còn đối với nền kinh tế và tòan xã hội.
Do vậy, chính phủ các nước luôn nghiên cứu tìm ra các chính sách và biện pháp
nhằm hạn chế và giải quyết tình trạng thất nghiệp. Các chính sách và biện pháp này
có thể phân thành 2 nhóm: Các chính sách và biện pháp hạn chế tình trạng thất
nghiệp; các chính sách và biện pháp khắc phục hậu quả tình trạng thất nghiệp.
21
1.1.4.1 Các chính sách và biện pháp chủ yếu hạn chế tình trạng thất
nghiệp
a. Chính sách dân số
Đây là chính sách mang tính chiến lược lâu dài. Chính sách này không chỉ
góp phần làm giảm thất nghiệp mà còn tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế -
xã hội. Hạ thấp được tỷ lệ tăng dân số cũng có nghĩa là giảm được tỷ lệ tăng lực
lượng lao động, từ đó tạo thêm cơ hội tìm kiếm việc làm. Chính sách này đã và
đang được áp dụng ở nhiều nước như Ấn độ, Trung quốc, Inđônêsia và Việt Nam.
Thực hiện chính sách dân số cũng có nghĩa là thực hiện các chương trình kế hoạch
hóa gia đình, cải thiện sức khỏe, dinh dưỡng, giáo dục và tạo cơ hội cho phụ nữ
giảm tỷ lệ sinh đẻ để từ đó giảm được tỷ lệ tăng dân số và nguồn lao động. Theo
nhà kinh tế học E. Wayne Nafziger, nếu làm tốt chính sách dân số ở các nước đang
phát triển thì sau 15 đến 20 năm, lực lượng lao động sẽ giảm đi rõ rệt và tình trạng
tư cho nền kinh tế bằng cách “bơm tiền” một cách trực tiếp để xây dựng thêm
những vùng kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình công cộng để tạo
thêm việc làm cho người lao động và thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội
khác. Tuy vậy, nếu số chi lớn hơn số thu từ thuế của chính phủ thì lạm phát sẽ rất
dễ xảy ra.
1.1.4.2 Các chính sách và biện pháp khắc phục hậu quả tình trạng thất
nghiệp
Khi bị thất nghiệp người lao động mất luôn nguồn thu nhập từ hoạt động
nghề nghiệp, do vậy cuộc sống sẽ rơi vào khó khăn, không có nguồn tài chính để
trang trải các chi phí. Nhằm ổn định cuộc sống, người lao động cần nhận được
23
những khỏan hỗ trợ nhất định thay thế cho thu nhập đã bị mất đi. Khỏan hỗ trợ này
được gọi chung là “trợ cấp thất nghiệp”. Trợ cấp thất nghiệp được thực hiện dưới
nhiều dạng: Hỗ trợ của chủ sử dụng lao động cho người lao động bị thôi việc, mất
việc (trợ cấp thôi việc, mất việc làm); Hỗ trợ của Nhà nước cho người thất nghiệp
(trợ giúp thất nghiệp hay cứu trợ thất nghiệp); hoặc khỏan thanh toán của quỹ bảo
hiểm thất nghiệp (BHTN) cho người lao động tham gia BHTN khi mất việc làm.
a. Trợ cấp thôi việc, mất việc làm
Đây là biện pháp “tình thế” mà các doanh nghiệp thường áp dụng nhằm giải
quyết khó khăn, ổn định cuộc sống khi người lao động trong doanh nghiệp phải
thôi việc hoặc mất việc làm do doanh nghiệp giải thể, bị phá sản… Khỏan tiền trợ
cấp mà người lao động nhận được do phải thôi việc là do họ đã có một quá trình
đóng góp để tạo nên phúc lợi cho doanh nghiệp - thực chất là phần lợi nhuận mà
trước đây người lao động đã tham gia tạo nên. Mức trợ cấp thôi việc, mất việc làm
được trả thường phụ thuộc vào thời gian làm việc cho doanh nghiệp trước khi
người lao động thôi việc, mất việc làm. Tuy nhiên, biện pháp này có nhược điểm
cơ bản là khi doanh nghiệp có nhiều người thôi việc, mất việc, cũng là lúc doanh
nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh; lúc này, doanh nghiệp lại phải chi
ra một khỏan tiền lớn để trả trợ cấp thôi việc, mất việc nên sẽ rất bị động về tài
chính, nhiều doanh nghiệp thậm chí không có khả năng chi trả.
sẽ được nhận trợ cấp BHTN do cơ quan BHXH chi trả. Mức trợ cấp bao giờ cũng
thấp hơn tiền lương, tiền công lúc đang công tác và thường phụ thuộc vào thời gian
làm việc có đóng BHTN, tỷ lệ thất nghiệp trong từng thời kỳ, khả năng chi trả của
quỹ BHXH. Thời gian hưởng trợ cấp thường được giới hạn phù hợp với thời gian
người thất nghiệp có thể tìm kiếm việc làm mới.
25