Bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam” - Pdf 15

Lời mở đầu
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, lao động luôn được coi là
vấn đề cơ bản nhất, chính đáng nhất của con người. Kinh tế Việt Nam vẫn đang
trong quá trình hội nhập và phát triển với kinh tế thế giới,chuyển đổi dần từ nền
kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy
mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là một
điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Để đạt được tốc độ
tăng trưởng cao thì cần chất lượng cuocj sống của người dân phải được nâng cao
và được cải thiện. Phát triển kinh tế bền vững là đích hướng tới của mọi quốc gia
trên thế giới hiện nay, dù các quốc gia đó theo những thể chế xã hội khác nhau.
Nhưng để phát triển bền vững được, các quốc gia cần phải xây dựng cho mình một
hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, một nền tảng kinh tế vững chắc, và điều quan
trọng đó là đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao. Bên cạnh đó, dù đất
nước có phát triển và tăng trưởng mạnh đến đâu thì tỷ lệ thất nghiệp không bao giờ
bị biến mất. Nhất là vào đợt khủng hoảng kinh tế, gây ảnh hưởng rất lớn đến công
việc của người lao động, luôn xảy ra tình trạng nguồn lao động lớn hơn số việc
làm. Chính phủ đã kịp thời đưa ra những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy
giảm kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, đảm bảo thu nhập cho người lao động.
Chính vì những lí do trên chúng em thực hiện nghiên cứu chuyên đề : “Bảo hiểm
thất nghiệp ở Việt Nam”.
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương I : Lý thuyết về bảo hiểm và bảo hiểm thất nghiệp
Chương II : Thực trạng về bảo hiểm thất nghiệp tại Việt nam.
Chương III: Một số giải pháp về bảo hiểm thất nghiệp tại Việt nam.
Chúng em xin chân thành cảm ơn những góp ý và bổ sung của thầy cô giáo và các
bạn để chuyên đề của chúng em được hoàn thiện
1
Nội dung
I.Khái luận chung về bảo hiểm:
3.Loại hình bảo hiểm:
3.1 Bảo hiểm thương mại:

- Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây:
a) Hưu trí;
b) Tử tuất.
3.3 Bảo hiểm y tế :
Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức
khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối
tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này.
Bảo hiểm y tế toàn dân là việc các đối tượng quy định trong Luật này đều tham gia
bảo hiểm y tế.
3.4 Bảo hiểm thất nghiệp : ( Làm rõ ở phần sau )
II. Bảo hiểm thất nghiệp :
3
1.Thất nghiệp và phân loại thất nghiệp
1.1 khái niệm về thất nghiệp
Đã có nhiều khái niệm về thất nghiệp, song định nghĩa thất nghiệp của ILO
được nhiều nhà kinh tế và nhiều nước tán thành. Theo định nghĩa của tổ chức này
thì: Thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn
làm việc nhưng không thể tìm được viêc làm ở mức lương thịnh hành.
Người thất nghiệp có thể là công nhân trong các doanh nghiệp, có thể là học
sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp đã tốt nghiệp ra trường hoặc là bộ đội
xuất ngũ. Những người ngoài độ tuổi lao động hoặc trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động nhưng không lao động; không có nhu cầu làm việc thì không được
coi là người thất nghiệp.
1.2 Phân loại thất nghiệp
Có nhiều hình thái thất nghiệp khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên cứu và
việc lựa chon tiêu thức phân loại.
a) Căn cứ vào tính chất thất nghiệp, người ta phân ra các loại sau:
- Thất nghiệp tự nhiên: Loại này xảy ra do quy luật cung cầu của thị
trường sức lao động tác động.
- Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi mất cân đối giữa cung và cầu về các loại lao động.

1.3.1 Nguyên nhân
Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều nguyên nhân gay ra thất nghiệp và
kèm theo là những tác động xấu đến sự phát triển kinh tế xã hội và sự ổn định của
đất nước. Dưới đây là một số nguyên nhân chính
5
- Chu kỳ kinh doanh: Khi mở rộng thì thu hút thêm lao động, nhưng khi thu hẹp thì
lại dư thừa lao động, từ đó làm cho cung và cầu trên thị trường sức lao động co
giãn, thay đổi phát sinh hiện tượng thất nghiệp.
- Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật: Với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, các nhà
sản xuất luôn tìm cách mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ, đưa những dây
chuyền tự động hoá vào quá trình sản xuất nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ
giá thành sản phẩm để cạnh tranh. Một cỗ máy, một dây chuyền sản xuất tự động
hoá có thể thay thế hàng chục, thậm chí hàng trăm công nhân. Số công nhân bị
máy móc thay thế lại tiếp tục đựơc bổ sung vào đội quân thất nghiệp.
- Sự gia tăng dân số và nguồn lao động cùng với quá trình quốc tế hoá và toàn cầu
hoá nền kinh tế cũng có những mặt tác động tiêu cực đền thị trường lao động.
- Do người lao động không ưa thích công việc đang làm hoặc địa điểm làm việc,
họ phải đi tìm công việc mới, địa điểm mới.
1.3.2 Hậu quả
- Đối với nền kinh tế: Thất nghiệp là một sự lãng phí nguồn lực xã hội, là một
trong những nguyên nhân cơ bản làm cho nền kinh tế bị đình đốn, chậm phát triển,
làm khả năng sản xuất thực tế kém hơn tiềm năng. Nếu tình trạng thất nghiệp gia
tăng sẽ kéo theo sự gia tăng của lạm phát, từ đó làm cho nền kinh tế bị suy thoái;
khả năng phục hồi chậm. Đối với người thất nghiệp, thu nhập bị mất đi dẫn đến đời
sống khó khăn…
- Đối với xã hội: Thất nghiệp làm cho người lao động hoang mang, buồn chán và
thất vọng, tinh thần luôn bị căng thẳng và dẫn tới khủng hoảng niềm tin. Về khía
cạnh xã hội, thất nghiệp là một trong những nguyên nhân gây nên những hiện
tượng tiêu cực, đẩy người thất nghiệp đến chỗ bất chấp kỷ cương, luật pháp và đạo
đức để tìm kế sinh nhai như: trộm cắp, cờ bạc, mại dâm, tiêm chích ma tuý…


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status